Khoản trợ cấp mất việc cho người lao động có được tính vào chi phí được khấu trừ không



Những người lao động mất việc làm do doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, hoặc do lý do kinh tế thì người sử dụng lao động phải trả cho người lao động khoản trợ cấp mất việc làm. Vậy những trường hợp nào được hưởng khoản trợ cấp mất việc làm và mức hưởng khoản trợ cấp như thế nào? Khoản trợ cấp mất việc làm cho người lao động có được tính vào chi phí được trừ không?

1.Các đối tượng được hưởng trợ cấp mất việc làm.
Theo Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 tại Điều 44, Điều 45 quy định các trường hợp phải trả trợ cấp mất việc làm như sau:
– Nếu doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động và người người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc.
– Nếu vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc và người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc.
– Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã mà người sử dụng lao động không sử dụng hết số lao động hiện có và người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc.
2.Mức hưởng trợ cấp mất việc làm.
Theo Bộ Luật Lao Động số 10/2012/QH13 tại Điều 49 quy định về trợ cấp mất việc làm như sau:
– Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.
– Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.
– Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.
Ví dụ 1: Người lao động làm việc tại doanh nghiệp được 14 tháng và doanh nghiệp chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
Trợ cấp mất việc làm mà người lao động được hưởng là: 2 tháng tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 6 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.
Ví dụ 2: Người lao động làm việc tại doanh nghiệp được 5 năm trong đó thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp là 3 năm.
Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là: 5 – 3 = 2 năm.
Tiền trợ cấp mất việc làm mà người lao động được hưởng là 2 tháng tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 6 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.
3.Khoản trợ cấp mất việc làm cho người lao động có được tính vào chi phí được trừ không?
Thông tư 96/2015/TT-BTC tại Điều 4, Khoản 2, Điểm 2.12 sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC quy định về các khoản chi không được tính vào chi phí được trừ như sau:
“2.12. Khoản chi trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động không theo đúng quy định hiện hành.”
Căn cứ theo quy định trên:
– Doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ nếu doanh nghiệp chi trả trợ cấp mất việc làm theo đúng quy định về mức hưởng trợ cấp mất việc làm.

– Doanh nghiệp chi trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động không theo quy định về mức hưởng trợ cấp mất việc làm thì doanh nghiệp không được tính vào chi phí được trừ đối với khoản chi đó.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Quy định pháp luật mới về thuế giá trị gia tăng áp dụng từ 01/07/2016



Quy định pháp luật mới về thuế giá trị gia tăng áp dụng từ 01/07/2016
Thực hiện chủ trương của Đảng về tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý cũng như cải cách hành chính để tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh phát triển, trong thời gian qua, nhiều quy định pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung. Trong đó, nhiều quy định pháp luật mới về thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 106/2016/QH13 (sửa đổi, bổ sung Luật Thuế Giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật Quản lý thuế) được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 6/4/2016 và có hiệu lực thi hành từ 1/7/2016. Những thay đổi về thuế giá trị gia tăng không những tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh mà còn tạo cơ sở pháp lý quản lý chặt chẽ nguồn thu từ thuế giá trị gia tăng.

Tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và thực hiện các chính sách xã hội
Bổ sung đối tượng không chịu thuế nhằm giải quyết chính sách xã hội
Cấu trúc gia đình truyền thống của người Việt Nam là có nhiều thế hệ cùng chung sống, thông thường có tới 3 đến 4 thế hệ cùng chung sống được biết đến với tên gọi “Tam đại đồng đường, “Tứ đại đồng đường”. Với mô hình gia đình truyền thống này, ông bà thường được con cháu trực tiếp chăm sóc lúc tuổi già. Tuy nhiên, cùng với những thay đổi về điều kiện kinh tế - xã hội, mô hình gia đình hạt nhân với hai thế hệ chung sống và trong nhiều trường hợp mỗi thế hệ sinh sống độc lập đã hình thành và phát triển, đặc biệt ở khu vực thành thị. Điều này dẫn đến sự gia tăng nhu cầu về dịch vụ chăm sóc người cao tuổi. Đồng thời, cũng dẫn đến việc chăm sóc người khuyết tật tại gia đình gặp nhiều khó khăn. Do vậy, nhu cầu thuê dịch vụ chăm sóc người khuyết tật đã xuất hiện và ngày càng gia tăng. Trong khi đó, chăm sóc người cao tuổi và những đối tượng neo đơn, yếu thế trong xã hội là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta.
Trong những năm qua, Nhà nước đã đầu tư nhiều cho các Trung tâm bảo trợ xã hội nhưng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày càng tăng của dịch vụ này. Vì thế, việc khuyến khích xã hội hóa nhằm thu hút các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực chăm sóc người neo đơn, yếu thế trong xã hội là thực sự cần thiết để thực hiện chủ trương đúng đắn đó của Đảng và Nhà nước ta. Luật số 106/2016/QH13 bổ sung vào đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) dịch vụ chăm sóc người cao tuổi và người khuyết tật nhằm tạo tiền đề để người cao tuổi và người khuyết tật có cơ hội thụ hưởng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, dưỡng lão với mức giá hợp lý.
Bổ sung đối tượng hoàn thuế trước, kiểm tra sau nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh
Luật số 106/2016/QH13 đã bổ sung 2 đối tượng thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau, đó là: (i) Người nộp thuế (NNT) sản xuất hàng hóa xuất khẩu không vi phạm pháp luật thuế trong 2 năm liên tục; (ii) NNT không thuộc diện rủi ro cao theo quy định của Luật Quản lý thuế. Quy định này một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho NNT tuân thủ tốt pháp luật thuế được nhanh chóng giải quyết hoàn thuế và đơn giản hóa thủ tục giải quyết hoàn thuế, mặt khác, thúc đẩy NNT tuân thủ pháp luật thuế để được hưởng những thuận lợi về thủ tục thuế. Quy định này cũng quán triệt nguyên tắc quản lý rủi ro trong Luật Quản lý thuế, đảm bảo vừa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển, vừa quản lý thuế chặt chẽ, chống gian lận qua hoàn thuế GTGT.
Những nội dung được sửa đổi, bổ sung nhằm tạo cơ sở quản lý chặt chẽ nguồn thu từ thuế giá trị gia tăng
Luật số 106/2016/QH13 đã sửa đổi một số nội dung quy định về đối tượng không chịu thuế, đối tượng áp dụng thuế suất 0% và hoàn thuế GTGT nhằm khắc phục những bất hợp lý của Luật Thuế GTGT hiện hành, đảm bảo quản lý chặt chẽ nguồn thu, chống gian lận thuế GTGT. Cụ thể như sau:
Một là, bổ sung vào Điều 5 “Đối tượng không chịu thuế” quy định: “Doanh nghiệp (DN), hợp tác xã mua nông sản chưa chế biến hoặc mới sơ chế thông thường bán cho DN, hợp tác xã thì không phải tính, nộp thuế GTGT nhưng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào”. Điểm sửa đổi này xuất phát từ thực tế là, trong thời gian vừa qua, lợi dụng quy định “Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ở khâu kinh doanh thương mại thì thuộc diện chịu thuế GTGT với thuế suất 5%”, nhiều DN đã mua nông sản của nông dân (không chịu thuế GTGT) sau đó mua hóa đơn có thuế 5% để hợp thức đầu vào, qua nhiều khâu thương mại trung gian trước khi bán cho cơ sở xuất khẩu để cơ sở này được hoàn thuế.
Để khắc phục tình trạng gian lận này, các hiệp hội, các DN xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đã kiến nghị quy định “Hàng hóa là nông, lâm, thủy sản ở khâu kinh doanh thương mại đưa vào diện không chịu thuế GTGT”. Do nội dung này thuộc thẩm quyền của Quốc hội nên để xử lý vướng mắc thực tế tại Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/ 2013, Chính phủ đã quy định: Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường được bán cho DN, hợp tác xã không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT đầu ra, cơ sở kinh doanh mua vào không phải trả thuế GTGT đầu vào cũng như không phải khấu trừ số thuế này. Do vậy, quy định mới này sẽ nâng cao tính pháp lý, minh bạch hóa quy định pháp luật và góp phần chống gian lận trong hoàn thuế GTGT.
Hai là, bổ sung thêm vào đối tượng không chịu thuế GTGT và không thuộc diện được áp dụng thuế suất 0% đối với “Sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên”. Điểm bổ sung này xuất phát từ việc phát sinh bất cập của Luật Thuế GTGT cũ qua thực tiễn quản lý thuế thời gian qua. Theo đó, Luật Thuế GTGT cũ đã quy định “Tài nguyên, khoáng sản chưa qua chế biến thành sản phẩm khác” thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT và không thuộc diện được áp dụng thuế suất 0% là nhằm hạn chế xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản thô.
Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế cho thấy, đối với sản phẩm hàng hóa có tổng trị giá tài nguyên khoáng sản cộng với chi phí năng lượng (gồm chi phí điện, xăng, dầu, than) chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên thì cơ bản vẫn là sản phẩm thô, GTGT trong nước thấp nên chưa thực sự là sản phẩm được chế biến sâu trong nước. Việc không đưa vào diện không chịu thuế GTGT và không áp dụng thuế suất 0%, không cho hoàn thuế đối với trường hợp này là nhằm thực hiện chính sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản thô; khuyến khích chế biến sâu tạo GTGT lớn hơn ở trong nước.
Ba là, bãi bỏ hoàn thuế GTGT đối với trường hợp lũy kế thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ hết từ 12 tháng hoặc 4 quý trở lên; trường hợp có thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết thì chuyển khấu trừ kỳ tiếp theo. Điểm sửa đổi này xuất phát từ những lý do sau:
- Thực tiễn quản lý thuế GTGT thời gian qua cho thấy, phần lớn các trường hợp đề nghị hoàn thuế khi có lũy kế thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ hết từ 12 tháng hoặc 4 quý trở lên sau đó lại phát sinh số thuế phải nộp khá lớn. Đây chính là những trường hợp thuế GTGT đầu vào tạm thời chưa khấu trừ hết do sự lệch pha tạm thời giữa lượng hàng hóa, dịch vụ mua vào với lượng hàng hóa, dịch vụ bán ra trong một khoảng thời gian nhất định dẫn đến lượng hàng hóa tồn kho nhiều. Điều này cho thấy, việc thực hiện quy định hoàn thuế GTGT khi có lũy kế số thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ hết từ 12 tháng hoặc 4 quý trở lên dẫn đến phát sinh thêm nhiều thủ tục phải giải quyết để hoàn thuế khi không thực sự cần thiết phải hoàn thuế vì có thể để bù trừ với số thuế GTGT đầu ra sẽ phát sinh ở những kỳ tính thuế tiếp theo.
- Thực tế cho thấy, có không ít DN thường xuyên đề nghị hoàn thuế trong khi không có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu. Ngoại trừ trường hợp sản xuất hàng hóa thuộc nhóm thuế suất thấp (5%) hoặc có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu thì việc thường xuyên có thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết cho thấy nhiều dấu hiệu của gian lận trong hoàn thuế GTGT mà thủ đoạn chủ yếu là mua hóa đơn đầu vào để khấu trừ khống thuế GTGT.
- Thống kê về số tiền hoàn thuế GTGT những năm qua cũng cho thấy số tiền chi hoàn thuế GTGT tăng khá bất thường, thậm chí tăng nhanh hơn cả tốc độ tăng thu thuế GTGT. Cụ thể như sau:
Năm: Số tiền thuế giá trị gia tăng đã hoàn (tỷ đồng)
2011: 77.945
2012: 85.245
2013: 91.482
2014: 98.970
2015: 85.000
Nguồn: Báo cáo Tổng kết công tác thuế các năm từ 2011 đến 2015 của Tổng cục Thuế
Bảng số liệu trên cho thấy, ngoại trừ năm 2015, số tiền hoàn thuế GTGT đều tăng khá nhanh qua các năm, có nhiều năm số tiền hoàn thuế GTGT thực tế lớn hơn rất nhiều so với dự toán. Tuy nhiên, số chi hoàn thuế GTGT năm 2015 trên chưa kể khoảng trên 7.000 tỷ đồng đã ra quyết định hoàn thuế GTGT năm 2015 nhưng được thực hiện chi hoàn vào năm 2016.

- Báo cáo giải trình, tiếp thu và chỉnh lý Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho biết “Qua nghiên cứu kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, để quản lý chặt chẽ nguồn thu và hạn chế gian lận trong hoàn thuế GTGT, các nước trên thế giới đã áp dụng nhiều phương thức khác nhau. Một trong những phương thức chủ yếu để ngăn ngừa gian lận trong hoàn thuế GTGT là chuyển số thuế GTGT chưa khấu trừ hết sang các kỳ tiếp theo mà không thực hiện hoàn thuế, trừ trường hợp xuất khẩu. Điển hình cho việc thực hiện phương thức này là các nước như: Thái lan, Bulgaria, Ba lan, Chi lê, Thổ nhĩ kỳ, Marocco, Panama”.
Những phân tích trên cho thấy, việc bãi bỏ quy định hoàn thuế GTGT đối với trường hợp lũy kế thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ hết từ 12 tháng hoặc 4 quý trở lên sẽ giúp giảm bớt các thủ tục về thuế và góp phần ngăn ngừa gian lận trong hoàn thuế GTGT.
Bốn là, sửa đổi quy định về hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư. Theo đó, trong những trường hợp sau đây, cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT mà chuyển khấu trừ sang kỳ tiếp theo: (i) Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh không góp đủ vốn điều lệ như đã đăng ký; (ii) Kinh doanh ngành nghề kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật Đầu tư hoặc không đảm bảo duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động; (iii) Dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản cấp phép từ ngày 1/7/2016; (iv) Dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư. Sự thay đổi này xuất phát từ những căn nguyên chủ yếu sau:
- Theo Khoản 5 và 6 Điều 17 Luật DN thì hai hành vi sau đây bị nghiêm cấm: (i) Kê khai khống vốn điều lệ, không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký; cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị và (ii) Kinh doanh các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật Đầu tư hoặc không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động. Việc hoàn thuế đối với những trường hợp này là không hợp lý, không góp phần tích cực hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật về kinh doanh; khiến cho các hoạt động kinh doanh không minh bạch có cơ sở tồn tại; dễ dẫn đến không chặt chẽ, an toàn cho môi trường đầu tư, kinh doanh.
- Đối với dự án đầu tư khai thác tài nguyên khoáng sản, việc thực hiện không hoàn thuế mà không phân biệt tài nguyên, khoáng sản xuất khẩu đã qua chế biến hay chưa qua chế biến nhằm hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô, chưa qua chế biến; hạn chế việc thực hiện các thủ tục hoàn thuế GTGT rồi sau đó lại thu thuế khi dự án đầu tư đi vào sản xuất, kinh doanh. Qua đó, thực hiện đơn giản hóa chính sách thuế và các thủ tục quản lý thuế, giải quyết được các trường hợp vướng mắc và bất cập trong tổ chức thực hiện Luật Thuế GTGT. Để không ảnh hưởng đến phương án kinh doanh của các dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản đang thực hiện, quy định này chỉ áp dụng đối với các dự án đầu tư khai thác tài nguyên khoáng sản được cấp phép từ ngày 1/7/2016.
- Việc đưa các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư vào diện không hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư cũng nhằm mục đích khuyến khích chế biến sâu tài nguyên trước khi xuất khẩu, tạo GTGT lớn hơn trong nước đối với tài nguyên, góp phần khuyến khích sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản của đất nước.
Những phân tích trên cho thấy, việc bổ sung 4 loại dự án đầu tư vào diện không hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư là để đảm bảo sự phù hợp của pháp luật với thực tiễn quản lý thuế và sự thống nhất giữa pháp luật thuế với quy định của Luật DN; đồng thời, góp phần chống gian lận thương mại, phòng chống thất thu cho ngân sách nhà nước.

Năm là, bổ sung 2 trường hợp sau đây không được hoàn thuế: (i) Hàng hóa nhập khẩu để xuất khẩu; (ii) Hàng hóa xuất khẩu không thực hiện xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo Luật Hải quan. Để thực hiện nguyên tắc đánh thuế theo điểm đến như thông lệ quốc tế thì cần áp dụng thuế suất 0% và hoàn thuế GTGT cho hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, qua đó chuyển quyền đánh thuế cho nước nơi hàng hóa, dịch vụ được tiêu dùng. Theo đó, Khoản 1 Điều 8 Luật Thuế GTGT cũ quy định mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế và hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT khi xuất khẩu. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện đã phát sinh nhiều vướng mắc. Cụ thể như sau:
- Nhiều trường hợp thuốc lá, rượu, bia (Đây là những mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt) nhập khẩu được mua bán lòng vòng trong nước sau đó xuất khẩu. Cơ sở xuất khẩu chỉ đề nghị hoàn thuế GTGT trong khi số thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt (có mức thuế cao hơn nhiều lần thuế GTGT) thì không đề nghị hoàn. Trong trường hợp này, khách hàng nước ngoài phải mua với giá có thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt cao hơn nhiều lần so với giá cả thông thường nếu mua trực tiếp từ nước xuất khẩu. Do vậy, việc hoàn thuế là bất hợp lý, vô hình trung đã khuyến khích buôn lậu từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc có tính chất gian lận để được hoàn thuế. Để khắc phục bất hợp lý này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 12/2015/NĐ-CP quy định thuốc lá, bia, rượu nhập khẩu sau đó xuất khẩu không được áp dụng 0%. Việc bổ sung đối tượng “Hàng hóa nhập khẩu để xuất khẩu” vào nhóm không được áp dụng thuế suất 0% sẽ nâng cao tính pháp lý và đảm bảo sự minh bạch của pháp luật thuế. Hơn nữa, quy định như vậy cũng mở rộng đối tượng không được áp dụng thuế suất 0%, không chỉ đối với thuốc lá, rượu, bia nhập khẩu để xuất khẩu mà còn áp dụng đối với những mặt hàng khác, qua đó, đảm bảo phòng ngừa gian lận trong hoàn thuế GTGT đối với những hàng hóa khác.
- Nhiều trường hợp xuất khẩu qua cửa khẩu phụ, đường mòn, lối mở (xuất khẩu tiểu ngạch) có dấu hiệu gian lận, lợi dụng chính sách để chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước. Tờ trình Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế của Chính phủ khẳng định “Thực tế các trường hợp xuất khẩu tiểu ngạch không có hợp đồng chính tắc, không thanh toán quốc tế qua ngân hàng theo các phương thức thanh toán có tính thông lệ quốc tế mà sử dụng thanh toán qua tài khoản vãng lai do tổ chức, cá nhân nước ngoài mở tại Việt Nam. Để được hoàn thuế, cơ sở xuất khẩu cần hợp thức hóa hợp đồng mua bán và chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Vì vậy, phát sinh trường hợp thông đồng, lợi dụng việc hợp thức hóa hồ sơ hoàn thuế để chiếm đoạt tiền của Nhà nước”. Qua phối hợp kiểm tra với cơ quan chức năng nước ngoài đã phát hiện nhiều trường hợp DN khách hàng nước ngoài không có chức năng kinh doanh thương mại, xuất nhập khẩu mà kinh doanh ngành nghề khác như tổ chức du lịch lữ hành, hoặc đã ngừng hoạt động, hoặc không tồn tại. Tuy vậy, khi đã kiểm tra phát hiện ra gian lận, có nhiều trường hợp không thể thu hồi tiền thuế cho Nhà nước vì sau khi nhận tiền hoàn thuế nhiều DN đã bỏ trốn không làm các thủ tục giải thể, đóng mã số thuế theo quy định của pháp luật. Như vậy, việc bổ sung quy định không áp dụng thuế suất 0% đối với trường hợp xuất khẩu không thực hiện xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo Luật Hải quan sẽ giúp ngăn ngừa có hiệu quả trường hợp gian lận hoàn thuế GTGT, chống thất thu ngân sách nhà nước.
Tóm lại, từ những khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong quá trình thực thi các luật thuế và tiếp tục hiện thực hóa chủ trương đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế, giảm thời gian thực hiện các thủ tục thuế và giảm chi phí tuân thủ thuế, Quốc hội đã thông qua Luật số 106/2016/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế. Những điểm mới sửa đổi, bổ sung về thuế GTGT không chỉ giải quyết những yêu cầu cấp thiết của thực tiễn quản lý và góp phần tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi mà còn đồng thời tạo cơ sở pháp lý để tăng cường quản lý nguồn thu, chống gian lận thuế và hạn chế thất thu thuế GTGT.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ: Tờ trình Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế;
2. Quốc hội: Luật số 106/2016/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế;
3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII: Báo cáo giải trình, tiếp thu và chỉnh lý Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế.
Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ I tháng 7/2016

PGS.,TS LÊ XUÂN TRƯỜNG, PHẠM THIÊN TÙNG
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Thời hạn và mức phạt chậm nộp mẫu 08/MST



Quy định về thời Hạn nộp mẫu 08/MST - Tờ khai điều chỉnh bổ sung thông tin đăng ký thuế theo Thông tư 156/2013/TT-BTC, mức phạt chậm nộp mẫu 08/MST theo Thông tư 166/2013/TT- BTC

- Khi có sự thay đổi về thông tin đăng ký thuế như: Bổ sung thông tin tài khoản ngân hàng, thay đổi tên công ty, địa chỉ, ngành nghề kinh doanh ... (Nói tóm lại là thay đổi thông tin đăng ký thuế của DN trên giấy phép ĐKKD )
-> Thì DN phải làm Mẫu 08/MST để nộp cho Cơ quan thuế.
1. Thời Hạn nộp Mẫu 08 / MST:
Theo Điều 9, Thông tư 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính:
"Điều 9. Thay đổi, bổ sung thông tin đăng ký thuế
Đối với người nộp thuế đã được cấp đăng ký thuế nhưng chưa thông báo thông tin về các tài khoản của người nộp thuế đã mở tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng với cơ quan thuế trước thời điểm Nghị định 83/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì phải thông báo bổ sung tại Tờ khai điều chỉnh, bổ sung thông tin đăng ký thuế theo mẫu số 08-MST ban hành kèm theo Thông tư này, thời hạn chậm nhất ngày 31 tháng 12 năm 2013.
Người nộp thuế trong quá trình sản xuất kinh doanh, khi có thay đổi, bổ sung số tài khoản tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng thì phải thông báo cho cơ quan Thuế trực tiếp quản lý trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày phát sinh sự thay đổi tại Tờ khai điều chỉnh, bổ sung thông tin đăng ký thuế theo mẫu số 08-MST ban hành kèm theo Thông tư này (thay thế Tờ khai điều chỉnh đăng ký thuế mẫu số 08-MST ban hành kèm theo Thông tư số 80/2012/TT-BTC ngày 22/5/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Quản lý thuế về đăng ký thuế)."
KẾT LUẬN:
- Nếu có sự thay đổi thông tin đăng ký thuế (như: Đăng ký thêm tài khoản ngân hàng, thay đổi địa điểm kinh doanh .... Thay đổi giấy phép kinh doanh): Thời Hạn nộp mẫu 08/MST là 10 ngày .
Chú ý : Hiện nay có 1 số chi cục thuế nội thành không yêu cầu DN Nộp mẫu 08/MST khi có sự thay đổi giấy phép DKKD (Vì sở kế hoạch đầu tư và cơ quan thuế đã liên thông với nhau).
2. Mức phạt chậm Nộp Mẫu 08 / MST:
Theo điều 7 Thông tư số 166/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013 của Bộ Tài chính:
"Điều 7. Xử phạt đối với hành vi chậm nộp hồ sơ đăng ký thuế, chậm thông báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế so với thời hạn quy định:
1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi nộp hồ sơ đăng ký thuế hoặc thông báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế cho cơ quan thuế quá thời hạn quy định từ 01 ngày đến 10 ngày mà có tình tiết giảm nhẹ.
2. Phạt tiền 700.000 đồng, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 400.000 đồng hoặc có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa không quá 1.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ đăng ký thuế hoặc thông báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế cho cơ quan thuế quá thời hạn quy định từ 01 ngày đến 30 ngày (trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này).
3. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 800.000 đồng hoặc có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa không quá 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Nộp hồ sơ đăng ký thuế hoặc thông báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế quá thời hạn quy định trên 30 ngày.
b) Không thông báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế.
c) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế nhưng không phát sinh số thuế phải nộp."
Thông thường ngoài thực tế, cơ quan thuế sẽ phạt mức trung bình.

VD: bạn chậm nộp 15 ngày, mức phạt sẽ là: 700.000
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Quy định về trích trước chi phí trợ cấp thôi việc 2016




Tổng cục Thuế nhận được công văn số 1921/CV/SDVN-2016 ngày 05/04/2016 của Công ty TNHH Sumidenso Việt Nam về chính sách thuế đối với các khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc. Về vấn đề này, ngày 5/7/2016Tổng cục Thuế có Công văn 3016/TCT-CS hướng dẫn như sau:

- Tại Khoản 4 Thông tư số 82/2003/TT-BTC hướng dẫn về trích lập, quản lý, sử dụng và hạch toán quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm tại doanh nghiệp có hướng dẫn:
“4. Quản lý và sử dụng Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm:
a. Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm của doanh nghiệp dùng để chi trợ cấp thôi việc, mất việc làm theo quy định tại Điều 12, Điều 13 Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/04/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật lao động về việc làm.
b. Nếu Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm hàng năm không chi hết được chuyển sốdư năm sau”.
- Tại Khoản 1, Điều 3, Thông tư số 180/2012/TT-BTC ngày 24/10/2012 hướng dẫn xử lý tài chính về chi trợ cấp mất việc làm cho người lao động tại doanh nghiệp có hướng dẫn:
“1. ... Trường hợp khi lập báo cáo tài chính năm 2012, nếu nguồn quỹ dự phòng trợ cấpmất việc làm của doanh nghiệp còn số dư (sau khi đã chi trợ cấp mất việc làm năm 2012) doanh nghiệp hạch toán tăng thu nhập khác năm 2012 của doanh nghiệp, doanh nghiệp không được chuyển số dư quỹ sang năm sau sử dụng”.
- Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH chỉ quy định cách tính và chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động, không quy định việc trích trước tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động.
- Tại Khoản 2.19, Mục III, Phần B, Thông tư số 134/2007/TT-BTC ngày 14/02/2007 của Bộ tài chính có hướng dẫn về các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế:
“2.19. Trích, lập và sử dụng quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm và chi trợ cấp thôi việc cho người lao động không theo đúng chế độ hiện hành”.
- Ngày 04/04/2016, Tổng cục Thuế đã có công văn số 1368/TCT-CS trả lời Cục thuế tỉnh Hải Dương về vấn đề này.
Căn cứ các hướng dẫn nêu trên, doanh nghiệp chỉ được phép trích lập quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, không có quy định cho phép doanh nghiệp trích trước vào chi phí hoặc trích lập quỹ dự phòng trợ cấp thôi việc.
Đề nghị Cục thuế trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật để giải thích cho Công ty. Trường hợp nếu có liên quan đến chính sách khác thì Cục thuế phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan để hướng dẫn Công ty biết và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

TCT
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Chi phí sửa văn phòng nhà xương đi thuê có được tính vào chi phí được trừ không?



Hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp đi thuê văn phòng của các hộ gia đình. Để phù hợp với môi trường kinh doanh, các doanh nghiệp phải bỏ chi phí tu sửa văn phòng, nhà xưởng. Những chi phí này có được tính vào chi phí được trừ không? có được khấu trừ thuế GTGT không? Điều kiện để được tính vào chi phí được trừ? KẾ TOÁN HÀ NỘI xin chia sẻ với các bạn qua bài viết: Chi phí sửa chữa văn phòng, nhà xưởng đi thuê được tính vào chi phí được trừ

1. Sửa chữa văn phòng nhà xưởng đi thuê là sửa chữa lớn
Tại Khoản 13, Khoản 14 Điều 2 Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/04/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định (TSCĐ)quy định:
“Sửa chữa tài sản cố định: là việc duy tu, bảo dưỡng, thay thế sửa chữa những hư hỏng phát sinh trong quá trình hoạt động nhằm khôi phục lại năng lực hoạt động theo trạng thái hoạt động tiêu chuẩn ban đầu của tài sản cố định.”
“Nâng cấp tài sản cố định: là hoạt động cải tạo, xây lắp, trang bị bổ sung thêm cho TSCĐ nhằm nâng cao công suất, chất lượng sản phẩm, tính năng tác dụng của TSCĐ so với mức ban đầu hoặc kéo dài thời gian sử dụng của TSCĐ; đưa vào áp dụng quy trình công nghệ sản xuất mới làm giảm chi phí hoạt động của TSCĐ so với trước.”
Tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 7 Thông tư số 45/2013/TT-BTC quy định
“Các chi phí doanh nghiệp chi ra để đầu tư nâng cấp tài sản cố định được phản ánh tăng nguyên giá của TSCĐ đó, không được hạch toán các chi phí này vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.”
Các chi phí sửa chữa tài sản cố định không được tính tăng nguyên giá TSCĐ mà được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong kỳ, nhưng tối đa không quá 3 năm.”
Theo những quy định trên, việc sửa chữa cải tạo văn phòng, nhà xưởng đi thuê, là chi phí sửa chữa lớn, được phân bổ vào chi phí kinh doanh không quá 3 năm
2.Thuế TNDN
Theo Thông tư 78/2014/TT-BTC tại Điều 6, Khoản 1 quy định về các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế như sau:
1.Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;
b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
c) Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.”
Cũng tại Thông tư 78/2014/TT-BTC tại Điều 6, Khoản 2, Điểm 2.16 quy định như sau:
“Đối với chi phí sửa chữa tài sản cố định đi thuê mà trong hợp đồng thuê tài sản quy định bên đi thuê có trách nhiệm sửa chữa tài sản trong thời gian thuê thì chi phí sửa chữa tài sản cố định đi thuê được phép hạch toán vào chi phí hoặc phân bổ dần vào chi phí nhưng thời gian tối đa không quá 03 năm.”
Căn cứ theo các quy định trên để chi phí sửa chữa nhà xưởng đi thuê được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thì cần những chứng từ sau:
– Hợp đồng thuê nhà xưởng, trong hợp đồng ghi rõ bên đi thuê có trách nhiệm sửa chữa tài sản trong thời gian thuê.
– Hóa đơn thuê nhà xưởng ( nếu có)
– Biên bản kiểm tra hiện trường, lý do hư hại, biện pháp khắc phục
– Chứng từ thanh toán tiền thuê nhà xưởng, văn phòng
– Dự toán sửa chữa và hợp đồng thuê sửa chữa văn phòng, nhà xưởng
– Quyết toán sửa chữa hoàn thành
– Chứng từ, hóa đơn xác nhận việc chi phí sửa chữa văn phòng, nhà xưởng đi thuê
– Tờ khai thuế môn bài và chứng từ đóng thuế môn bài cho văn phòng, nhà xưởng đi thuê
– Mẫu 08/MST thông báo địa điểm thuê nhà xưởng, kho bãi hoặc văn phòng
2.Thuế GTGT
Do khoản chi phí này bản chất là của người cho thuê, phải bỏ ra để đưa tài sản vào trong tình trạng sẵn sàng sử dụng trước khi cho thuê, đồng thời làm tăng nguyên giá TSCĐ cho thuê. Nhưng vì người cho thuê ủy quyền cho người đi thuê thực hiện, thông qua hợp đồng thuê nhà, thông qua việc giảm giá cho thuê để doanh nghiệp giành tiền đầu tư sửa chữa. Vì vậy, hóa đơn chứng từ của khoản sửa chữa này mang tên doanh nghiệp, nhưng Doanh nghiệp không được khấu trừ thuế GTGT của chi phí sửa chữa nhà xưởng đi thuê.
3.Hạch toán kế toán
– Nếu công ty giao thầu cho công ty khác sửa chữa tài sản.
Khi hoàn thành công việc căn cứ vào hóa đơn GTGT, biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình, biên bản xác nhận khối lượng, bảng quyết toán khối lượng công việc hoàn thành:
Khi nhận được hóa đơn:
Nợ TK 242
Có TK 331
Khi phân bổ cho các bộ phận
Nợ TK 627, 154, 642
Có TK 242
– Nếu việc sửa chữa tài sản do công ty tự làm.
Chi phí nguyên vật liệu, nhân công, chi phí khác tập hợp được
Nợ TK 241
Có TK 111, 112, 152, 214, 334
Khi sửa chữa hoàn thành
Nợ TK 242
Có TK 241
Phân bổ chi phí sửa chữa vào chi phí trong kỳ
Nợ TK 627, 154, 642
Có TK 242

Lưu ý : Chi phí sửa chữa văn phòng nhà xưởng đi thuê, phân bổ không quá 3 năm
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hướng dẫn xử lý khi mất hóa đơn liên hai.



Công ty Kế Toán Hà Nội xin chia sẻ với bạn bài viết Hướng dẫn xử lý khi mất hóa đơn liên hai.

Câu hỏi:
Công ty mất hóa đơn liên 2 thì có thể xin lại liên 1 để sao y bản chính được không? Thủ tục như thế nào và căn cứ văn bản pháp luật nào để thực hiện? Có bị phạt không?
Trả lời:
Căn cứ Thông tư 39/2014/TT-BTC tại Điều 24 quy định về xử lý đối với hành vi mất cháy hỏng hóa đơn như sau:
“1. Tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh nếu phát hiện mất, cháy, hỏng hóa đơn đã lập hoặc chưa lập phải lập báo cáo về việc mất, cháy, hỏng và thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp (mẫu số 3.8 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này) chậm nhất không quá năm (05) ngày kể từ ngày xảy ra việc mất, cháy, hỏng hóa đơn. Trường hợp ngày cuối cùng (ngày thứ 05) trùng với ngày nghỉ theo quy định của pháp luật thì ngày cuối cùng của thời hạn được tính là ngày tiếp theo của ngày nghỉ đó.
2. Trường hợp khi bán hàng hóa, dịch vụ người bán đã lập hóa đơn theo đúng quy định nhưng sau đó người bán hoặc người mua làm mất, cháy, hỏng liên 2 hóa đơn bản gốc đã lập thì người bán và người mua lập biên bản ghi nhận sự việc, trong biên bản ghi rõ liên 1 của hóa đơn người bán hàng khai, nộp thuế trong tháng nào, ký và ghi rõ họ tên của người đại diện theo pháp luật (hoặc người được ủy quyền), đóng dấu (nếu có) trên biên bản và người bán sao chụp liên 1 của hóa đơn, ký xác nhận của người đại diện theo pháp luật và đóng dấu trên bản sao hóa đơn để giao cho người mua. Người mua được sử dụng hóa đơn bản sao có ký xác nhận, đóng dấu (nếu có) của người bán kèm theo biên bản về việc mất, cháy, hỏng liên 2 hóa đơn để làm chứng từ kế toán và kê khai thuế. Người bán và người mua phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc mất, cháy, hỏng hóa đơn.”
Căn cứ theo quy định trên khi làm mất hóa đơn bạn phải thông báo cho cơ quan thuế trong thời gian 5 ngày kể từ khi mất hóa đơn. Công ty bạn bị xử phạt hành vi làm mất hóa đơn theo quy định tại Khoản 1, Điều 12, Thông tư 10/2014/TT-BTC.
Bạn và người bán lập biên bản ghi nhận sự việc, trong biên bản ghi rõ liên 1 của hóa đơn người bán hàng khai, nộp thuế trong tháng nào và người bán sao chụp liên 1 của hóa đơn, ký xác nhận của người đại diện theo pháp luật và đóng dấu trên bản sao hóa đơn để giao cho người mua. Mời bạn tham khảo Mẫu biên bản mất hóa đơn
Bạn nộp biên bản và thông báo mất hoá đơn cùng với bảo sao cho cơ quan thuế để nộp phạt về hành vi mất hoá đơn. Sau khi nộp phạt Người mua được sử dụng hóa đơn bản sao có ký xác nhận, đóng dấu (nếu có) của người bán kèm theo biên bản về việc mất liên 2 hóa đơn để làm chứng từ kế toán và kê khai thuế.

Để hiểu rõ hơn về những tình huống xử lý về hóa đơn, các bạn có thể tham gia những khóa học kế toán tổng hợp tại Hà nội, tại Kế toán Hà Nội
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Lưu ý chi phí khấu hao, lãi vay và chênh lệch tỷ giá khi quyết toán thuế 2016



Bài viết trao đổi về những vấn đề đáng quan tâm liên quan đến các chính sách mới trong quản lý chi phí đối với chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí lãi vay, chi phí liên quan đến chênh lệch tỷ giá, giúp các doanh nghiệp thực hiện đúng quy định của pháp luật và phục vụ cho công tác quyết toán thuế nhanh chóng, dễ dàng.
Quản lý chi phí hiệu quả là một trong những vấn đề trọng tâm của doanh nghiệp (DN). Kế toán tại DN cần rà soát, cập nhật chế độ kế toán cũng như chính sách thuế mới nhất nhằm hạch toán đúng, chính xác theo quy định, tránh việc bị xuất toán chi phí khi các đoàn thanh kiểm tra đến thực hiện công tác thanh kiểm tra tại DN, cụ thể cần chú ý một số điểm sau:

Thứ nhất, về chi phí khấu hao tài sản cố định
Các DN cần chú ý một số thay đổi mới đây về quản lý chi phí sản xuất kinh doanh đối với chi phí khấu hao tài sản cố định. Cụ thể, bổ sung các tài sản cố định của DN phục vụ cho người lao động và tổ chức hoạt động giáo dục nghề nghiệp được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) bao gồm: Thư viện, nhà trẻ, khu thể thao và các thiết bị, nội thất đủ điều kiện là tài sản cố định lắp đặt trong các công trình phục vụ cho người lao động làm việc tại DN; Cơ sở vật chất, máy, thiết bị là tài sản cố định dùng để tổ chức hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
Tuy nhiên, kế toán tại các DN cần phải hoàn thiện bộ chứng từ liên quan gồm các thủ tục pháp lý quy định về khoản đầu tư xây dựng cơ bản (XDC8-) trong các bước: Chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và quyết toán vốn đầu tư; Thủ tục về phê duyệt, cấp vốn, điều động vốn của cấp có thẩm quyền; Báo giá cạnh tranh, hồ sơ đấu thầu, đơn đặt hàng, hợp đồng kinh tế, hóa đơn tài chính, chứng từ thanh toán, biên bản thanh lý hợp đồng kinh tế; Biên bản nghiệm thu khối lượng, hóa đơn tài chính, bảng tính giá trị khối lượng công việc hoàn thành, giấy đề nghị thanh toán của bên nhận thầu; Biên bản nghiệm thu thanh toán, biên bản bàn giao cho đối tượng sử dụng, biên bản thanh lý hợp đồng xây lắp; Định mức kinh tế kỹ thuật theo thiết kế, dự toán được duyệt; Bản vẽ thiết kế, bản quyết toán công trình đầu tư XDCB hoàn thành; Hồ sơ hoàn công (bản vẽ hoàn công, quyết toán công trình); Biên bản bàn giao tài sản cố định, quyết định của giám đốc đối với việc sử dụng tài sản cố định cho hoạt động phúc lợi, hoạt động giáo dục nghề nghiệp cho người lao động; Giấy chứng nhận sở hữu công trình; Thẻ theo dõi tài sản cố định, bảng kê danh sách tài sản cố định, bảng tính khấu hao tài sản cố định, biên bản kiểm kê tài sản cố định theo kỳ (tháng, quý, năm); Văn bản của DN về việc thông báo đăng ký phương pháp trích khấu hao tài sản cố định gửi cho cơ quan thuế.
Thứ hai, về chi phí lãi vay tương ứng với phần vốn điều lệ, vốn đầu tư vào DN khác
Theo đó, DN cần chú ý một số đổi mới như sau: nếu DN đã góp đủ vốn điều lệ mà trong quá trình kinh doanh có khoản chi trả tiền lãi vay để đầu tư vào DN khác thì khoản chi này được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Tuy nhiên, kế toán cần hoàn thiện chứng từ gồm: Hợp đồng vay (khế ước vay), bảng tính lãi vay, hóa đơn (chứng từ) của ngân hàng, tờ khai nộp thuế nhà thầu nước ngoài (nếu vay ngân hàng, DN, cá nhân nước ngoài), chứng từ chi lãi vay, quy chế tín dụng nội bộ, chứng từ khai thuế thu nhập cá nhân đối với lãi vay (vay cá nhân trong nước)…
Nếu DN chưa góp đủ vốn điều lệ thì chi trả lãi tiền vay tương ứng với vốn điều lệ còn thiếu theo tiến độ góp vốn ghi trong điều lệ của DN không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế được xác định như sau:
i) Trường hợp số tiền vay nhỏ hơn hoặc bằng số vốn điều lệ còn thiếu thì toàn bộ lãi tiền vay là khoản chi không được trừ.
ii) Trường hợp số tiền vay lớn hơn số vốn điều lệ còn thiếu theo tiến độ góp vốn: Nếu phát sinh nhiều khoản vay thì khoản chi trả lãi tiền vay không được trừ bằng tỷ lệ (%) giữa vốn điều lệ còn thiếu trên tổng số tiền vay nhân (x) tổng số lãi vay; Nếu chỉ phát sinh một khoản vay thì khoản chi trả lãi tiền không được trừ bằng số vốn điều lệ còn thiếu nhân (x) lãi suất của khoản vay nhân (x) thời gian góp vốn điều lệ còn thiếu.
Thứ ba, về chi phí phát sinh liên quan đến chênh lệch tỷ giá
Vào cuối năm, DN đánh giá lại số dư các tài khoản ngoại tệ như tài khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, công nợ phải thu có gốc ngoại tệ phát sinh chênh lệch tỷ giá, sau khi bù trừ giữa số (lãi/lỗ) thì theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính, kế toán ghi nhận chênh lệch tỷ giá vào doanh thu tài chính (TK515) hoặc chi phí tài chính (TK635) trong kỳ, đến cuối kỳ quyết toán vào doanh thu chịu thuế và chi phí được trừ (kết chuyển sang TK911).
Tuy nhiên, theo Thông tư số 96/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính, lãi chênh lệch tỷ giá không được ghi nhận vào doanh thu chịu thuế, lỗ chênh lệch tỷ giá không được quyết toán vào chi phí được trừ. Đối với các khoản công nợ phải trả (dài hạn và ngắn hạn) có gốc ngoại tệ, cuối năm đánh giá lại phát sinh lãi hoặc lỗ chênh lệch tỷ giá thì kế toán ghi nhận vào doanh thu tài chính hoặc chi phí tài chính và cuối năm quyết toán vào doanh thu chịu thuế và chi phí được trừ. Theo khoản 3 điều 21 Nghị định 08/2015/NĐ-CP của Chính phủ, tỷ giá để xác định hoạt động xuất nhập khẩu (tờ khai hải quan) là tỷ giá thực tế của Vietcombank vào ngày thứ 5 của tuần trước liền kề.
Theo khoản 4 điều 2 Thông tư số 26/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính, tỷ giá để ghi trên hóa đơn tài chính xác định doanh thu là tỷ giá mua vào của ngân hàng thương mại (hội sở chính), còn xác định chi phí là tỷ giá bán ra của ngân hàng thương mại. Theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC và Thông tư số 26/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính, tỷ giá để hạch toán kế toán xác định doanh thu và xác định chi phí thì áp dụng tỷ giá giao dịch của ngân hàng thương mại (doanh thu là tỷ giá mua vào, chi phí là tỷ giá bán ra).
Theo Thông tư số 96/2015/TT-BTC, đối với khoản nợ phải thu và khoản cho vay có gốc ngoại tệ phát sinh thì chênh lệch tỷ giá hối đoái được tính vào chi phí được trừ là khoản chênh lệch giữa tỷ giá tại thời điểm phát sinh thu hồi nợ hoặc thu hồi khoản cho vay với tỷ giá tại thời điểm ghi nhận khoản nợ phải thu hoặc khoản cho vay ban đầu.
Đối với khoản chênh lệch tỷ giá phát sinh trong năm không liên quan trực tiếp đến doanh thu, chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh chính của DN, nếu phát sinh lỗ chênh lệch tỷ giá ghi nhận vào chi phí tài chính, nếu phát sinh lãi chênh lệch tỷ giá thì ghi nhận vào thu nhập khác khi xác định thu nhập chịu thuế.
Đối với chênh lệch tỷ giá phát sinh trong giai đoạn đầu tư XDCB để hình thành tài sản cố định: DN mới thành lập (chưa đi vào hoạt động) đầu tư XDCB để hình thành tài sản cố định có phát sinh lỗ chênh lệch tỷ giá từ việc thanh toán các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ (tiền mặt, tiền đang chuyển, phải thu) thì phản ánh vào TK413, trình bày khoản mục này riêng biệt trên bảng cân đối kế toán. Đặc biệt, đối với DN 100% vốn nhà nước thực hiện dự án trọng điểm quốc gia, dự án quốc phòng, theo chế độ kế toán thì khoản chênh lệch tỷ giá này trước hết cũng được hạch toán vào TK413, đến khi giai đoạn đầu tư XDCB hoàn thành thì xử lý vào TK635.
Chênh lệch tỷ giá phát sinh khi vào cuối năm DN đánh giá lại các khoản nợ phải trả (nợ ngắn hạn, vay ngắn hạn, vay dài hạn gốc ngoại tệ) bị lỗ chênh lệch tỷ giá thì DN mới thành lập hạch toán vào TK635 - tính vào chi phí đầu tư.
Khi DN mới thành lập đã hoàn thành đầu tư XDCB đưa tài sản cố định trên vào sử dụng, chênh lệch tỷ giá phát sinh trong giai đoạn đầu tư XDCB (được bù trừ chênh lệch tăng, giảm) mà vẫn lỗ chênh lệch tỷ giá thì kế toán tại DN phân bổ 100% vào chi phí đầu tư trong năm, đặc biệt DN 100% vốn nhà nước thực hiện dự án trọng điểm quốc gia, dự án quốc phòng thì xử lý vào TK413 cho đến khi TK413 hết số dư. Bên cạnh đó, theo điều 4 khoản 2 Thông tư số 96/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính, nếu trong giai đoạn sản xuất kinh doanh, DN mới thành lập ở trên đầu tư xây dựng tài sản cố định mới, phát sinh lỗ chênh lệch tỷ giá của các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ thì kế toán tại DN hạch toán và quyết toán vào chi phí được trừ theo chính sách thuế TNDN.
TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT, DƯƠNG THỊ HÒA - Đại học Lao động - Xã hội
Tài liệu tham kháo:
1. Chính phủ, Nghị định 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan;

2. Một số thông tư của Bộ Tài chính gồm: Thông tư số 78/2014/TT – BTC, TT 92/2015/TT-BTC, Thông tư số 96/2015/TT-BTC, Thông tư số 26/2015/TT-BTC.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


 

© 2012 Địa chi học kế toán thực hành uy tín All Rights Reserved Tìm việc kế toán