Lại chuyện hợp đồng vô hiệu do vi phạm thẩm quyền



Một doanh nghiệp start up đình đám của Việt Nam mới đây đã vướng vào một vụ tranh chấp hợp đồng cung ứng. Theo thông tin báo chí, nguyên nhân của tranh chấp là do hai bên không thống nhất về số nợ. Phía doanh nghiệp cho rằng, nguyên nhân tranh chấp là do một số giấy tờ đã ký giữa hai bên không có hiệu lực do nhân sự phụ trách vào thời điểm ấy không còn thẩm quyền ký.
Câu chuyện này lại một lần nữa làm nóng lên câu hỏi: Hợp đồng thương mại liệu có vô hiệu khi người ký vi phạm thẩm quyền theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành?

Quy định ở Việt Nam
Pháp luật Việt Nam quy định về vấn đề này như thế nào?
Vấn đề này được quy định trong Bộ luật Dân sự (BLDS) - được coi là văn bản pháp luật gốc điều chỉnh các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm.
Điều gì sẽ xảy ra khi người nhân danh công ty ký kết hợp đồng không phải là người đại diện hợp pháp của công ty? Hợp đồng sẽ không phát sinh hiệu lực pháp luật do việc xác lập giao dịch hợp đồng không phải xuất phát từ ý chí của công ty.
Điều 145 BLDS 2005 quy định: giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người đại diện hoặc người được đại diện đồng ý.
Biểu hiện của “sự đồng ý” là người đã giao dịch với người không có quyền đại diện phải thông báo cho người được đại diện của người đó để trả lời trong thời hạn ấn định; nếu hết thời hạn này mà không trả lời thì giao dịch đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện.
Điều 146 BLDS 2005 quy định về hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện như sau: giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối. Như vậy, nếu người được đại diện là đại diện theo pháp luật của công ty thể hiện sự đồng ý hoặc không phản đối giao dịch này thì giao dịch vẫn phát sinh hiệu lực.
Kể từ ngày 1-1-2017, khi BLDS năm 2015 có hiệu lực, vấn đề hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện sẽ được điều chỉnh chi tiết hơn. Theo khoản 2, điều 143, BLDS 2015 về hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện quy định “...người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch”. Giao dịch vượt quá phạm vi đại diện chỉ làm phát sinh nghĩa vụ của người được đại diện trong các trường hợp:
- Người được đại diện đã công nhận giao dịch;
- Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;
- Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện (khoản 1, điều 143).
Như vậy so với BLDS 2005, BLDS 2015 đã bổ sung trường hợp người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện nhằm bảo đảm quyền lợi của một bên chủ thể trong giao dịch.
Việc công ty A xác lập quan hệ hợp đồng với công ty B mà không biết hoặc không thể biết người đứng ra ký kết hợp đồng của công ty B không phải là người đại diện hợp pháp của công ty do lỗi của công ty B không thông báo cho công ty A thì hợp đồng vẫn có hiệu lực. Pháp luật bảo vệ quyền lợi của công ty B trong giao dịch này. Công ty A không được dùng lý do là hợp đồng không được ký bởi người đại diện hợp pháp của công ty để thoái thác trách nhiệm.
Tuy các quy định mới đã có những tiến bộ trong ràng buộc trách nhiệm của công ty nhưng quyền của người thứ ba ngay tình trong giao dịch với công ty vẫn còn chưa được bảo vệ thỏa đáng. Họ chỉ có thể yêu cầu đối tác thực hiện hợp đồng do người đại diện không có thẩm quyền ký kết hoặc vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện nếu họ chứng minh được người đại diện theo pháp luật của công ty biết mà không phản đối hoặc người đại diện theo pháp luật đã công nhận giao dịch. Gánh nặng chứng minh trong trường hợp này thuộc về bên thứ ba. Chi phí giao dịch giữa công ty với bên thứ ba cũng tăng lên tương ứng do bên thứ ba phải có trách nhiệm tìm hiểu về thẩm quyền của người xác lập giao dịch với mình, nhằm tránh trường hợp hợp đồng vô hiệu do người ký không có thẩm quyền.
Kinh nghiệm ở Úc
Liên quan đến vấn đề này, pháp luật của một số nước theo thông luật mà đơn cử như pháp luật của Úc đã có các quy định cởi mở hơn nhằm tăng cường bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch với công ty, đồng thời tạo ra sức ép để các công ty phải hoàn thiện cơ chế quản trị nội bộ.
Theo luật công ty Úc, người thứ ba ngay tình có quyền suy đoán (statutory assumptions) về “thẩm quyền đương nhiên” (apparent authority) hoặc thẩm quyền mặc định (implied actual authority) của một đại diện công ty khi thực hiện các giao dịch với người đại diện. Nghĩa là về nguyên tắc, hợp đồng do người đại diện ký vượt quá phạm vi thẩm quyền đại điện (defective contracts) vẫn có hiệu lực, trừ khi công ty (người được đại diện) có thể chứng minh rằng người thứ ba không ngay tình. Câu chuyện vượt quá thẩm quyền đại diện chỉ là câu chuyện của hai bên - bên đại diện và bên được đại diện - chứ không phải gánh nặng của bên thứ ba - người có giao dịch với công ty thông qua người đại diện.
Nguyên tắc “việc trong nhà” (indoor management rule) và quyền suy đoán dựa trên luật pháp (statutory assumptions)
Pháp luật công ty của Úc cho phép người thứ ba ngay tình được giả định rằng người đại diện công ty ký kết hợp đồng là người được bổ nhiệm hợp pháp, giao dịch đó đã được ban giám đốc công ty thông qua (nếu đó là loại giao dịch yêu cầu phải có sự thông qua của ban giám đốc) và các thủ tục nội bộ của công ty liên quan đến giao dịch đã được thực hiện đầy đủ.
Các công ty có người đại diện giao kết hợp đồng vượt quá thẩm quyền sẽ rất khó có khả năng thoái thác trách nhiệm nếu cơ chế quản trị nội bộ của họ lỏng lẻo dẫn tới các giao dịch được ký vi phạm hoặc vượt quá thẩm quyền.
Ví dụ như nếu người thứ ba là công ty cung ứng B giao kết hợp đồng với C là thư ký công ty A về việc cung ứng giấy in cho văn phòng công ty A. Theo thông lệ trên thị trường, những giao dịch này thuộc thẩm quyền của thư ký công ty. Tuy nhiên theo quy định nội bộ của công ty A, những giao dịch có giá trị trên 5.000 đô la Úc thì phải được ban giám đốc phê duyệt. Tuy nhiên, công ty B không có trách nhiệm và cũng không có khả năng biết được về giới hạn thẩm quyền này của người thư ký công ty. Vì thế nếu có giao dịch, công ty B có quyền dựa vào nguyên tắc indoor management rule (tạm dịch là “việc trong nhà”) để yêu cầu công ty A phải thực thi trách nhiệm thanh toán vì việc họ bổ nhiệm C là thư ký công ty đã hàm ý rằng anh hoặc cô này có thẩm quyền mặc định (implied actual authority) để thực hiện các giao dịch mà các thư ký công ty khác vẫn thường thực hiện.
Tuy nhiên lưu ý rằng bên thứ ba chỉ có thể viện dẫn tới quy định này nếu họ ngay tình, tức là họ thực sự không biết hoặc không được biết một lý do nào để nghi ngờ về thẩm quyền của người C.
Luật công ty Úc đã đưa nguyên tắc suy đoán này vào luật tại các điều 128 và 129 Luật Công ty 2001 và gọi là statutory assumptions.
Thậm chí bên thứ ba ngay tình được phép suy đoán về thẩm quyền đương nhiên (nghĩa là có quyền yêu cầu công ty phải thực hiện hợp đồng) kể cả khi người đại diện công ty cố tình làm giả mạo các giấy tờ, tài liệu để chứng minh họ là người có thẩm quyền ký kết hợp đồng với bên thứ ba.
Lợi ích của quy định về quyền suy đoán của bên thứ ba trong giao dịch vi phạm thẩm quyền ký kết
Với quy định này, các công ty trên thị trường có thể được hưởng ít nhất ba lợi ích.
Thứ nhất, với tư cách là bên thứ ba ngay tình, lợi ích của họ được bảo vệ tối đa. Các công ty có người đại diện giao kết hợp đồng vượt quá thẩm quyền sẽ rất khó có khả năng thoái thác trách nhiệm nếu cơ chế quản trị nội bộ của họ lỏng lẻo dẫn tới các giao dịch được ký vi phạm hoặc vượt quá thẩm quyền. Điều này có thể giúp tránh được rất nhiều tranh chấp hợp đồng giữa các bên.
Thứ hai, với quy định này, tất cả công ty trên thị trường phải tự giác hoàn thiện quy chế quản trị nội bộ trong công ty mình, để hạn chế đến mức tối đa các hành vi vượt quá thẩm quyền, hoặc tạo cơ chế để nhanh chóng phát hiện các hành vi này, hoặc để thông tin kịp thời đến các đối tác khi các giao dịch vượt quá thẩm quyền có nguy cơ xảy ra.
Những biểu hiện của việc người đại diện theo pháp luật của công ty biết mà không phản đối:
Người này được người ký kết hợp đồng báo cáo về việc hợp đồng được ký kết bằng văn bản hoặc trong cuộc họp ban giám đốc, hội đồng thành viên, hội đồng quản trị... mà không có ý kiến phản đối giao dịch;
Người này ký kết vào các văn bản tiếp theo của việc thực hiện giao dịch như công văn, tài liệu trao đổi, hóa đơn, chứng từ, biên bản thanh lý hợp đồng...
Người này sử dụng các tài sản, lợi nhuận có được từ việc thực hiện giao dịch như sử dụng ô tô, sử dụng trụ sở giao dịch có được từ hợp đồng mua bán ô tô, hợp đồng thuê trụ sở...
Thứ ba, tất cả công ty sẽ tránh được một trách nhiệm vô cùng phiền toái là phải tìm hiểu về thẩm quyền kí kết hợp đồng của người giao kết hợp đồng với mình. Câu chuyện kiểm soát lạm quyền trong mỗi công ty, sẽ là câu chuyện nội bộ của mỗi công ty thay vì trở thành gánh nặng của bên đối tác.
Quay trở lại câu chuyện của doanh nghiệp start up ban đầu. Dường như trách nhiệm chứng minh rằng người đại diện doanh nghiệp biết mà không phản đối theo BLDS 2005 (luật có hiệu lực vào thời điểm tranh chấp phát sinh) để từ đó doanh nghiệp cung ứng có thể đòi thi hành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng đang đè lên vai của bên thứ ba - doanh nghiệp cung ứng. Ngay cả khi áp dụng theo BLDS 2015, thì liệu bên thứ ba có quyền suy đoán rằng người đã đứng ra đàm phán và ký kết hợp đồng với họ là người đại diện hợp pháp của công ty đối tác, trừ khi họ nhận được công văn hoặc thông báo của công ty đối tác về việc thay đổi người đại diện hợp pháp của công ty? Quy định “người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện” cần được hiểu như thế nào? Điều luật này có thể dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau, đòi hỏi phải có các hướng dẫn chi tiết hơn để các bên liên quan hiểu đúng bản chất của điều luật và thống nhất trong áp dụng.
Câu chuyện hợp đồng vô hiệu do vi phạm thẩm quyền không mới, và nó đã từng là chủ đề bàn cãi của giới luật sư trong một vụ đại án cách đây chưa lâu - vụ Huyền Như giả mạo giấy tờ nhân danh VietinBank để ký kết hợp đồng với các khách hàng và trách nhiệm liên đới của VietinBank sau đó. Tiếc là, với các quy định mới nhất của BLDS 2015, một khung pháp lý đơn giản mà hiệu quả về vấn đề này dường như vẫn chưa đạt được.
Sự khác nhau trong pháp luật của mỗi nước là điều tự nhiên. Nhưng nếu sự khác biệt đó có thể dẫn đến những tranh chấp hợp đồng không đáng có, và làm giảm nhẹ vai trò của cơ chế quản trị nội bộ vốn dĩ nên được coi là công cụ chủ yếu trong quản trị công ty, thì nên chăng, đã đến lúc chúng ta cần nghĩ tới một sự thay đổi triệt để hơn. Sự thay đổi, không chỉ đơn thuần là để giảm gánh nặng chứng minh và chi phí giao dịch cho các bên trong quan hệ pháp luật cụ thể này, mà xa hơn, là để đưa pháp luật Việt Nam tiệm cận với những thông lệ tốt trên thế giới.
(*) TS. Quách Thúy Quỳnh, Đại học quốc tế RMIT Việt Nam
(**) TS. Nguyễn Thị Vân Anh, Học viện Tư pháp

Theo Thesaigontimes.vn
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hướng dẫn cách xử lý trùng số CMND khi đăng ký MST cá nhân



Trong quá trình triển khai đăng ký, cấp mã số thuế thu nhập cá nhân (TNCN) phát sinh vướng mắc trùng số chứng minh nhân dân (CMND) dẫn đến người gửi dữ liệu đăng ký thuế sau không đủ điều kiện được cấp mã số thuế. Thực hiện Công văn số 5357/TCT-TNCN ngày 31/12/2009 của Tổng cục Thuế về tiếp tục xử lý trùng CMND trong cấp mã số thuế TNCN theo. Công văn số 4313/TCT-CNTT ngày 21/10/2009 của Tổng cục Thuế, Cục Thuế hướng dẫn và phân công trách nhiệm thực hiện như sau:

Người nộp thuế chỉ được cấp một mã số thuế duy nhất để sử dụng trong suốt quá trình hoạt động từ khi đăng ký thuế cho đến khi không còn tồn tại.
Căn cứ pháp lý để cơ quan thuế xác định tính duy nhất của một cá nhân chính là số chứng minh nhân dân (CMND) do cơ quan Công an cấp. Về nguyên tắc số CMND do cơ quan Công an cấp là mã số duy nhất đối với từng cá nhân.
Tuy vậy, trong quá trình triển khai đăng ký cấp mã số thuế TNCN đối với các cá nhân có thu nhập từ tiền lương gặp phải vướng mắc đối với nhiều trường hợp trùng số CMND giữa 2 cá nhân ở 2 địa phương khác nhau, đặc biệt là những tỉnh, thành phố thuộc diện tách tỉnh trước đây.
Theo thiết kế và nguyên tắc xử lý cấp mã số thuế TNCN thì phần mềm ứng dụng Đăng ký thuế (TIN) hiện tại không cho phép thực hiện cấp mã số thuế mới cho trường hợp trùng số CMND, để đảm bảo kiểm soát tính duy nhất của mã số thuế, đặc biệt đối với thuế TNCN. Tuy nhiên, do thực tế xảy ra nhiều và lại do nguyên nhân khách quan.
Để cơ quan Thuế có thể cấp mã số thuế cho các cá nhân bị trùng số CMND do nguyên nhân khách quan nêu trên, Tổng cục Thuế hướng dẫn các Cục Thuế thực hiện như sau:
Bước 1- Bộ phận một cửa tiếp nhận hồ sơ đăng ký thuế TNCN về xử lý trùng số CMND hướng dẫn người nộp thuế hoặc cơ quan chi trả thu nhập của người nộp thuế chưa có mã số thuế do trùng số CMND nộp bản phô tô CMND kèm Bảng kê Danh sách người nộp thuế không đủ điều kiện cấp mã số thuế để chuyển cho các Phòng/Đội kiểm tra Thuế hoặc Phòng/Đội Quản lý thuế TNCN trực tiếp quản lý cơ quan chi trả thu nhập.
Bước 2-Khi cơ quan Thuế gặp trường hợp báo trùng số CMND, giải pháp đầu tiên mà cơ quan thuế phải thực hiện là xác minh thông tin về trùng số CMND trong nội bộ ngành Thuế để đảm bảo việc trùng đó không phải do lỗi trong quá trình nhập liệu (cá nhân khai báo sai số CMND hoặc do lỗi cơ quan Thuế nhập sai).
Trường hợp 1: Kết quả xác minh nếu số CMND trùng do nhập sai thì sửa lại để đăng ký cấp MST, nếu người đăng ký cấp mã mới và người đã cấp là một cá nhân thì sẽ thực hiện thay thế mã số thuế cho người nộp thuế (NNT),
Trường hợp 2: Nếu là hai cá nhân khác nhau có cùng một số CMND thì cơ quan thuế vận động, giải thích NNT nên đi đổi lại CMND mới để đảm bảo quyền lợi cá nhân của NNT trong đời sống xã hội. Trường hợp NNT từ chối không đổi CMND cơ quan thuế thực hiện xác nhận trùng CMND trên hệ thống đăng ký mã số thuế bằng cách nhập bổ sung thêm 03 ký tự là ký tự viết tắt tên tỉnh theo quy định của ngành Thuế (ví dụ: Đà Nẵng là: DAN...).
Các đơn vị quản lý trực tiếp cơ quan chi trả tra cứu, xác minh sau khi có kết quả chuyển hồ sơ cho Phòng/Đội Kê khai kế toán thuế thực hiện xác nhận trùng số CMND trên hệ thống đăng ký mã số thuế (TIN) bằng cách nhập bổ sung thêm 03 ký tự là HAN (viết tắt của Hà Nội) vào ô CMND ngay sau số cuối cùng của dãy số CMND của người nộp thuế và thực hiện cấp mã số thuế theo đúng quy trình đăng ký thuế hiện hành.
Trường hợp người nộp thuế hoặc cơ quan chi trả thu nhập của người nộp thuế nộp hồ sơ đăng ký thuế bản giấy (không sử dụng ứng dụng nhập Tờ khai đăng ký thuế TNCN) nên không có Bảng kê Danh sách NNT không đủ điều kiện cấp mã, bộ phận một cửa yêu cầu người nộp thuế cung cấp tên, mã số thuế cơ quan trả thu nhập để tra cứu và in Danh sách NNT không đủ điều kiện cấp mã số thuế để xác nhận cơ quan trả thu nhập của người nộp thuế bị trùng chứng minh nhân dân chưa được cấp mã số thuế rồi chuyển hồ sơ trùng CMND cho các Phòng/Đội kiểm tra Thuế, Phòng/Đội Quản lý thuế TNCN trực tiếp quản lý cơ quan chi trả thu nhập theo trình tự như trên.
Lưu ý cả 2 trường hợp trên, bộ phận một cửa ghi lại số điện thoại của người nộp thuế hoặc cơ quan chi trả thu nhập của người nộp thuế vào hồ sơ để tiện liên hệ.
Trên đây là quy trình xử lý khi cá nhân đăng ký MSTCN bị trùng CMTND.

Kế Toán Hà Nội xin chúc các bạn thực hiện tốt.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Tiền lương tháng 13 có được tính thuế TNCN và chi phí được trừ không?



Tiền lương tháng 13 được coi là một khoán tiền thưởng của doanh nghiệp cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh hăng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động.
Tiền thưởng, tiền lương tháng 13 về nguyên tắc là không mang tính bắt buộc. Bộ luật Lao động không sử dụng thuật ngữ “lương tháng 13”. Tuy nhiên, nếu trên hợp đồng lao động có ghi lương tháng 13, hoặc trong thỏa ước lao động tập thể, quy chế trả lương của công ty có quy định, hoặc giữa người lao động và người sử dụng lao động có thỏa thuận thì phải thực hiện, điều này pháp luật khuyến khích bởi có lợi cho người lao động.

Việc thưởng bao nhiêu, thưởng như thế nào, điều kiện được thưởng... là do doanh nghiệp quyết định và công khai tại nơi làm việc.
Điều kiện để đưa chi phí tiền lương tháng 13 vào chi phí hợp lệ:
- Được quy định cụ thể (bao gồm mức tiền và các điều kiện được hưởng) tại hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể, được sự đồng ý của hội đồng quản trị và được tính toán hợp lý (gắn liền và phù hợp với kết quả kinh doanh của đơn vị).
- Được chi trả trước thời hạn nộp hồ sơ quyết toán năm.
(Theo Tiết b, Điểm 2.5, Khoản 2, Điều 6, Chương II Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế TNDN).
( Tài liệu tham khảo: Công văn Số: 5513/CT-TTHT Ngày 10/12/2012).
Nếu doanh nghiệp có kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là lỗ mà chi tiền thưởng tháng 13 thì có được tính vào chi phí được trừ không?
- Nếu trong trường hợp “Quy chế chi tiêu nội bộ” của đơn vị có quy định: “Khoản thưởng chi lương tháng 13 cho người lao động không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của đơn vị” thì khoản tiền thưởng (chi lương tháng 13) cho người lao động được phép hạch toán vào chi phí hợp lý để tính thuế TNDN..
- Nếu trong trường hợp “Quy chế chi tiêu nội bộ” của đơn vị có quy định: “Khoản thưởng chi lương tháng 13 cho người lao động phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của đơn vị (cụ thể là chỉ chi thưởng khi đơn vị kinh doanh có lãi)” thì khoản tiền thưởng (chi lương tháng 13) cho người lao động không được phép hạch toán vào chi phí hợp lý để tính thuế TNDN.
Tuy nhiên, theo thực tế thì các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả thì không thể chi “thưởng”.
Thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương tháng 13:
- Theo thông 111/2013/TT-BTC thì khoản tiền thưởng lương tháng 13 này được coi là thu nhập chịu thuế, tức là phải đóng thuế.
- Doanh nghiệp chi trả tiền thưởng lương tháng 13 vào tháng nào thì sẽ phải tính thuế TNCN cho người được hưởng vào tháng đó.

- Việc tính thuế thu nhập cá nhân với tháng lương thứ 13 được thực hiện như sau: Công ty bạn phát lương vào tháng nào thì cộng khoản tiền thưởng lương tháng 13 với lương của tháng đó để tính vào thu nhập chịu thuế. Tức là các bạn gộp chung lương tháng 13 vào với lương của tháng chi trả. Các khoản giảm trừ, thu nhập miễn thuế chỉ được tính 1 lần như các tháng khác. Rồi tính theo biểu lũy tiến từng phần bình thường.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Ảnh hưởng của ước tính kế toán đến sai phạm trong kiểm toán báo cáo tài chính



Ước tính kế toán: Là một giá trị gần đúng của một chỉ tiêu liên quan đến báo cáo tài chính được ước tính trong trường hợp thực tế đã phát sinh nhưng chưa có số liệu chính xác hoặc chưa có phương pháp tính toán chính xác hơn, hoặc một chỉ tiêu thực tế chưa phát sinh nhưng đã được ước tính để lập báo cáo tài chính, ví dụ:

Ước tính các chỉ tiêu đã phát sinh
- Dự phòng nợ phải thu khó đòi
- Dự phòng giảm giá đầu tư
- Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
- Trích khấu hao tài sản cố định
- Chi phí trả trước
- Giá trị sản phẩm dở dang
- Doanh thu ghi nhận trước
- Doanh thu hợp đồng xây dựng dở dang
Ước tính chỉ tiêu chưa phát sinh:
- Dự phòng chi phí bảo hành
- Chi phí trích trước
- Ước tính kế toán liên quan đến kiện tụng, tranh chấp
Theo VSA 540: Ước tính kế toán là một giá trị tiền tệ gần đúng trong trường hợp không có phương pháp đo lường chính xác. Thuật ngữ này được sử dụng cho một giá trị được đo lường theo giá trị hợp lý khi có sự không chắc chắn trong ước tính và cũng được sử dụng cho các giá trị khác cần ước tính. Khi chuẩn mực này chỉ đề cập đến các ước tính kế toán được đo lường theo giá trị hợp lý, thuật ngữ “Ước tính kế toán về giá trị hợp lý” được sử dụng
I. Sự cần thiết phải kiểm toán các ước tính kế toán
Về bản chất, ước tính kế toán là các yếu tố trên BCTC gồm tài sản, nợ phải trả, thu nhập, chi phí. Tuy nhiên, giá trị các yếu tố này chỉ là các giá trị ước tính gần đúng do không có giá trị chính xác hoặc không có các phương pháp xác định chính xác. Ước tính kế toán có thể liên quan đến các khoản mục đã phát sinh hoặc các khoản mục chưa phát sinh
Để đưa ra các ước tính này, người lập BCTC phải sử dụng các “xét đoán nghề nghiệp”. Vì là các xét đoán nên mang nặng tính chủ quan, khó có một tiêu chuẩn nào để đánh giá tính hợp lý. Do đó luôn tồn tại một nguy cơ là các ước tính kế toán được xác định và ghi nhận một cách không phù hợp dẫn đến làm sai lệch đáng kể thông tin tài chính của doanh nghiệp. Chính vì vậy tính tin cậy của các ước tính kế toán là một vấn đề được người sử dụng báo cáo tài chính luôn đặc biệt quan tâm.
Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế gặp khó khăn, kết quả hoạt động kinh doanh tiêu cực, nợ xấu khó đòi tăng nhanh, hàng tồn kho chậm luân chuyển, thị trường chứng khoán giảm giá... nguy cơ các doanh nghiệp bỏ qua hoặc xác định một cách không phù hợp các ước tính kế toán có thể dẫn đến Báo cáo tài chính phản ánh không trung thực và hợp lý tình hình tài chính và kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 700, kiểm toán viên phải trình bày ý kiến về sự bảo đảm hợp lý rằng BCTC được kiểm toán không còn chứa đựng các sai phạm trong yếu, trong đó có cả các sai phạm liên quan đến các ước tính kế toán và xác định giá trị hợp lý.
Trích Báo cáo kiểm toán mẫu – VSA 700
Trách nhiệm của Kiểm toán viên
Công việc kiểm toán bao gồm thực hiện các thủ tục nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán về các số liệu và thuyết minh trên báo cáo tài chính. Các thủ tục kiểm toán được lựa chọn dựa trên xét đoán của kiểm toán viên, bao gồm đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính do gian lận hoặc nhầm lẫn. Khi thực hiện đánh giá các rủi ro này, kiểm toán viên đã xem xét kiểm soát nội bộ của Công ty liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính nhằm thiết kế các thủ tục kiểm toán phù hợp với tình hình thực tế, tuy nhiên không nhằm mục đích đưa ra ý kiến về hiệu quả của kiểm soát nội bộ của Công ty. Công việc kiểm toán cũng bao gồm đánh giá tính thích hợp của các chính sách kế toán được áp dụng và tính hợp lý của các ước tính kế toán của Ban Giám đốc cũng như đánh giá việc trình bày tổng thể báo cáo tài chính.
Do đó, trong kiểm toán báo cáo tài chính thì kiểm toán viên phải luôn đặc biệt chú ý đến các khoản ghi nhận giá trị ước tính và giá trị hợp lý để nhìn nhận đúng về thực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cung cấp thông tin cho người sử dụng một cách đáng tin cậy nhất.
II. Sự ảnh hưởng của các ước tính kế toán đến các sai phạm tồn tại trên BCTC
Ø Nguyên nhân xảy ra sai phạm
Thứ nhất, các nguyên tắc cho các ước tính kế toán không rõ ràng, những đánh giá về các đối tượng ước tính thường mang tính chủ quan, phức tạp và đòi hỏi những giả định về ảnh hưởng của những sự kiện trong tương lai. Do đó các ước tính kế toán có thể chứa đựng rủi ro tiềm tàng cao
Thứ hai, do các ước tính kế toán được lập dựa vào những xét đoán chủ quan và thiếu các dữ liệu khách quan hoặc mức độ không chắc chắn của một yếu tố nào đó nên các ước tính kế toán đã không được lập một cách hợp lý.
Thứ ba, các ước tính kế toán thường có các tính toán phức tạp nên việc tính
toán rất dễ xảy ra những sai sót.
Thứ tư, một số ước tính kế toán thường được thực hiện vào cuối kỳ kế toán năm. Tại thời điểm nhạy cảm đó, do áp lực công việc nên kế toán có thể để xảy ra những sai sót không mong muốn như: Hạch toán sai tài khoản, sai quy định kế toán hiện hành, quy trình tính toán gặp sai sót, hoặc sai trong quá trình ghi sổ, kết chuyển...
Thứ năm, các ước tính kế toán thường liên quan trực tiếp đến kết quả kinh doanh và nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp đối với Nhà nước nên dễ bị xử lý chủ quan theo hướng có lợi cho đơn vị.
Thứ sáu, các ước tính kế toán có bản chất là những xét đoán chủ quan, nên chế độ kế toán liên quan đến các ước tính kế toán thường xuyên thay đổi nhằm đem lại sự đáng tin cậy hơn, minh bạch hơn trong quá trình lập các ước tính. Bởi vậy, nếu đơn vị không thường xuyên cập nhật văn bản mới thì việc lập các ước tính sai với quy định sẽ dễ dàng mắc phải.
Thứ bảy, các bằng chứng để chứng minh cho các ước tính kế toán thường là khó thu thập hơn và tính thuyết phục thấp hơn các bằng chứng chứng minh cho các chỉ tiêu khác trong báo cáo tài chính.
Ø Biểu hiện sai phạm thường thấy
Trong quá trình lập BCTC, các doanh nghiệp thường sử dụng rất nhiều các ước tính kế toán có ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận trong kỳ của công ty. Vì không có một tiêu chuẩn chính xác về giá trị các ước tính này, nên nó được xem là một công cụ đắc lực để phù phép lợi nhuận.
Một, bỏ qua hoặc thực hiện không đầy đủ các khoản dự phòng tổn thất tài sản gồm dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán, dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác.
Hai, thay đổi chính sách khấu hao và phân bổ chi phí trả trước. Đây là cách mà các doanh nghiệp có thể vận dụng quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán cho phép thay đổi ước tính kế toán vào cuối mỗi năm tài chính. Trong điều kiện kinh tế khó khăn, để giảm thua lỗ, một số doanh nghiệp thay đổi thời gian sử dụng hữu ích của tài sản cố định, kéo dài thời gian trích khấu hao hoặc kéo dài thời gian phân bổ các chi phí trả trước nhằm giảm chi phí. Những thay đổi này là hợp lý nếu điều kiện sử dụng, lợi ích kinh tế thu được từ tài sản có thay đổi tương ứng. Tuy nhiên, sẽ không hợp lý nếu sự thay đổi này đơn thuần chỉ nhằm mục đích giảm lỗ hoặc điều chỉnh tăng lợi nhuận vì mục đích chủ quan của doanh nghiệp.
Ba, Không ghi nhận các khoản dự phòng phải trả một cách phù hợp. Theo quy định của hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành, các khoản dự phòng phải trả cần phải được xác định và ghi nhận bao gồm: Dự phòng bảo hành sản phẩm, dự phòng cho các hợp đồng lớn có rủi ro, dự phòng tái cơ cấu doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, với tâm lý giảm thiểu các khoản lỗ trong kinh doanh, các doanh nghiệp Việt Nam chưa quan tâm đúng mức đến việc lập các khoản dự phòng này.
Bên cạnh các sai phạm xuất phát từ hành vi cố ý thì sai phạm liên quan đến ước tính kế toán còn xuất phát từ các hành vi vô ý như
- Trình độ năng lực của người làm kế toán
- Việc ghi nhận các khoản ước tính kế toán còn phức tạp
III. Một số ý kiến đóng góp
Ø Đối với doanh nghiệp
- Về phía các doanh nghiệp, cần nhận thức rằng việc cố tình bỏ qua các ước tính kế toán hoặc lợi dụng các ước tính kế toán hoặc lợi dụng các ước tính kế toán để "làm đẹp" BCTC là rất đáng lo ngại, có thể dẫn đến những rủi ro trong tương lai. Do vậy, thông qua việc ghi nhận một cách đầy đủ, trung thực các ước tính kế toán giúp các nhà quản lý và người có lợi ích kinh tế hiểu đúng tình trạng tài chính, hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Các doanh nghiệp cần có sự phân biệt giữa việc thực hiện các ước tính kế toán theo tinh thần của chuẩn mực và chế độ kế toán gắn với điều kiện thực tế của thị trường và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Không nên quá phụ thuộc việc ghi nhận các ước tính kế toán trên BCTC với việc ghi nhận các chi phí xét theo góc độ tính thuế TNDN.
Ø Đối với Kiểm toán viên và Công ty kiểm toán.
KTV và công ty kiểm toán cần có góc nhìn toàn diện hơn về ước tính kế toán. Bên cạnh việc áp dụng các quy định, chuẩn mực liên quan đến ước tính kế toán. KTV cũng cần gắn liền điều kiện thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Khi tiến hành kế toán, Kiểm toán viên (KTV) phải thu thập đầy đủ bằng chứng kế toán thích hợp để có kết luận về tính hợp lý của các ước tính kế toán trong từng trường hợp cụ thể. Các thông tin cần thiết đủ sức thuyết phục về tính hợp lý của các ước tính kế toán phải được trình bày trong thuyết minh BCTC.
Theo quy định của chuẩn mực kiểm toán VN số 540- Kiểm toán các ước tính kế toán,KTV phải áp dụng một hoặc áp dụng kết hợp các phương pháp sau trong quá trình kế toán các ước tính kế toán:
Thứ nhất, xem xét và kiểm tra quá trình lập các ước tính kế toán của đơn vị:
+ Kiểm tra các số liệu và xem xét các giả định:KTV phải đánh giá sự chính xác, đầy đủ và thích hợp của các dữ liệu dùng làm cơ sở để lập các ước tính kế toán. Khi sử dụng số liệu kế toán để lập các ước tính kế toán, phải kiểm tra tính nhất quán của số liệu đó với những số liệu đã được phản ánh trong sổ kế toán.
+ KTV phải đánh giá các dữ liệu mà đơn vị dùng làm cơ sở lập các ước tính kế toán, đồng thời đánh giá tính thích hợp của các giả định mà đơn vị đã sử dụng để lập ước tính kế toán: khi đánh giá các giả định làm cơ sở lập các ước tính kế toán, KTV phải xem xét các giả định này có hợp lý so với kết quả thực tế của các kỳ kế toán trước hay không?

Có nhất quán với các giả định đã được sử dụng để lập các ước tính kế toán hay không?
Có nhất quán với kế hoạch đơn vị đã lập ra hay không? KTV phải đặc biệt lưu ý đến những giả định dễ thay đổi hoặc dễ có sai sót trọng yếu. KTV cũng phải đảm bảo các dữ liệu đơn vị sử dụng để lập các ước tính kế toán vẫn còn thích hợp.
+ Trường hợp xem xét các ước tính kế toán phức tạp có liên quan đến kỹ thuật chuyên ngành: KTV phải sử dụng tư liệu của chuyên gia kỹ thuật.
+ Kiểm tra các tính toán liên quan đến các ước tính kế toán:KTV phải kiểm tra phương pháp tính toán mà đơn vị đã sử dụng để lập ước tính kế toán liên quan đến BCTC. Nội dung, lịch trình và phạm vi các thử nghiệm của KTV tùy thuộc vào mức độ phức tạp của việc tính toán các ước tính kế toán, sự đánh giá của KTV về các thủ tục và phương pháp mà đơn vị sử dụng để lập ước tính và tính trọng yếu của các ước tính kế toán.
+ So sánh ước tính kế toán đã lập của các kỳ kế toán trước với kết quả thực tế của các kỳ đó:khi tiến hành kế toán, KTV phải so sánh các ước tính kế toán đã lập trong kỳ kế toán trước với kết quả thực hiện của kỳ kế toán đó nhằm xem xét các bằng chứng đã thu thập về độ tin cậy đối với các phương pháp lập ước tính kế toán của đơn vị; xem xét sự cần thiết phải điều chỉnh phương pháp ước tính; tính toán và đánh giá sự chênh lệch giữa kết quả thực hiện với ước tính kế toán trong kỳ. Trong trường hợp cần thiết phải có sự điều chỉnh hoặc giải trình trong Bản thuyết minh BCTC.
+ Xem xét các thủ tục phê duyệt các ước tính kế toán của Giám đốc:Giám đốc hoặc người đứng đầu đơn vị cần soát xét và phê duyệt các ước tính kế toán quan trọng. KTV phải xem xét việc soát xét và phê duyệt các ước tính kế toán quan trọng của các cấp quản lý có thích hợp hay không và điều đó có thể hiện trong các tài liệu làm cơ sở cho việc lập ước tính kế toán chưa.
Thứ hai, KTV lập một ước tính độc lập để so sánh với ước tính của đơn vị.
KTV có thể tự lập hoặc thu thập một ước tính kế toán độc lập và so sánh kết quả ước tính độc lậpđó với ước tính kế toán do đơn vị lập. Khi sử dụng kết quả ước tính độc lập, KTV phải đánh giá các dữ liệu, xem xét các giả định và kiểm tra các thủ tục tính toán được sử dụng trong quá trình lập ước tính kế toán. KTV cũng có thể so sánh các ước tính với kết quả thực tế của các kỳ kế toán trước đó.
Thứ ba, xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc năm tài chính nhưng trước ngày lập báo cáo kiểm toán để xác nhận các ước tính kế toán đã lập.
Các nghiệp vụ và sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc năm tài chínhnhưng trước ngày lập báo cáo kế toán có thể cung cấp các bằng chứng kiểm toán có liên quan đến việc lập các ước tính kế toán của đơn vị được kế toán. KTV cần soát xét và kiểm tra quá trình lập ước tính kế toán của đơn vị hoặc sử dụng một ước tính độc lập để đánh giá tính hợp lý của các ước tính kế toán.
Thứ tư, đánh giá kết quả của các thủ tục kiểm toán.
KTV phải đánh giá lại lần cuối cùng tính hợp lý của các ước tính kế toándựa vào những hiểu biết của mình về đơn vị và tính nhất quán của các ước tính kế toán với các bằng chứng kiểm toán khác đã thu thập được trong quá trình kiểm toán.
Ø Đối với Nhà nước
- Về góc độ hoàn thiện chính sách, chuẩn mực và chế độ kế toán cần có các hướng dẫn cụ thể hơn về phương pháp xác định và ghi nhận các ước tính kế toán.
Hiện tại, một số quy định liên quan đến các ước tính kế toán chủ yếu như:
+ Thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 - Khấu hao TSCĐ
+ Thông tư số 228/2009/TT-BTC ngày 7/12/2009 - Trích lập các khoản dự phòng
+ Thông tư 89/2013/TT-BTC ngày 28/06/2013 - Sửa đổi bổ sung TT 228
Các thông tư này chủ yếu phục vụ cho công tác quản lý tài chính của các công ty Nhà nước và phục vụ cho mục đích tính thuế TNDN. Các quy định này hiện đang bị đánh giá là khá cứng nhắc và rất khó để doanh nghiệp thực hiện. Ví dụ, không nên giới hạn mức dự phòng giảm giá nợ phải thu theo thời gian quá hạn như quy định của Thông tư 228 mà phải đánh giá thực tế khả năng thu hồi và tổn thất thực tế theo từng khoản nợ thì mới có thể phản ánh đúng đắn về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, theo luật kế toán số 88/2015/QH13 ra đời cho phép doanh nghiệp ghi nhận tài sản theo giá trị hợp lý thay vì giá gốc. Tuy nhiên vẫn chưa có thông tư, quyết định cụ thể ban hành để hướng dẫn ghi nhận giá trị hợp lý theo khuôn khổ nhất định. Hình thành cơ sở pháp lý cho kiểm toán viên trong vấn đề xác định các sai phạm xuất phát từ việc ghi nhận ước tính kế toán về giá trị hợp lý.
Nguyễn Thị Quỳnh Giao

Bộ môn Kiểm toán – ĐH Duy Tân
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Sự khác biệt cơ bản giữa kế toán và thuế



Lợi nhuận kế toán được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán. Trong khi đó thu nhập chịu thuế được xác định theo qui định của Luật thuế, Nghị định và Thông tư về thuế. Được quy định bởi hai hành lang pháp lý khác nhau vì vậy sự khác biệt giữa kế toán và thuế là không thể tránh khỏi.

Thời gian vừa qua, thực tế nhiều doanh nghiệp luôn cố “nắn” kế toán theo thuế để tránh những phiền phức khi phải làm tờ khai quyết toán thuế Thu nhập Doanh nghiệp “TNDN” cuối năm tài chính. Tình trạng này phổ biến hơn cả ở các doanh nghiệp nhỏ nơi hệ thống và nhân sự kế toán còn nhiều hạn chế.
Ví dụ: Đối với những chi phí phát sinh của doanh nghiệp không có đủ hóa đơn chứng từ một số doanh nghiệp nhỏ thường bỏ ra khỏi sổ sách và không tiến hành hạch toán. Tuy nhiên, những chi phí đó hoàn toàn thỏa mãn là chi phí của doanh nghiệp và có đủ điều kiện để ghi nhận là chi phí để tính lợi nhuận kế toán.
Sự khác biệt giữa kế toán và thuế dẫn tới khái niệm “Chênh lệch tạm thời” và “Chênh lệch vĩnh viễn” như được đề cập ở Chuẩn mực kế toán số 17.
“Chênh lệch tạm thời” và “Chênh lệch vĩnh viễn” hiểu một cách đơn giản nhất theo đúng cách gọi của loại chênh lệch. Tạm thời nghĩa là chỉ trong một giai đoạn nhất định chênh lệch sẽ hết đi, trong khi chênh lệch vĩnh viễn thì mãi mãi cũng không thể mất đi (trừ trường hợp có sự thay đổi về luật, chuẩn mực).
Ví dụ về chênh lệch vĩnh viễn
+ Các khoản tiền phạt vi phạm hành chính ở trên được tính là chi phí khi xác định lợi nhuận kế toán tuy nhiên lại bị loại khi tính thuế TNDN mãi mãi à Như vậy đây là một chênh lệch vĩnh viễn.
Ví dụ về chênh lệch tạm thời
+ Khoản trích trước các khoản phải trả cho nhân viên (lương, thưởng…) tính tới thời điểm quyết toán thuế TNDN vẫn chưa thanh toán thì sẽ bị loại ra khỏi chi phí được trừ khi tính thuế TNDN năm trích. Tuy nhiên, nếu năm sau doanh nghiệp tiến hành chi trả thì sẽ được tính vào chi phí năm sau. Trường hợp này chênh lệch giữa kế toán và thuế chỉ là tạm thời năm trước năm sau (kế toán tính vào chi phí của ngay năm trích trong khi thuế tính vào chi phí của năm chi trả).
+ Một tài sản cố định theo kế toán xác định khấu hao chỉ có 3 năm tuy nhiên theo thuế là 5 năm. Như vậy số trích vào chi phí khấu hao theo kế toán và theo thuế sẽ khác nhau mỗi năm cho tới khi tài sản đó hết sạch khấu hao (cả theo kế toán và theo thuế) tức là sau 5 năm thì sẽ không còn chênh lệch nữa.
Ví dụ dưới đây sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn nội dung này.

Tài sản nguyên giá 100,000,000 VNĐ. Thời gian khấu hao theo thuế (TT45/2013 /TT-BTC – Thông tư hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định ) là 4 năm trong khi đó kế toán công ty xác định thời gian khấu hao của tài sản phải là 6 năm. Như vậy là xảy ra sự chênh lệch giữa Thuế và kế toán.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Những việc kế toán cần làm trong quý 4/2016 và quý 1/2017



Nóng hổi trên tay những list công việc cần lưu ý cho tháng này. Khoảng thời gian từ tháng 12/2016 đến tháng 03/2017 là khoảng thời gian mà kế toán cần chú ý. Vì sao lại như vậy? Đây là khoảng thời gian doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ về thuế và quyết toán cuối năm. Bài viết sau đây, Kế Toán Hà Nội xin nêu ra tất tần tật những công việc mà kế toán cần phải làm và hết sức chú ý nhé!

1.Trong tháng 12 năm 2016
Kế toán thực tế cần chú ý một số mốc thời điểm cụ thể như sau:
+ Thời gian chậm nhất là ngày 20/12/2016, các DN nộp mẫu số 06/GTGT đăng ký nộp thuế GTGT theo PP khấu trừ cho 2 năm sau là 2017 và 2018 nếu các doanh nghiệp công ty mới thành lập trong năm 2014 và 2015 hoặc quý 1,2,3 năm 2016 và có doanh thu dưới 1 tỷ đồng.
>>> Những công việc kế toán cần làm với doanh nghiệp mới thành lập
+ Thời gian chậm nhất là ngày 31/12/2016, doanh nghiệp nộp lại tờ khai môn bài nếu như năm 2016 có sự thay đổi bậc môn bài;
+ Đồng thời rà soát lại sổ sách, hoá đơn, chứng từ, cân đối chi phí – doanh thu và chuẩn bị BCTC năm 2016. Tháng 12 này là thời điểm cực kỳ quan trọng trong việc bổ sung những chứng từ còn thiếu cho cả năm, chuẩn bị tốt cho kỳ báo cáo cuối năm.
Ngày 31/12/2016, kế toán thực hiện những công việc sau:
+ Kiểm kê tài sản cuối năm 2016. Bao gồm như nguyên vật liệu, hàng hoá, công cụ dụng cụ, tài sản cố định…
+ Đồng thời chốt và đối chiếu các khoản công nợ cuối năm. Bao gốm tất cả những khoản công nợ phải thu phải trả…
2. Trong tháng 01 năm 2017
+ Thời gian chậm nhất là ngày 30/01/2017, doanh nghiệp phải nộp tiền lệ phí thuế môn bài cho năm 2017. Thuế môn bài năm 2017 có một số thay đổi theo Nghị định số 139/2016/NĐ-CP ban hành ngày 01/10/2016
• Vốn trên 10 tỷ đồng : thuế môn bài là 3 triệu đồng/năm
• Vốn nhỏ hơn hoặc bằng 10 tỷ đồng : thuế môn bào là 2 triệu động/ năm
• Các chi nhánh, địa điểm kinh doanh: thuế môn bài 1 triệu đồng/ năm
+ Thời gian chậm nhất là ngày 20/01/2017, doanh nghiệp nộp tờ khai các loại và tiền thuế theo tháng :Thuế GTGT , thuế TNCN, báo cáo tình hình sử dụng hoá đơn tháng 12 năm 2016 và các tờ khai theo tháng khác nếu có.
+ Thời gian chậm nhất là ngày 30/01/2017: doanh nghiệp nộp tờ khai và tiền thuế theo quý (cho quý 4/2016): Thuế GTGT, Thuế TNCN tháng 01 năm 2017, báo cáo tình hình sử dụng hoá đơn tháng 1 năm 2017 cùng các tờ khai khác theo quý nếu có. Đặc biệt riêng với thuế TNDN thì chỉ nộp tiền thuế mà không cần nộp tờ khai.
3. Trong tháng 02 năm 2017
+ Thời gian chậm nhất là ngày 31/3/2017: doanh nghiệp nộp tờ khai và tiền thuế theo tháng (tháng 1 năm 2017): thuế GTGT, thuế TNCN, báo cáo sử dụng hoá đơn tháng 01 năm 2017 cùng các tờ khai theo tháng khác nếu có.
4. Trong tháng 03 năm 2017
+ Thời gian chậm nhất là ngày 31/03/2017: doanh nghiệp nộp BCTC của năm 2016 cho các cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thống kê.
+ Thời gian chậm nhất là ngày 31/03/2017: doanh nghiệp nộp tờ khai quyết toán thuế TNDN, thuế TNCN năm 2016 cùng các tờ khai quyết toán năm 2016 nếu có. Đồng thời DN nộp bổ sung tiền thuế TNDN và TNCN nếu quyết toán có sự chênh lệch so với tạm tính quý;
Bài viết trên là toàn bộ những công việc mà kế toán cần hết sức lưu ý trong khoảng thời gian từ tháng 12/2016 đến tháng 03/2017.

Nếu bạn còn băn khoăn nhiều vấn đề về kế toán thuế, hãy đến với Kế Toán Hà Nội chúng tôi để tham gia ngay một khoá kế toán thuế để tìm hiểu và được thực hành chuyên sâu hơn về thuế, phục vụ cho công việc cuối năm này nhé!
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


10 điểm hạn chế của phương pháp phân tích chỉ số BCTC bạn nên biết



Phân tích chỉ số (Ratio analysis) được sử dụng để phân tích, so sánh các thông tin trong báo cáo tài chính nhằm hiểu rõ tình hình kinh doanh, tình hình tài chính, tình hình dòng tiền của doanh nghiệp. Đây là công cụ phân tích cực kì hữu ích với những nhà đầu tư, chủ nợ, những người cần một bức tranh tổng thể tình hình kinh doanh, vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp từ báo cáo tài chính.
Dưới đây là điểm nhanh 10 điểm hạn chế của phương pháp phân tích chỉ số bạn nên biết. Không phủ nhận những điểm mạnh của phân tích chỉ số (như tính toán nhanh, phù hợp với việc so sánh tương đối…), nhưng việc hiểu rõ những điểm hạn chế sẽ giúp nhà phân tích điều chỉnh nhận định cho phù hợp:

Việc hiểu rõ những điểm hạn chế sẽ giúp nhà phân tích điều chỉnh nhận định cho phù hợp
1. Chỉ dựa trên số liệu quá khứ: Mọi thông tin bạn sử dụng để phân tích chỉ số đều là những số liệu trong quá khứ. Điều này có nghĩa chúng có thể không lặp lại trong tương lai để bạn có thể sử dụng. Tuy nhiên, bạn có thể sử dụng các chỉ số để dự phóng báo cáo tài chính theo phương pháp pro forma và so sánh với dữ liệu quá khứ để bảo tính nhất quán và hợp lý
2. Sự khác biệt giữa ghi nhận giá gốc và giá hiện tại tại thời điểm phát sinh: Thông tin trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được ghi nhận theo thời điểm phát sinh nghiệp vụ đó (Hoặc gần thời điểm phát sinh) trong khi một số khoản mục trong bảng cân đối kế toán được ghi nhận theo nguyên tắc giá gốc. Sự khác biết này có thể dẫn đến kết quả phân tích chỉ số bị sai lệch đối với những chỉ số lấy giá trị từ 2 bảng báo cáo tài chính này.
3. Lạm phát: Nếu lạm phát liên tục thay đổi mạnh trong kì phân tích thì chúng ta không thể so sánh những con số qua các thời kì. Ví dụ: nếu lạm phát là 100%, tức doanh số sẽ tăng gấp đôi, tuy nhiên trong khi thực tế tình hình kinh doanh không thay đổi gì cả.
4. Các thông tin trên báo cáo tài chính là tập hợp của nhiều nghiệp vụ trong quá khứ: Thông tin được sử dụng cho việc phân tích chỉ số có thể được tổng hợp theo các nguyên tắc khác nhau quá khứ nên việc so sánh các chỉ số qua các năm có thể không còn hợp lý nữa.
5. Thay đổi trong hoạt động kich doanh: Công ty có thể thay đổi cơ cấu hoạt động nhiều đến mức khi so sánh chỉ số tính toán nhiều năm trước với chỉ số này ở thời điểm hiện tại sẽ mang lại những kết luận sai lầm.
6. Sự khác nhau của việc áp dụng các chuẩn mực kế toán: Mỗi công ty sẽ áp dụng các chuẩn mực kế toán khác nhau trong bối cảnh kinh doanh khác nhau dẫn đến sự sai lệch trong phân tích so sánh chỉ số giữa hai công ty. Ví dụ: Sẽ có sự khác nhau trong phân tích chỉ số nếu một công ty sử dụng phương pháp khấu hao nhanh dần đều so với công ty sử dụng phương pháp khấu hao đường thẳng.
7. Điều kiện kinh doanh khác nhau: Bạn cần đặt việc phân tích chỉ số vào bối cảnh môi trường kinh doanh. Ví dụ: Vòng quay bán hàng là 60 ngày có thể là chậm trong thời kì tăng trưởng nhanh tuy nhiên đó có thể là mức chấp nhận đươck trong tình hình kinh doanh chung không thuận lợi khi khách hàng gặp vấn đề khó khăn về tài chính và chậm trả tiền hàng.
8. Khó khăn trong kết luận chỉ số: Sẽ rất khó khăn trong viện giải thích, kết luận khi xem xét chỉ số. Ví dụ: Nếu bạn tính tỷ số thanh khoản ngắn hạn (Curent ratio) là 2:1 thì bạn sớm kết luận công ty này tốt. Tuy nhiên bạn cần xem xét kỹ hơn để nhận ra công ty vừa mới bán một số lượng lớn cổ phiếu đầu tư để tài trợ tiền mặt, dẫn đến tài sản ngắn hạn cao đột biết. Ở trường hợp này, chỉ số thanh khoản ngắn hạn ở mức cao bất thường và có thể giảm trong tương lai.
9. Chiến lược của công ty: Sẽ rất nguy hiểm nếu so sách chỉ số tài chính của hai công ty theo đuổi hai chiến lược khác nhau. Ví dụ: một công ty theo chiến lược tập trung vào giá và chấp nhận để biên lợi nhuận thấp để có được nhiều thị phần. Ngược lại, một công ty cùng ngành lại có chiến lược tập trung vào phân khúc khách hàng cao cấp có mức giá bán sản phẩn cao hơn và biên lợi nhuận cũng cao hơn, tuy nhiên xét về doanh thu thì không thể bằng công ty theo chiến lược giá thấp.
10. Tính thời điểm: Một số chỉ số lấy dữ liệu từ bảng cân đối kế toán tuy nhiên những thông tin trên bảng cân đối kế toán là số thời điểm vào ngày cuối cùng của kỳ báo cáo. Nếu có một sự kiện làm giảm số dư tài khoản vào ngày tổng hợp của kỳ báo cáo có thể ảnh hưởng đến kết quả của phân tích chỉ số.
Mặc dù phân tích chỉ số có nhiều điểm hạn chế tuy nhiên nếu bạn nắm rõ điểm hạn chể và sử dùng nhiều biện pháp thay thể, bổ sung thì phương pháp phân tích chỉ số vẫn rất hữu ích.

Nguồn: Accounting Tools
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


 

© 2012 Địa chi học kế toán thực hành uy tín All Rights Reserved Tìm việc kế toán