Hóa đơn điện tử là gì? Có cần đóng dấu, chữ ký có được không?



* Theo quy định tại   Khoản 1,2, Điều 3 Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/3/2011 của Bộ Tài chính   hướng dẫn về khởi tạo, phát hành và sử dụng hoá đơn điện tử bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thì:

- Hoá đơn điện tử là tập hợp   các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, được khởi   tạo, lập gửi, nhận, lưu trữ và quản lý bằng phương tiện điện tử. Hóa đơn điện   tử phải đáp ứng các nội dung quy định tại Điều 6 Thông tư này.
- Hóa đơn điện tử gồm các loại:   hóa đơn xuất khẩu; hóa đơn giá trị gia tăng; hóa đơn bán hàng; hoá đơn khác   gồm: tem. vé, thẻ, phiếu thu tiền bảo hiểm...; phiếu thu tiền cước vận chuyển   hàng không, chứng từ thu cước phí vận tải quốc tế, chứng từ thu phí dịch vụ   ngân hàng..., hình thức và nội dung được lập theo thông lệ quốc tế và các quy   định của pháp luật có liên quan.
- Hoá đơn điện tử được khởi tạo   lập, xử lý trên hệ thống máy tính của tổ chức đã được cấp mã sô thuế khi bán   hàng hoá, dịch vụ và được lưu trữ trên máy tính của các bên theo quy định của   pháp luật về giao dịch điện tử.
Hóa đơn điện tử đảm bảo nguyên   tắc: xác định được số hóa đơn theo nguyên tắc liên tục và trình tự thời gian,   mỗi số hóa đơn đảm bảo chỉ được lập và sử dụng một lần duy nhất.
- Hóa đơn đã lập dưới dạng   giấy nhưng được xử lý, truy có hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện tử không   phải là hóa đơn điện tử.
Căn cứ theo Điểm b Khoản 2 Điều 5 Thông tư 119/2014/TT-BTC:
“a) Tổ chức kinh doanh bán hàng hóa, dịch vụ có thể tạo, phát hành và sử dụng hóa đơn không nhất thiết phải có chữ ký người mua, dấu của người bán trong trường hợp sau: hóa đơn điện; hóa đơn nước; hóa đơn dịch vụ viễn thông; hóa đơn dịch vụ ngân hàng đáp ứng đủ điều kiện tự in theo hướng dẫn tại Thông tư này.
Trường hợp kinh doanh dịch vụ thì trên hóa đơn không nhất thiết phải có tiêu thức “đơn vị tính”.
Như vậy: Hóa đơn điện tử không cần phải đóng dấu của người bán và chữ ký người mua (Nếu DN bán hàng đủ điều kiện tự in hóa đơn).
- Điều kiện để DN được tự in hóa đơn các bạn xem tại khoản 1 điều 6 Thông tư 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014.
Theo Công văn 2402/BTC-TCT ngày 23/02/2016 của Bộ tài chính gửi: Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cụ thể như sau:
- Tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 của Chính phủ sửa đổi khoản 5 Điều 5 Nghị đinh số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định:
5. Tổ chức kinh doanh có thể đồng thời cùng lúc sử dụng nhiều hình thức hóa đơn khác nhau. Nhà nước khuyến khích hình thức hóa đơn điện tử.”
- Tại điểm e Khoản 1 và Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/03/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về nội dung của HĐĐT:
1. Hóa đơn điện tử phải có các nội dung sau:
e) Chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật của người bán; ngày, tháng năm lập và gửi hóa đơn. Chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật của người mua trong trường hợp người mua là đơn vị kế toán.
2. Một số trường hợp hóa đơn điện tử không có đầy đủ các nội dung bắt buộc được thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính”.
Căn cứ các quy định nêu trên:
- Trường hợp người mua không phải là đơn vị kế toán.
- Hoặc là đơn vị kế toán nếu có các hồ sơ, chứng từ chứng minh việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ giữa người bán với người mua như:
   + Hợp đồng kinh tế
   + Phiếu xuất kho
   + Biên bản giao nhận hàng hóa,
   + Biên nhận thanh toán,
   + Phiếu thu....
-> Thì người bán lập hóa đơn điện tử cho người mua theo quy định, trên hóa đơn điện tử không nhất thiết phải có chữ ký điện tử của người mua.

Bộ Tài chính giao Cục Thuế xem xét từng trường hợp phát sinh cụ thể và điều kiện đáp ứng của doanh nghiệp để hướng dẫn việc miễn tiêu thức chữ ký điện tử của người mua trên hóa đơn điện tử.
Ngoài ra Theo khoản 3 điều 4 Thông tư 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014
Các trường hợp sau không nhất thiết phải có đầy đủ các nội dung bắt buộc, trừ trường hợp nếu người mua là đơn vị kế toán yêu cầu người bán phải lập hóa đơn có đầy đủ các nội dung hướng dẫn tại khoản 1 Điều này:
- Hóa đơn tự in của tổ chức kinh doanh siêu thị, trung tâm thương mại được thành lập theo quy định của pháp luật không nhất thiết phải có tên, địa chỉ, mã số thuế, chữ ký của người mua, dấu của người bán.
- Đối với doanh nghiệp sử dụng hóa đơn với số lượng lớn, chấp hành tốt pháp luật thuế, căn cứ đặc điểm hoạt động kinh doanh, phương thức tổ chức bán hàng, cách thức lập hóa đơn của doanh nghiệp và trên cơ sở đề nghị của doanh nghiệp, Cục thuế xem xét và có văn bản hướng dẫn hóa đơn không nhất thiết phải có tiêu thức “dấu của người bán”.

- Đối với tem, vé: Trên tem, vé có mệnh giá in sẵn không nhất thiết phải có chữ ký người bán, dấu của người bán; tên, địa chỉ, mã số thuế, chữ ký người mua.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hướng dẫn điều chỉnh sai thuế suất trên hóa đơn đã lập?



Hóa đơn đã kê khai phát hiện sai xót thuế xuất phải xử lý như thế nào?
Công ty A xuất hóa đơn cho khách hàng là cá nhân trong tháng 3/2016. Công ty đã kê khai thuế, nhưng sau đó phát hiện sai sót về thuế suất trong hóa đơn (không chịu thuế ghi thành chịu thuế GTGT). Công ty A đề nghị cơ quan chức năng hướng dẫn giải quyết trường hợp này.

Về vấn đề này, Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:
Căn cứ Thông tư số 10/2014/TT-BTC ngày 17/1/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn.
Căn cứ quy định tại Khoản 3, Điều 20 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ:
“Trường hợp hóa đơn đã lập và giao cho người mua, đã giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ, người bán và người mua đã kê khai thuế, sau đó phát hiện sai sót thì người bán và người mua phải lập biên bản hoặc có thoả thuận bằng văn bản ghi rõ sai sót, đồng thời người bán lập hoá đơn điều chỉnh sai sót.
Hoá đơn ghi rõ điều chỉnh (tăng, giảm) số lượng hàng hoá, giá bán, thuế suất thuế GTGT..., tiền thuế GTGT cho hoá đơn số..., ký hiệu... Căn cứ vào hoá đơn điều chỉnh, người bán và người mua kê khai điều chỉnh doanh số mua, bán, thuế đầu ra, đầu vào. Hoá đơn điều chỉnh không được ghi số âm (-)...".
Tại Khoản 1, Điều 24 Thông tư số 39/2014/TT-BTC quy định: “Tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh nếu phát hiện mất, cháy, hỏng hóa đơn đã lập hoặc chưa lập phải lập báo cáo về việc mất, cháy, hỏng và thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp (mẫu số 3.8 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này) chậm nhất không quá 5 ngày kể từ ngày xảy ra việc mất, cháy, hỏng hóa đơn. Trường hợp ngày cuối cùng (ngày thứ 5) trùng với ngày nghỉ theo quy định của pháp luật thì ngày cuối cùng của thời hạn được tính là ngày tiếp theo của ngày nghỉ đó”.
Căn cứ các quy định trên, trường hợp công ty của bà Phượng xuất hóa đơn GTGT cho khách hàng là cá nhân trong tháng 3/2016, đã kê khai thuế sau đó phát hiện sai sót về thuế suất (không chịu thuế ghi sai thành chịu thuế GTGT) thì công ty và người mua phải lập biên bản hoặc có thoả thuận bằng văn bản ghi rõ sai sót.
Đồng thời, công ty lập hoá đơn điều chỉnh sai sót. Hoá đơn ghi rõ điều chỉnh (tăng, giảm) thuế suất thuế GTGT..., tiền thuế GTGT cho hoá đơn số..., ký hiệu... Căn cứ vào hoá đơn điều chỉnh, công ty kê khai điều chỉnh doanh số bán, thuế đầu ra. Hoá đơn điều chỉnh không được ghi số âm (-).
Công ty không bị xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn đối với trường hợp người mua là cá nhân làm mất hóa đơn.
Theo chinhphu.vn

Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Khái niệm và cách hạch toán các trường hợp chiết khấu thương mại



Chiết khấu thương mại là một loại chiết khấu mà nhiều doanh nghiệp dùng để thu hút khách hàng, việc kế toán khoản chiết khấu thương mại trên thực tế như thế nào là một vấn đề mà nhiều giảng viên, học viên ngành kế toán doanh nghiệpvà các nhân viên kế toán rất quan tâm. Do vậy bài viết Kế toán Hà Nội sẽ đề cập cụ thể thực tế về kế toán khoản chiết khấu thương mại để giúp người học, các giảng viên và các nhân viên kế toán tiếp cận một phần hành kế toán.


Trường hợp 1. Chiết khấu thương mại theo từng lần mua:

- Hàng hoá, dịch vụ áp dụng hình thức chiết khấu thương mại dành cho khách hàng  thì trên hóa đơn GTGT ghi giá bán đã chiết khấu thương mại , thuế GTGT, tổng giá thanh toán đã có thuế GTGT.

=> Khoản chiết khấu thương mại này không được hạch toán vào TK 5211. Doanh thu bán hàng phản ánh theo giá đã trừ chiết khấu thương mại.

Ví dụ :  Ngày 22/12/2016 Công ty A có chương trình chiết khấu thương mại từ ngày 22/12/2016 đến 31/12/2016 như sau: Mua 10 sản phẩm X trị giá 10.000.000/1 cái (giá chưa có thuế), sẽ được hưởng chiết khấu thương mại là 10%.

Ngày 25/12/2016  Công ty B mua 10 sản phẩm X theo hợp đồng thì được hưởng chiết khấu thương mai là 10%. (tức 1.000.000 VND/1 sản phẩm)

=> Giá bán chưa thuế là: 10.000.000 – 1.000.000 = 9.000.000.

Cách hạch toán chiết khấu thương mại trong trường hợp này như sau:

1. BÊN BÁN HẠCH TOÁN

Nợ TK 112,131: 99.000.000 VND

Có TK 511: 90.000.000 VND

Có TK 3331: 9.000.000 VND

2. BÊN MUA HẠCH TOÁN

Nợ TK 152,156,..: 90.000.000 VND

Nợ TK 133: 9.000.000 VND

Có TK 112,331:99.000.000 VND

Trường hợp 2. Trường hợp người mua hàng nhiều lần mới đạt được lượng hàng mua được chiết khấu thì khoản CKTM này được ghi giảm trừ vào giá bán trên  Hóa đơn GTGT  lần cuối cùng

=>  Khoản CKTM trong các trường hợp này được hạch toán vào TK 5211.

Ví Dụ:   Ngày 20/12/2016 Công ty A ký hợp đồng số 01-1214-AB với Công ty B: Mua 10 sản phẩm X trị giá 10.000.000VND/1 cái (giá chưa có thuế), chiết khấu thương mại 10%.

- Ngày 20/12/2016: Công ty B mua 7 cái. (Lần mua hàng này vì chưa đủ số lượng của chương trình chiết khấu nên chưa được chiết khấu, công ty A vẫn xuất hoá đơn cho công ty B với giá 10.000.000 VND)

- Ngày 25/12/2016: Công ty B mua 3 Cái  (Lần mua hàng này tính tổng lượng hàng công ty B mua đã đủ 10 chiếc, như vậy công ty B được chiết khấu thương mại 10%)

=> Công ty A khi viết hoá đơn lần cuối cùng này sẽ trừ phần chiết khấu thương mại 10% của toàn bộ hợp đồng.

và  Tổng số tiền chiết khấu là: 10*10.000.000*10%= 10.000.000 VND

Cách hạch toán chiết khấu thương mại trong trường hợp này như sau:

1. BÊN BÁN HẠCH TOÁN

- Ngày 20/12/2016:

Nợ TK 112,131: 77.000.000 VND

Có TK 511: 70.000.000 VND

Có TK 3331: 7.000.000 VND

- Ngày 25/12/2016

Hạch toán doanh thu bán hàng

Nợ TK 112,131: 33.000.000 VND

Có TK 511: 30.000.000 VND

Có TK 3331 : 3.000.000 VND

Hạch toán chiết khấu thương mại

Nợ TK  5211: 10.000.000 VND

Nợ TK 3331: 1.000.000 VN

Có TK 112,131: 11.000.000 VND

2. BÊN MUA HẠCH TOÁN

- Ngày 20/12/2016:

Nợ TK 152,156,: 70.000.000 VND

Nợ TK 133: 7.000.000 VND

Có TK 112,331: 77.000.000 VND

- Ngày 25/12/2016

Hạch toán tiền mua hàng:

Nợ TK 152,156,..: 30.000.000 VND

Nợ TK 133: 3.000.000 VND

Có TK 112,331: 33.000.000 VND

Hạch toán chiết khấu thương mại

Nợ TK 112,331: 11.000.000 VND

Có TK 133: 1.000.000 VD

Có TK 152,156...: 10.000.000 VND

- Cuối kỳ, kết chuyển số chiết khấu thương mại sang tài khoản doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ:

Nợ TK 511 - 10.000.000 VND

          Có TK 5211 - 10.000.000 VND

Trường hợp 3. Nếu kết thúc chương trình (kỳ) khuyến mãi mới lập hoá đơn:

-Trường hợp Công ty mua hàng nhiều lần, người bán có chương trình giảm giá, chiết khấu thương mại do mua đạt được doanh số nhất định, số tiền chiết khấu được lập khi kết thúc chương trình (kỳ) giảm giá, chiết khấu hàng bán thì người bán được lập hoá đơn điều chỉnh kèm bảng kê các số hóa đơn cần điều chỉnh, số tiền, tiền thuế điều chỉnh.

- Căn cứ vào hoá đơn điều chỉnh, bên bán và bên mua kê khai điều chỉnh doanh số mua, bán, thuế đầu ra, đầu vào.

Ví dụ:  Công ty A có chương trình chiết khấu từ ngày 20/12/2016 đến 31/12/2016 Mua 10 sản phẩm X trị giá 10.000.000/1 cái (giá chưa có thuế), chiết khấu thương mại 10%(1.000.000 VND/1 sản phẩm X). Nếu kết thúc chương trình  tức là hết ngày 31/12/2016 khách hàng nào đạt được chỉ tiêu sẽ được hưởng chiết khấu TM  

- Ngày 20/12/2016: Công ty B mua 7 cái. ( công ty A  xuất hoá đơn 0000955 cho công ty B với giá 10.000.000 )

- Ngày 25/12/2016: Công ty B mua 3 Cái  ( công ty A  xuất hoá đơn 0001001 cho công ty B với giá 10.000.000 )

=> Sau ngày 31/12/2016 (Hết chương trình chiết khấu) xét thấy công ty B đạt chỉ tiêu của chương trình chiết khấu thì công ty A xuất hoá đơn điều chỉnh cho 2 hoá đơn 0000955 và 0001001 như sau

Cách hạch toán chiết khấu thương mại trong trường hợp này như sau:

BÊN BÁN HẠCH TOÁN:

- Ngày 20/12/2016 Hạch toán doanh thu bán hàng:

Nợ TK 112,131: 77.000.000 VND

Có TK 511: 70.000.000 VND

Có TK 3331: 7.000.000 VND

- Ngày 25/12/2016 Hạch toán doanh thu bán hàng:

Nợ TK 112,131: 33.000.000 VND

Có TK 511: 30.000.000 VND

Có TK 3331 : 3.000.000 VND

=> Khi hết chương trình chiết khẩu Phản ánh số chiết khấu thương mại phát sinh trong kỳ:

Nợ TK  5211: 10.000.000 VND

Nợ TK 3331: 1.000.000 VN

Có TK 112,131: 11.000.000 VND

- Cuối kỳ, kết chuyển số chiết khấu thương mại sang tài khoản doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ:

Nợ TK 511 - 10.000.000 VND

          Có TK 5211 - 10.000.000 VND



BÊN MUA HẠCH TOÁN:

- Ngày 20/12/2016 Hạch toán chi phí mua hàng

Nợ TK 152,156:  70.000.000 VND

Nợ TK 133: 7.000.000 VND

Có TK 112,331: 77.000.000 VND

- Ngày 25/12/2016 Hạch toán chi phí mua hàng

Nợ TK 152,156,..: 30.000.000 VND

Nợ TK 133: 3.000.000 VND

Có TK 112,331: 33.000.000 VND

=> Khi hết chương trình chiết khẩu Phản ánh số tiền chiết khấu thương mại

Nợ TK 112,331: 11.000.000 VND

Có TK 133: 1.000.000 VD


Có TK 152,156...: 10.000.000 VND
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Thông tư số 20/2017/TT-BTC: Sửa đổi, bổ sung đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt



Chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 20/4/2017, Thông tư số 20/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 8 Thông tư số 195/2015/TT-BTC ngày 24/11/2015 được nhiều doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu đánh giá là kịp thời theo yêu cầu thực tiễn.

Thực tế, Thông tư số 195/2015/TT-BTC ngày 24/11/2015 đã được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016, tuy nhiên trước những yêu cầu phát sinh từ thực tiễn, Bộ Tài chính tiếp tục điều chỉnh, sửa đổi đảm bảo hài hòa, hợp lý.

Theo đó, tại Thông tư số 20/2017/TT-BTC, Bộ Tài chính quy định: Người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB ) đối với hàng hóa chịu thuế TTĐB nhập khẩu được khấu trừ số thuế TTĐB đã nộp ở khâu nhập khẩu khi xác định số thuế TTĐB phải nộp bán ra trong nước.

Số thuế TTĐB được khấu trừ tương ứng với số thuế TTĐB của hàng hóa chịu thuế TTĐB nhập khẩu bán ra và chỉ được khấu trừ tối đa bằng tương ứng số thuế TTĐB tính được ở khâu bán ra trong nước. Đối với số thuế TTĐB không được khấu trừ thuế, người nộp thuế được hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp.

Cùng với đó, Thông tư cũng quy đinh rõ các điều kiện khấu trừ thuế TTĐB được quy định như sau:

Một là, đối với trường hợp nhập khẩu nguyên liệu chịu thuế TTĐB để sản xuất hàng hóa chịu thuế TTĐB và trường hợp nhập khẩu hàng hóa chịu thuế TTĐB thì chứng từ để làm căn cứ khấu trừ thuế TTĐB là chứng từ nộp thuế TTĐB khâu nhập khẩu;

Hai là, trường hợp mua nguyên liệu trực tiếp của nhà sản xuất trong nước thì cần phải đáp ứng cấc điều kiện sau:

Hợp đồng mua bán hàng hóa (trong hợp đồng phải có nội dung thể hiện hàng hóa do cơ sở bán hàng trực tiếp sản xuất), Bản sao Giấy chứng nhận kinh doanh của cơ sở bán hàng (có chữ ký, đóng dấu của cơ sở bán hàng); Chứng từ thanh toán qua ngân hàng; Chứng từ để làm căn cứ khấu trừ thuế TTĐB là hóa đơn GTGT khi mua hàng.

Theo đó, số thuế TTĐB mà đơn vị mua hàng đã trả khi mua nguyên liệu được xác định = giá tính thuế TTĐB nhân (x) thuế suất thuế TTĐB. Trong đó:

Giá tính thuế TTĐB = (Giá mua chưa có thuế TTĐB (thể hiện trên hóa đơn GTGT) - Thuế bảo vệ môi trường (nếu có)): (1 + thuế suất thuế TTĐB )
Việc khấu trừ tiền thuế TTĐB được thực hiện khi kê khai thuế TTĐB, thuế TTĐB phải nộp được xác định theo công thức sau:

Số thuế TTĐB phải nộp = Số thuế TTĐB của hàng hóa chịu thuế TTĐB được bán ra trong kỳ - Số thuế TTĐB đã nộp đối với hàng hóa, nguyên liệu ở khâu nhập khẩu hoặc số thuế TTĐB đã trả ở khâu nguyên liệu mua vào tương ứng với số hàng hóa được bán ra trong kỳ.
Nếu chưa xác định được chính xác số thuế TTĐB đã nộp (hoặc đã trả) cho số nguyên vật liệu tương ứng với số sản phẩm tiêu thụ trong kỳ thì có thể căn cứ vào số liệu của kỳ trước để tính số thuế TTĐB được khấu trừ và sẽ xác định theo số thực tế vào cuối quý, cuối năm.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định, trong mọi trường hợp, số thuế TTĐB được phép khấu trừ tối đa không vượt quá số thuế TTĐB tính cho phần nguyên liệu theo tiêu chuẩn định mức kinh tế kỹ thuật của sản phẩm. Cơ sở sản xuất phải đăng ký định mức kinh tế kỹ thuật của sản phẩm với cơ quan thuế trực tiếp quản lý cơ sở.

Đối với các doanh nghiệp được phép sản xuất xăng E5, E10, việc kê khai nộp thuế, khấu trừ thuế TTĐB được thực hiện tại cơ quan thuế địa phương nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính. Số thuế TTĐB chưa được khấu trừ hết trong kỳ của xăng E5, E10 được bù trừ với số thuế TTĐB phải nộp của hàng hóa, dịch vụ khác.

Người nộp thuế TTĐB thực hiện nộp Tờ khai thuế TTĐB theo Mẫu số 01/TTĐB và Bảng xác định thuế TTĐB được khấu trừ (nếu có) của nguyên liệu mua vào, hàng hóa nhập khẩu (Mẫu số 01-1/TTĐB ) được ban hành kèm theo Thông tư này”.


Theo Tạp chí tài chính
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Nâng cấp phần mềm hỗ trợ kê khai thuế htkk 3.4.2



Nâng cấp phần mềm hỗ trợ kê khai thuế htkk 3.4.2

Từ ngày 07/4/2017, khi kê khai tờ khai thuế có liên quan đến nội dung nâng cấp nêu trên, tổ chức cá nhân nộp thuế sẽ sử dụng các mẫu biểu kê khai tại ứng dụng HTKK 3.4.2, iHTKK 3.4.2 thay cho các phiên bản trước đây.

 Hướng dẫn sử dụng ứng dụng bạn xem thêm tại địa chỉ sau: 
+       Ứng dụng HTKK phiên bản 3.4.2:
http://www.gdt.gov.vn/wps/portal/home/hotrokekhai
+       Ứng dụng iHTKK phiên bản 3.4.2: Thực hiện kê khai tại http://kekhaithue.gdt.gov.vn

Tải phần mềm hỗ trợ kê khai về:>> HTKK 3.4.2
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Giảm mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ 01/6/2017




Nghị định 44/2017/NĐ-CP quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Ngày 14 tháng 04 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc ký ban hành Nghị định số 44/2017/NĐ-CP Quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.


Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người sử dụng lao động vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Điều 2. Đối tượng áp dụng
Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc (sau đây gọi tắt là người lao động), bao gồm:
a) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức.
b) Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu.
c) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân.

d) Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí.
đ) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 03 tháng trở lên và người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng. Không bao gồm người lao động là người giúp việc gia đình.
e) Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý Điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương.
Người sử dụng lao động theo quy định tại Khoản 3 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội.

Điều 3. Mức đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong bảo hiểm xã hội bắt buộc
Người sử dụng lao động hằng tháng đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Khoản 3 Điều 44 Luật an toàn, vệ sinh lao động với mức như sau:
Mức 0,5 % trên quỹ tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của người lao động quy định tại các Điểm a, b, d, đ và e Khoản 1 Điều 2 Nghị định này.

Trường hợp người sử dụng lao động là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo sản phẩm hoặc khoán được thực hiện hằng tháng, 03 tháng hoặc 06 tháng một lần.
Mức 0,5% trên mức lương cơ sở đối với mỗi người lao động quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 2 Nghị định này.
Mức đóng quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2019.

Điều 4. Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 06 năm 2017.
Các quy định tại Điều 4 và khoản 1 Điều 34 của Nghị định số 37/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật an toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực.
Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng được áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2018.

Theo đó, người sử dụng lao động chỉ còn đóng 0.5 % (hiện hành là 1.0%) trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Luật Kế toán mới và ứng dụng CNTT trong kế toán doanh nghiệp



Đáp ứng yêu cầu hội nhập về kế toán – tài chính quốc tế, Quốc hội đã thông qua Luật Kế toán năm 2015 – Luật số 88/2015/QH13 gồm 6 Chương, 74 Điều. Một trong những mục tiêu của việc sửa đổi Luật Kế toán nhằm nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hệ thống kế toán Việt Nam, qua đó, nâng cao chất lượng của công tác kế toán với vai trò là công cụ quản lý tài chính, vốn, tài sản của nhà nước, của doanh nghiệp, là công cụ quản lý, giám sát của Nhà nước. Luật Kế toán năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2017.


Những điểm mới về ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán

Nỗ lực đưa ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào hoạt động quản lý kinh tế vĩ mô và vi mô thời gian qua đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, trong đó phải kể đến vai trò của CNTT trong công tác kế toán.

Các quy định của pháp luật hiện hành về ứng dụng CNTT trong tổ chức hệ thống kế toán tại Việt Nam đã được thể hiện kể từ Luật Kế toán Việt Nam - Luật số 03/2003/QH11 (Luật Kế toán 2003). Đáp ứng yêu cầu của hội nhập, sau hơn 13 năm triển khai thực hiện, với những yêu cầu, đổi mới từ thực tiễn Quốc hội đã thông qua Luật Kế toán sửa đổi - Luật số 88/2015/QH13 (Luật Kế toán 2015) thay thế cho Luật Kế toán 2003. So với Luật Kế toán 2003, Luật số 88/2015/QH13 đã đề cập nhiều hơn tới các quy định ứng dụng CNTT vào lĩnh vực kế toán. Điển hình như:

- Về quy định chứng từ điện tử: Luật Kế toán 2015 đã quy định cụ thể hơn về giá trị của chứng từ điện tử: “Khi chứng từ bằng giấy được chuyển thành chứng từ điện tử để giao dịch, thanh toán hoặc ngược lại thì chứng từ điện tử có giá trị để thực hiện nghiệp vụ kinh tế, tài chính, chứng từ bằng giấy chỉ có giá trị lưu giữ để ghi sổ, theo dõi và kiểm tra, không có hiệu lực để giao dịch, thanh toán”. Vấn đề này, Luật Kế toán 2003 chưa được cụ thể hóa mà chỉ được đề cập đến trong Nghị định 129/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Kế toán 2003;

- Về chữ ký trên chứng từ điện tử: Luật Kế toán 2015 quy định cụ thể hơn, chữ ký của chứng từ điện tử đều có giá trị như chứng từ bằng giấy;

- Về lập và lưu trữ chứng từ kế toán: Theo quy định của Luật Kế toán 2015 thì chứng từ không nhất thiết phải in ra giấy như quy định của Luật Kế toán 2003, mà có thể thực hiện lưu trữ trên các phương tiện điện tử khi đủ điều kiện bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin dữ liệu và tra cứu được trong thời hạn lưu trữ.

Điều này hoàn toàn phù hợp với Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 (Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác; Thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu. Thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc khi đủ điều kiện);

- Về mở sổ, ghi sổ, khóa sổ và lưu trữ sổ kế toán: Tương tự như lập và lưu trữ chứng từ, việc lưu trữ sổ kế toán theo Luật Kế toán 2015 không nhất thiết phải in sổ kế toán ra giấy và đóng thành quyển riêng cho từng kỳ kế toán năm, mà có thể thực hiện lưu trữ sổ kế toán trên các phương tiện điện tử khi bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin dữ liệu và tra cứu được trong thời hạn lưu trữ;

- Về chữa sổ kế toán: Luật Kế toán 2003 và Luật Kế toán 2015 đều cho phép sửa chữa sổ kế toán theo đúng phương pháp chữa sổ quy định, nếu đơn vị ghi sổ kế toán bằng phương tiện điện tử thì ghi điều chỉnh bằng cách lập “chứng từ điều chỉnh” và ghi thêm số chênh lệch cho đúng.

Trên cơ sở nền tảng của Luật Kế toán, Luật Giao dịch điện tử, Luật CNTT, doanh nghiệp (DN) Việt Nam đã và đang tập trung ứng dụng CNTT vào công tác kế toán theo ba mức độ sau:

Một là, mức độ sơ khai: “xử lý bán thủ công” (phổ biến vào những năm 1990-1995);
Hai là, mức độ tự động hóa công tác kế toán (phổ biến từ những năm 1995 - nay);
Ba là, mức độ tự động hóa công tác quản lý nguồn lực, trong đó có kế toán.

Hiện nay Việt Nam đang trong giai đoạn thứ hai của quá trình đầu tư ứng dụng CNTT toàn diện để nâng cao năng lực quản lý và sản xuất kinh doanh của DN, trong đó bao gồm cả công tác kế toán. Cụ thể là ứng dụng tự động hóa công tác kế toán trên cơ sở DN thực hiện công tác kế toán với một phần mềm kế toán.

Doanh nghiệp Việt Nam ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán theo ba mức độ sau: Một là, mức độ sơ khai: “xử lý bán thủ công” (phổ biến vào những năm 1990-1995); Hai là, mức độ tự động hóa công tác kế toán (phổ biến từ những năm 1995-nay); Ba là, mức độ tự động hóa công tác quản lý nguồn lực, trong đó có kế toán.

Các gói phần mềm kế toán có thể đi kèm với một loạt các tính năng chuyên ngành hoặc một chương trình chung chung mà có thể được tùy chỉnh sao cho phù hợp với hoạt động kinh doanh của DN. Các tổ chức, cá nhân cung cấp phần mềm kế toán phải chịu trách nhiệm đảm bảo tiêu chuẩn và điều kiện của phần mềm kế toán theo quy định của Bộ Tài chính khi cung cấp cho các đơn vị kế toán.

Về hình thức kế toán và mẫu sổ kế toán, Điều 122, Thông tư 200/2014/TT-BTC quy định: “Tùy theo đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý, DN được tự xây dựng hình thức ghi sổ kế toán cho riêng mình trên cơ sở đảm bảo thông tin về các giao dịch phải được phản ánh đầy đủ, kịp thời, dễ kiểm tra, kiểm soát và đối chiếu”... “DN được tự xây dựng biểu mẫu sổ kế toán cho riêng mình nhưng phải đảm bảo cung cấp thông tin về giao dịch kinh tế một cách minh bạch, đầy đủ, dễ kiểm tra, dễ kiểm soát và dễ đối chiếu...”.

Những vấn đề đặt ra

Nhìn chung, tất cả các văn bản pháp luật hiện nay đều đề cập khá đơn giản về việc áp dụng hình thức kế toán trên máy vi tính, không hướng dẫn hoặc quy định một cách chi tiết. Về hình thức kế toán, mẫu sổ kế toán, tuy đã được cụ thể hóa trong Thông tư 200/2014/TT-BTC nhưng không quy định bắt buộc về mẫu sổ, nội dung và phương pháp ghi chép đối với các loại sổ kế toán; quy trình ghi sổ kế toán...

Có nghĩa là khi DN ứng dụng CNTT vào công tác kế toán sẽ không bị áp đặt theo từng hình thức kế toán như trước đây. Vậy nhưng, ở Luật Kế toán 2003 lẫn Luật Kế toán 2015 lại cho phép sửa chữa, điều chỉnh sổ kế toán theo tinh thần Chuẩn mực kế toán VAS23 và VAS 29. Đây là nội dung tác động nhiều đến quá trình xử lý dữ liệu sổ kế toán trong trường hợp DN sử dụng phần mềm kế toán… Cụ thể:

Thứ nhất, cụm từ “dễ kiểm tra, kiểm soát và đối chiếu” nêu trong quy định mẫu sổ kế toán: “DN được tự xây dựng biểu mẫu sổ kế toán cho riêng mình nhưng phải đảm bảo cung cấp thông tin về giao dịch kinh tế một cách minh bạch, đầy đủ, dễ kiểm tra, dễ kiểm soát và dễ đối chiếu....” chỉ mang tính chung chung, lợi dụng kẽ hở này, DN sẽ xây dựng biểu mẫu rất “linh hoạt” khiến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra... khó đưa ra yêu cầu cung cấp mẫu sổ kế toán cho đơn vị kế toán.

Mặt khác, đáp ứng quy định này, người làm công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán đòi hỏi phải có được kiến thức tổng hợp, linh hoạt ứng xử để có thể hoàn thành chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của mình. Đặc biệt là phải có trình độ để truy xuất thông tin dữ liệu từ phần mềm kế toán qua Microsoft Excel để xem xét các sổ kế toán, các báo cáo của đơn vị kế toán.
Thứ hai, việc sửa chữa, điều chỉnh sổ kế toán, báo cáo tài chính khi phát hiện sai sót trọng yếu từ những năm trước cần phải điều chỉnh hồi tố khi đơn vị kế toán áp dụng phần mềm kế toán cũng là một nội dung gây trở ngại lớn đối với người xây dựng phần mềm kế toán.

Do đó, các đơn vị cung cấp phần mềm thường khuyến cáo các đơn vị kế toán khi bắt đầu áp dụng phần mềm kế toán phải hết sức thận trọng để quyết định chính sách kế toán, các ước tính kế toán của mình (ví dụ phương pháp tính giá hàng tồn kho, phương pháp khấu hao tài sản cố định...). Bởi lẽ, thông tin được điều chỉnh không những tác động đến sổ kế toán mà còn tác động đến thông tin trên báo cáo tài chính của nhiều kỳ kế toán có liên quan.

Mặt khác, đơn vị cung cấp thiết kế phần mềm kế toán cần phải cung cấp hoặc trình bày cơ chế kiểm soát “Dấu vết điều chỉnh, sửa chữa”, nội dung cụ thể cần được lưu ý như sau:

(i) Tự động ghi nhận các hành vi truy cập hệ thống, chỉnh sửa, thêm, xóa dữ liệu trên một tập tin riêng. Tập tin này phải được bảo mật cao nhất trong hệ thống, mặc định là không được phép xóa, người có quyền cao nhất trong hệ thống chỉ được xem và in ra dấu vết kiểm toán từ nội dung của tập tin này.
(ii) Việc chỉnh sửa số liệu của các chức năng kế toán tổng hợp phải độc lập với các chỉnh sửa số liệu trên các phân hệ khác; việc chỉnh sửa số liệu trên thông tin kế toán chi tiết không làm thay đổi hay ảnh hưởng đến sổ kế toán tổng hợp nếu chưa được sự đồng ý phê duyệt (thông qua mật khẩu và nhật ký ghi nhận “Dấu vết điều chỉnh, sửa chữa”) của người có trách nhiệm cao nhất trong đơn vị kế toán...

Thứ ba, Luật Kế toán 2013, Luật Kế toán 2015 và các văn bản chế độ kế toán hiện nay chỉ quy định các tổ chức, cá nhân cung cấp phần mềm kế toán phải chịu trách nhiệm đảm bảo tiêu chuẩn và điều kiện của phần mềm kế toán theo quy định của Bộ Tài chính khi cung cấp cho các đơn vị kế toán (Thông tư 103/2005/TT-BTC “hướng dẫn về tiêu chuẩn và điều kiện của phần mềm kế toán”). Theo quy định trên, các đơn vị xây dựng và cung cấp phần mềm hoạt động theo kiểu “trăm hoa đua nở” và với đa dạng sản phẩm trên thị trường phần mềm kế toán.

Ví dụ: Phân loại phần mềm kế toán theo quy mô của DN (lớn, vừa, nhỏ); phân loại phần mềm kế toán theo ngành nghề như: Chuyên ngành xây lắp, chuyên ngành sản xuất công nghiệp, chuyên ngành vận chuyển, logistics; phần mềm hành chính sự nghiệp... Điều này gây nên những khó khăn nhất định cho đơn vị kế toán trong việc mua sản phẩm đóng gói hay sản phẩm phần mềm đặt hàng thiết kế theo hoạt động của đơn vị.

Quan trọng hơn, khi Luật Kế toán quy định và cho phép ứng dụng CNTT vào công tác kế toán một cách cởi mở như vậy thì yêu cầu về trình độ cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán buộc phải tinh thông trên nhiều lĩnh vực, nhiều phần mềm kế toán trên thị trường phần mềm kế toán và đây là yêu cầu khó có thể đáp ứng được ngay cho những người hoạt động trong lĩnh vực này.

Thứ tư, Luật Kế toán 2003 và Luật Kế toán 2015 không quy định cụ thể trong trường hợp DN ứng dụng phần mềm kế toán thì việc lập báo cáo tài chính như thế nào để đảm bảo nguyên tắc “tôn trọng nội dung, bản chất hơn hình thức”. Vì vậy, tại thời điểm lập báo cáo tài chính, nếu đơn vị cung cấp phần mềm kế toán “lập trình cứng” chương trình tự động kết xuất thông tin từ các tệp dữ liệu đã được ghi nhận sau khi nhập liệu, thì báo cáo tài chính dễ gặp rủi ro về tính chính xác của thông tin bởi thiếu đi một “xét đoán” của người lập báo cáo tài chính để đảm bảo yêu cầu thông tin phải phản ánh trung thực đúng “bản chất” của thực trạng đơn vị kế toán tại thời điểm lập báo cáo.

Do vậy, người (đơn vị) lập trình phần mềm kế toán cần thiết phải có được phân hệ “lập báo cáo tài chính linh hoạt” trước những xét đoán đúng bản chất của thông tin được trình bày lên báo cáo. Ví dụ như, các thông tin về tài sản trong ngắn hạn, dài hạn; công nợ trong ngắn hạn, dài hạn... thông thường được các nhà lập trình khai báo trong danh mục tài khoản chi tiết bởi các trường cụ thể từ trước.

Theo đó, các thông tin đầu vào khi nhập dữ liệu sẽ được cập nhật vào các tài khoản kế toán chi tiết đã được mặc định theo danh mục. Thế nhưng, tại thời điểm lập báo cáo tài chính có thể có bằng chứng buộc kế toán đơn vị phải tái phân loại theo đúng bản chất của tài sản, công nợ... để trình bày thông tin, chứ không phải căn cứ vào thông tin đã được ghi nhận vào tài khoản chi tiết đã được xây dựng theo danh mục là ngắn hạn, dài hạn từ trước...

Điều này không có nghĩa là kế toán thực hiện truy xuất ngược, để điều chỉnh thông tin trên sổ tài khoản kế toán đã được ghi nhận trước đó (tại thời điểm nhập dữ liệu, ghi nhận thông tin vẫn đúng với bản chất giao dịch, đúng với tài khoản kế toán chi tiết được ghi nhận).

Luật Kế toán và các văn bản pháp quy hiện hành đã cụ thể hóa được khá nhiều nội dung về chế độ kế toán hiện hành, nhất là đã tạo ra một hành lang pháp lý linh hoạt hơn so với các quyết định và chế độ tài chính - kế toán cứng nhắc trước đây về nhiều phương diện. Luật Kế toán cũng đã tạo ra cơ hội gắn kết, thống nhất với các văn bản pháp luật liên quan như Luật Giao dịch thương mại, Luật CNTT... để củng cố chức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Một sân chơi thực sự bình đẳng trước pháp luật là nhu cầu khách quan của các DN hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Như vậy, đáp ứng với thời cuộc, các văn bản pháp luật kế toán cũng cần phải điều chỉnh theo hướng thuận lợi hơn, cụ thể hơn dưới dạng các văn bản nghị định, thông tư hướng dẫn…

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội, Luật Kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17/6/2003; Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015;
2. Chính phủ, Nghị định số129/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế toán áp dụng trong hoạt động kinh doanh;
3. Quốc hội, Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 ngày 29/11/2005;
4. Quốc hội, Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006.

Bài đăng trên tạp chí Tài chính kỳ I tháng 11/2016

Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


 

© 2012 Địa chi học kế toán thực hành uy tín All Rights Reserved Tìm việc kế toán