Hướng dẫn cách hạch toán chi phí lãi vay không đủ điều kiện được trừ năm 2016



Tuỳ từng thời điểm trả khoản chi phí lãi vay mà cách hạch toán chi phí lãi vay cũng khác nhau? Khoản chi phí lãi vay đó có hợp lý hay không? Cũng hạch toán khác nhau. Bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn các bạn hạch toán cụ thể các trường hợp liên quan tới chi phí lãi vay.

I. Cách hạch toán chi phí lãi vay không hợp lý
1. Khái niệm chi phí lãi vay KHÔNG hợp lý: Chi phí lãi vay KHÔNG hợp lý là các khoản chi không được trừ khi tính thuế TNDN, cụ thể:
- Phần chi phí trả lãi tiền vay vốn sản xuất kinh doanh của đối tượng không phải là tổ chức tín dụng hoặc tổ chức kinh tế vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm vay.
Ví dụ 1: Công ty TNHH Bách khoa đi vay tiền của cá nhân 500 triệu với lãi suất trả cho cá nhân là 1,5%/tháng.
- Mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm vay là 0.8%/tháng.
=> Chi phí lãi vay phải trả cho cá nhân 1 tháng: 500tr X 1,5% = 7.500.000/ tháng.
=> Chi phí lãi vay được trừ: 0.8% X 150% = 1,2% => Lãi suất được trừ là: 500tr X 1,2% = 6.000.000/ tháng.
=> Chi phí lãi vay không được trừ: 7.500.000 - 6.000.000 = 1.000.000đ
- Chi trả lãi tiền vay vốn tương ứng với phần vốn điều lệ (đối với doanh nghiệp tư nhân là vốn đầu tư) đã đăng ký còn thiếu theo tiến độ góp vốn ghi trong điều lệ của doanh nghiệp kể cả trường hợp doanh nghiệp đã đi vào sản xuất kinh doanh.
Ví dụ 2: Trên giấy phép ĐKKD của Công ty TNHH Anh Tuấn có số vốn điều lệ là 2.000.000.000đ. Nhưng thực tế mới chỉ góp được 1.200.000.000đ. Còn thiếu 800.000.000đ. Công ty TNHH Tuấn Anh đi vay Ngân hàng SHB: 1.000.000.000đ với lãi suất 8%/tháng.
- Hàng tháng chi phí lãi vay mà công ty phải trả là: 1.000.000.000 x 8% = 80.000.000
- Vì công ty chưa góp đủ vốn điều lệ, còn thiếu 800.000.000 nên phần chi phí lãi vay này sẽ không được trừ, mà chỉ được trừ phần chi phí lãi vay của (1 tỷ – 800 tr = 200 tr) cụ thể như sau:
=> Chi phí lãi vay không được trừ = 800tr X 8% = 64.000.000đ
=> Chi phí lãi vay được trừ: 200 tr X 8% = 16.000.000đ
Lưu ý: Nếu khi DN các bạn đi vay mà sổ tài khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng còn nhiều thì khoản chi phí lãi vay sẽ bị loại ra.
2. Cách hạch toán chi phí lãi vay không hợp lý:
Nợ TK 811
Có TK 111, 112.
Cuối kỳ kết chuyển:
Nợ TK 911
Có TK 811
Cuối năm khi lập tờ khai quyết toán thuế TNDN, các bạn phải nhập số tiền này vào chỉ tiêu B4 trên tờ khai quyết toán thuế TNDN (Đây là khoản chi phí không được trừ khi tính thuế TNDN).
II. Cách hạch toán chi phí lãi vay hợp lý:
1. Khái niệm chi phí lãi vay hợp lý:
Chi phí lãi vay hợp lý là các khoản chi được trừ khi tính thuế TNDN, cụ thể:
- Lãi suất không vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm vay.
- Phải góp đủ vốn điều lệ theo giấy phép ĐKKD.
Ví dụ 3: Công ty CP Anh Hoàng đăng ký vốn điều lệ trên giấy ĐKKD là 5 tỷ. Nhưng mới chỉ góp được 4 tỷ. Còn thiếu 1 tỷ.
- Công ty đi vay vốn 1,5 tỷ, lãi suất là 10%/tháng.
=> Chi phí lãi vay phải trả 1 tháng: 1,5 tỷ x 10% = 15tr/tháng
=> Chi phí lãi vay được trừ: 500tr x 10% =5.000.000
=> Chi phí lãi vay không được trừ: 1 tỷ x 10% = 10 tr/tháng (do góp vốn thiếu 1 tỷ)
2. Cách hạch toán chi phí lãi vay hợp lý:
2.1 Trường hợp trả lãi vay theo định kỳ:
Nợ TK 635
Có TK 111, 112.
2.2 Trường hợp trả lãi vay trước cho nhiều kỳ:
- Khi trả lãi, ghi:
Nợ TK 142, 242: (Theo QĐ 48-)
Nợ TK 242: Chi phí trả trước (Theo Thông tư 200)
Có TK 111, 112
- Hàng tháng phân bổ chi phí lãi vay:
Nợ TK 635
Có TK 142, 242.
2.3 Trường hợp trả lãi vay sau khi kết thúc hợp đồng hoặc khế ước vay.
- Định kỳ trích trước lãi vay vào chi phí, ghi:
Nợ TK 635
Có TK335
- Trả lãi vay khi kết thúc hợp đồng vay, ghi:
Nợ TK 335
Có TK 111, 112
2.4 Trường hợp DN trả lãi trả chậm của của tài sản mua theo phương thức trả chậm, trả góp.
- Khi trả lãi:
Nợ TK 242
Có TK 111, 112
- Hàng tháng phân bổ chi phí lãi vay:
Nợ TK 635
Có TK 242
2.5 Trường hợp DN bạn có thuê tài sản tài chính, thì lãi thuê tài sản tài chính phải trả:
- Nếu trả tiền ngay, ghi:
Nợ TK 635
Có TK 111, 112
- Nếu nhận được hoá đơn thanh toán tiền thuê tài sản tài chính, nhưng chưa có tiền trả, ghi:
Nợ TK 635
Có TK 315
Sau đây sẽ định khoản ví dụ 2 (phần I) để các bạn hình dung:
Ví dụ 2: Trên giấy phép ĐKKD của Công ty TNHH Anh Hoàng có số vốn điều lệ là 2.000.000.000đ. Nhưng thực tế mới chỉ góp được 1.200.000.000đ. Còn thiếu 800.000.000đ. Công ty TNHH Tuấn Anh đi vay Ngân hàng SHB: 1.000.000.000đ với lãi suất 8%/tháng.
- Hàng tháng chi phí lãi vay mà công ty phải trả là: 1.000.000.000 x 8% = 80.000.000
- Vì công ty chưa góp đủ vốn điều lệ, còn thiếu 800.000.000 nên phần chi phí lãi vay này sẽ không được trừ, mà chỉ được trừ phần chi phí lãi vay của (1 tỷ – 800 tr = 200 tr) cụ thể như sau:
=> Chi phí lãi vay không được trừ = 800tr X 8% = 64.000.000đ
=> Chi phí lãi vay được trừ: 200 tr X 8% = 16.000.000đ
Cách hạch toán chi phí lãi vay:
Nợ TK 635: 16.000.000
Nợ TK 811: 64.000.000
Có TK 111, 112: 80.000.000
-Cuối năm khi lập tờ khai quyết toán thuế TNDN, Các nhập số tiền 64.000.000 vào chỉ tiêu B4 trên tờ khai quyết toán thuế TNDN.

Chúc các bạn thành công
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Thay đổi tên công ty có phải thay đổi hóa đơn hay không?



Căn cứ theo khoản 2 điều 9 Thông tư 39/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 01/06/2014 thì trường hợp khi công ty bạn đổi tên, có hai trường hợp đối với hóa đơn như sau:

Thứ nhất: Nếu doanh nhiệp muốn tiếp tục sử dụng hóa đơn đã đặt in những chưa sử dụng hết:
1.Doanh nghiệp bạn thay đổi tên, địa chỉ nhưng không thay đổi mã số thuế và cơ quan quản lý thuế trực tiếp; khi vẫn có nhu cầu sử dụng hóa đơn đã đặt in thì:
+ Thực hiện đóng dấu tên, địa chỉ mới vào bên cạnh tiêu thức tên, địa chỉ đã in sẵn trên hóa đơn để tiếp tục sử dụng;
+ Đồng thời gửi thông báo điều chỉnh thông tin tại thông báo phát hành hóa đơn đến cơ quan quản lý thuế trực tiếp ( Theo mẫu số 3.13 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư 39/2014/TT-BTC).
2.Doanh nghiệp bạn thay đổi địa chỉ dẫn đến việc thay đổi cơ quan quản lý thuế trực tiếp thì khi muốn sử dụng tiếp số hóa đơn đã đặt in chưa sử dụng hết thì:
+ Nộp báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn với cơ quan thuế nơi chuyển đi và đóng dấu địa chỉ mới lên hóa đơn, gửi bảng kê hóa đơn chưa sử dụng (mẫu số 3.10 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư 39/2014/TT-BTC);
+ Đồng thời thông báo điều chỉnh thông tin tại thông báo phát hành hóa đơn đến cơ quan thuế nơi chuyển đến (trong đó nêu rõ số hóa đơn đã phát hành chưa sử dụng, sẽ tiếp tục sử dụng);
+ Phòng/bộ phận Ấn chỉ Cục Thuế/Chi cục Thuế nơi chuyển đến căn cứ vào thông tin trên các bảng kê nêu trên và thông báo phát hành hóa đơn đã nộp ở cơ quan thuế nơi chuyển đi để nhập thông báo phát hành những số hóa đơn đăng ký tiếp tục sử dụng vào chương trình Quản lý ấn chỉ
Thứ hai: Nếu tổ chức không có nhu cầu sử dụng số hóa đơn đã phát hành nhưng chưa sử dụng hết thì:
+ Thực hiện hủy các số hóa đơn chưa sử dụng;

+ Thông báo kết quả hủy hóa đơn với cơ quan thuế nơi chuyển đi và thực hiện thông báo phát hành hóa đơn mới với cơ quan thuế nơi chuyển đến.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hoàn thuế GTGT ngày càng...trăm điều khó và vật vã giải trình




Theo thống kê chưa đầy đủ, cứ khoảng 2 tháng rưỡi, Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế lại ra một văn bản nhằm siết lại các điều kiện về hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT).
Tính chung 30 tháng gần đây đã có 12 văn bản siết lại các điều kiện về hoàn thuế giá trị gia tăng được ban hành.

Theo quy định tại điều 60 Luật quản lý thuế, chỉ một số ít trường hợp thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau như: doanh nghiệp (DN) đề nghị hoàn thuế lần đầu hoặc hoàn thuế trong thời hạn hai năm kể từ thời điểm bị xử lý về hành vi gian lận thuế, hàng hóa dịch vụ không thanh toán qua ngân hàng.
Những trường hợp còn lại là DN không giải trình, bổ sung hồ sơ hoàn thuế, hoặc có giải trình, bổ sung nhưng không chứng minh được số thuế đã khai là đúng, DN vừa chia tách, hợp nhất, sáp nhập...
Thế nhưng hơn hai năm qua, việc hoàn thuế liên tục bị siết bởi các công văn. Đáng chú ý công văn 10492 ban hành ngày 30-7-2015 của Bộ Tài chính đưa ra rất nhiều trường hợp thuộc diện “rủi ro cao”, buộc cơ quan thuế địa phương phải kiểm tra 100% trước khi hoàn thuế.
Siết hoàn thuế bằng công văn
Bà Vũ Thị Hoài Sơn, giám đốc Công ty Tân Nhất Hương, cho biết DN hoạt động hơn 15 năm, sử dụng đến hàng chục ngàn tờ hóa đơn, chưa bao giờ bị phát hiện gian lận. Thế nhưng vào năm 2015, DN bất ngờ bị đưa vào diện kiểm trước, hoàn thuế sau với lý do DN thuộc diện... không ưu tiên do có hoạt động thương mại.
“Thử hỏi không có DN thương mại làm sao hàng hóa xuất khẩu được? Trong khi đó cơ quan thuế chỉ ưu tiên DN sản xuất” - bà Sơn bức xúc.
Theo bà Sơn, trước đây khi việc hoàn thuế áp dụng đúng theo luật, chỉ 15 ngày sau khi hoàn tất hồ sơ là tiền đã về tài khoản của DN. Thế nhưng với quy định mới, DN phải giải trình, bổ sung giấy tờ 2-3 lần, rồi hồ sơ bị xét duyệt qua nhiều tầng nấc, hết Cục Thuế TP rồi ra Tổng cục Thuế khiến tiền thuế bị ngâm 3-5 tháng. Chưa kể, có lúc DN có quyết định hoàn nhưng chờ mòn mỏi chưa có tiền do hết quỹ hoàn thuế.
“Mong ước lớn nhất của DN chúng tôi là chuyện hoàn thuế trở lại như xưa, tức DN được hoàn trước kiểm tra sau. Chúng tôi cũng mong việc hoàn thuế cứ căn cứ theo luật mà thực hiện, đừng có chuyện Tổng cục Thuế hay Bộ Tài chính vài bữa lại ra văn bản đặt ra hết điều kiện này đến điều kiện khác” - bà Sơn kiến nghị.
Kế toán trưởng một DN cũng cho rằng điều DN bức xúc nhất là các điều kiện mà cơ quan thuế đặt ra trong các công văn hướng dẫn không những đứng trên nghị định, thông tư mà còn hết sức vô lý. Có thể dẫn chứng ngay tại công văn 10492 của Bộ Tài chính. Theo đó, một trong những trường hợp mà Bộ Tài chính cho rằng có rủi ro là “lập DN ở địa phương này nhưng kinh doanh mua, bán sản phẩm, hàng hóa sản xuất ở địa phương khác có dấu hiệu bất thường”.
Nhiều DN bức xúc cho rằng mình ở đâu thì lập DN ở đó, còn chuyện tìm thị trường là chuyện khác, có những sản phẩm ở TP ít dùng, DN mang hàng về nông thôn bán thì sao gọi là rủi ro, phải kiểm tra trước hoàn. Chưa hết, DN kinh doanh thương mại xuất khẩu có doanh thu lớn hơn nhiều lần so với số vốn điều lệ cũng bị quy về rủi ro.
Giám đốc một DN cho biết đây là điều rất vô lý vì DN thương mại chỉ mua đi bán lại, không cần đầu tư nhà xưởng máy móc, thậm chí có thể “gối đầu” tiền hàng, chuyện có doanh thu lớn hơn vốn điều lệ đâu có gì là khó hiểu.
Rồi quy định DN bên mua và bên bán có quan hệ nhân thân như bố, mẹ, vợ chồng, anh em, có cùng chủ sở hữu... cũng bị đưa vào diện rủi ro. “Như vậy là cơ quan thuế vơ đũa cả nắm” - vị giám đốc này nói.
Vật vã giải trình
Nhưng điều khiến DN khổ sở nhất là cơ quan thuế địa phương không chỉ làm đúng như các quy định trong các văn bản của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế mà còn làm... hơn thế nữa. Chính điều này khiến các DN “lên bờ xuống ruộng”.
Một DN kinh doanh trong ngành cao su tại TP.HCM cho biết DN mua hàng dự trữ nhằm tránh biến động giá. Hàng gửi ở nhà máy, khi có khách mua DN mới lấy hàng. Thế nhưng cơ quan thuế bắt DN giải trình vì sao mua hàng trước lâu thế?! Trong khi với DN kinh doanh, chuyện phải dự trữ nguồn hàng đâu có gì là bất thường.
Mới nhất là công văn 792 quy định trường hợp hóa đơn vận chuyển hàng hóa đến cửa khẩu để xuất khẩu được lập và ký sau ngày hàng hóa có xác nhận thực xuất của cơ quan hải quan thì bị dừng khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào tương ứng đối với toàn bộ lô hàng xuất khẩu.
Theo DN này, lẽ ra quy định này chỉ áp dụng với các hóa đơn vận chuyển từ nhà máy ra cảng nhưng cơ quan thuế địa phương yêu cầu DN giải trình luôn với cả các hóa đơn vận chuyển tàu biển.
“Trong bảng kê hồ sơ xuất nhập khẩu hàng hóa dịch vụ, cơ quan thuế đánh dấu và ghi thẳng yêu cầu đối với ngày vận chuyển sau ngày thực xuất phải có hợp đồng vận chuyển, trong đó nêu rõ cách thức xuất hóa đơn vì sao không kịp thời.
Ngoài ra, DN còn phải có bảng kê khối lượng vận chuyển. Rồi khi xuất hóa đơn phải ghi nhận đã vận chuyển container xuất hàng ngày nào, số container. Ngược lại, đối với ngày vận chuyển trước ngày làm hợp đồng DN cũng phải giải trình lý do và các tài liệu chứng minh đính kèm...” - giám đốc một DN bức xúc.
Kiến nghị với Thủ tướng, DN này mong muốn ngành thuế nên rõ ràng, minh bạch. DN không vi phạm pháp luật sao cứ phải kiểm trước hoàn sau, rồi đặt ra những quy định vô lý.
Chưa kể công văn 3357 được ban hành mới đây lại quy định thời gian giám sát, kiểm tra hồ sơ hoàn thuế của Tổng cục Thuế không tính trong thời gian giải quyết hồ sơ hoàn thuế của Cục Thuế. Như vậy DN biết chờ đến khi nào?
“Cơ quan thuế nói cải cách hành chính nhưng hành là chính. Hải quan thông quan điện tử nhưng vì lý do gì mà Tổng cục Thuế không hoàn thuế cho DN, lại còn bảo giữ lại chờ có thông tư mới về hoàn thuế. Chuyện này quá bất hợp lý bởi cùng trường hợp này nhưng trước đó hoàn được bây giờ lại chặn lại” - một DN xuất khẩu nói.

Nhiều DN cho biết “rất chia sẻ” chuyện cục thuế địa phương cũng bị áp lực với cấp cao hơn, cũng không được nói với DN là quỹ hoàn thuế khó khăn nhưng chính cách làm vừa qua của cơ quan thuế khiến DN nghĩ không có tiền nên tìm cách làm khó DN nhằm “câu giờ”.
“DN nhập khẩu muốn thông quan phải đóng thuế ngay. Ngược lại, sau khi DN xuất khẩu đi cũng phải trả thuế lại kịp thời chứ tại sao lại vin hết cớ này đến cớ khác để ách tiền hoàn thuế?” - một DN đặt vấn đề.
Ai tuýt còi công văn trái luật?
Ông Nguyễn Thái Sơn, giám đốc Công ty Tư vấn thuế Sài Gòn, cho rằng một điều bất thường là luật và thông tư quy định về hoàn thuế GTGT không thay đổi nhưng thời gian qua Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế liên tục ban hành các công văn đặt ra các điều kiện để siết chuyện hoàn thuế.
Chưa kể công văn được ban hành không những có hiệu lực ngay mà cơ quan thuế còn truy lại, áp dụng ngược cho cả thời gian trước khiến việc hoàn thuế đã rối càng thêm rối.
“Hoàn thuế GTGT là việc rất hệ trọng với DN nhưng cứ mạnh ai nấy ra quy định, đặc biệt trong việc phân loại hoàn thuế. Chỉ cần một công văn đã chuyển hàng loạt DN từ hoàn trước sang kiểm tra trước. DN có thắc mắc, cơ quan thuế giải thích làm theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế hay Bộ Tài chính. Như vậy sao DN cãi được” - ông Sơn nói.
Cũng theo ông Sơn, DN muốn biết làm sao cơ quan thuế có quyền ra các văn bản quy định các điều kiện không có trong luật như vậy mà không cơ quan nào tuýt còi. Chưa kể văn bản ban hành không được công bố công khai, cơ quan thuế cứ căn cứ văn bản chỉ đạo nội bộ mà áp dụng trong khi DN không hề biết có những văn bản này.
“Ngay như tôi chuyên theo dõi thuế cũng không biết có công văn 792 và 3357 đến khi đọc trên báo chí” - ông Sơn bức xúc.
Trong khi đó, luật sư Trần Xoa, giám đốc Công ty luật Minh Đăng Quang, cũng cho rằng thời gian qua ngành thuế lạm dụng công văn rất nhiều. Thậm chí nhiều công văn còn trái luật, đứng trên nghị định, thông tư. Đáng nói hơn, những công văn này lại có giá trị tuyệt đối với cơ quan thuế địa phương.
“Để tránh tình trạng như vừa qua, cần bớt đi các công văn hướng dẫn. Muốn vậy luật cần rõ ràng cụ thể hơn, đặc biệt cần tuân thủ triệt để việc nghị định, thông tư chỉ hướng dẫn, không được đặt thêm điều kiện ngặt nghèo gây khó khăn cho DN.
Trong trường hợp cần có văn bản hướng dẫn thì phải minh bạch, tức là cần công bố rộng rãi cho DN được biết và cần có thời gian áp dụng chứ không thể có hiệu lực tức thì như vừa qua” - ông Xoa nói.
Ngoài ra, theo ông Xoa, cũng cần có cơ quan giám sát tuýt còi các thông tư, văn bản trái luật. Phải quy định rõ việc kiểm soát các văn bản của ngành thuế ban hành trái quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì trách nhiệm thuộc về cơ quan nào trong hệ thống pháp luật VN.
Bãi bỏ các hướng dẫn trái luật

Trao đổi với Tuổi Trẻ, một DN cho biết vừa được cơ quan thuế gọi điện thoại thông báo về công văn 5492 phân loại kiểm tra hồ sơ hoàn thuế GTGT vừa được Bộ Tài chính ban hành, trong đó cho biết việc hoàn thuế sẽ thực hiện theo đúng luật, những hướng dẫn tại các công văn trước đó đều bị bãi bỏ.

“Cơ quan thuế nói việc hoàn thuế trở lại như xưa, DN từ chỗ bị kiểm tra trước sẽ được hoàn trước do không vi phạm quy định về thuế. Do vậy, chúng tôi xin rút hồ sơ để làm lại” - DN này nói.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Một số vấn đề cần biết về khấu trừ thuế GTGT năm 2016



Một số kinh nghiệm khi khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với sản phẩm, dịch vụ được giảm giá, chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, hàng hóa, dịch vụ bị trả lại, bị mất, tổn thất do thiên tai, do cá nhân gây ra và bị vượt định mức tiêu hao cũng như việc phân bổ để khấu trừ thuế giá trị gia tăng trong các doanh nghiệp.
Thực tế cho thấy, trong quá trình thực hiện các quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào của DN vẫn còn mắc không ít thiếu sót, do vậy, việc hiểu đúng các quy định, tránh trường hợp bị xử phạt là rất cần thiết.

Đầu tiên, khấu trừ thuế GTGT đầu vào của sản phẩm, dịch vụ được giảm giá, chiết khấu thương mại.
DN được giảm giá, chiết khấu thương mại khi bên bán đã đăng ký các khoản này theo đúng quy định của Luật Thương mại, khi đó thuế GTGT đầu vào của sản phẩm, dịch vụ được giảm giá, chiết khấu thương mại bị giảm trừ. Nếu DN được giảm giá, chiết khấu thương mại theo thời điểm (theo ngày) thì DN được giảm thẳng vào đơn giá mua và thuế GTGT đầu vào được khấu trừ tương ứng theo giá mua đó. Ngoài ra, DN được hưởng giảm giá, chiết khấu thương mại theo thời kỳ (theo tháng, quý, năm) thì xảy ra hai trường hợp sau:
- Nếu giá trị mua bán lần cuối lớn hơn giá trị chiết khấu, giảm giá thì bên bán khi xuất hóa đơn GTGT phải ghi thêm 01 dòng chiết khấu, giảm giá, khi đó bên mua được khấu trừ toàn bộ thuế GTGT đầu vào theo hóa đơn.
- Nếu giá trị mua bán lần cuối nhỏ hơn giá trị chiết khấu, giảm giá thì bên bán viết chiết khẩu, giảm giá vào lần tiếp theo, tuyệt đối bên bán không được ghi âm trên hóa đơn. Trong trường hợp, bên mua không mua nữa, bên bán sẽ xuất hóa đơn GTGT độc lập ghi nhận khoản chiết khấu, giảm giá cho hóa đơn “từ số ... đến số ....” và gửi cho bên mua.
Thứ hai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào của sản phẩm, dịch vụ được chiết khấu thanh toán, hỗ trợ mua hàng.
- Đối với chiết khấu thanh toán: Bên bán không được ghi giảm chiết khấu thanh toán theo giá trước thuế trên hóa đơn GTGT để xuất cho bên mua, nếu không bên mua sẽ không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào trên hóa đơn đó. Nhưng bên bán được phép không ghi giảm chiết khấu thanh toán trên hóa đơn mua hàng mà thanh toán bằng tiền hay bù trừ công nợ theo đúng hợp đồng kinh tế đã ký kết giữa bên mua và bên bán.
- Đối với hỗ trợ mua hàng: Nếu bên bán hỗ trợ mua hàng bằng tiền thì không liên quan đến khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Nếu bên bán hỗ trợ mua hàng bằng hàng hóa, dịch vụ thì người bán phải xuất hóa đơn GTGT, kê khai thuế GTGT đầu ra nhưng bên mua không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào vì bên mua không phải thanh toán số hàng hóa, dịch vụ đó.
Thứ ba, khấu trừ thuế GTGT đầu vào của sản phẩm bị mất khi kiểm kê, tổn thất do thiên tai, do cá nhân gây ra.
- Sản phẩm bị mất khi kiểm kê kho: Nếu sản phẩm đó được bồi thường đủ thì DN không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào của số sản phẩm đó mà phải xử lý giảm thuế GTGT đầu vào, giảm chi phí vì sản phẩm đó không còn trong kho, không sử dụng để sản xuất kinh doanh. Nếu kế toán xử lý đối với số sản phẩm bị mất bằng cách xuất hóa đơn bán ra cho số sản phẩm bị mất để DN được khấu trừ thuế GTGT đầu vào thì DN sẽ bị phạt tiếp (phạt hai lần) vì đây là hóa đơn xuất khống. Nếu kế toán xử lý bằng cách bù bằng sản phẩm khác thì cũng không được chấp nhận vì người bán sẽ xuất hóa đơn cho sản phẩm bù đó, nếu đơn vị mua là tên DN thì đây là lần mua mới, trong khi nếu là tên cá nhân thì không có liên quan gì đến DN.
- Sản phẩm bị tổn thất do thiên tai (lũ lụt, sét đánh...) gây ra: DN vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với sản phẩm này (Khoản 1, điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC). Nhưng nếu DN đã mua bảo hiểm và được bồi thường theo giá cả thuế GTGT thì không được khấu trừ, còn DN đã mua bảo hiểm và được bồi thường theo giá chưa thuế GTGT thì được khấu trừ thuế GTGT bình thường. Trường hợp chưa mua bảo hiểm cho số sản phẩm đó thì DN vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với phần sản phẩm bị tổn thất xác định được.
- Sản phẩm bị tổn thất do cá nhân gây ra: Khi đó cá nhân phải chịu trách nhiệm, DN có thể hỗ trợ cho cá nhân một phần. Khoản thuế GTGT đầu vào đối với sản phẩm do cá nhân làm mất thì DN không được khấu trừ.
Thứ tư, khấu trừ thuế GTGT đầu vào của sản phẩm vượt định mức tiêu hao.
Nếu vượt định mức tiêu hao sản phẩm do DN tự xây dựng thì DN vẫn được khấu trừ phần thuế GTGT trong định mức cho phép. Nếu vượt định mức tiêu hao sản phẩm do Nhà nước xây dựng thì DN không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, đồng thời chi phí phát sinh cũng bị loại khỏi chi phí được trừ. Nếu DN không xây dựng định mức tiêu hao sản phẩm thì cơ quan thuế ấn định định mức. Nếu trong định mức thì DN được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, còn ngoài định mức thì DN không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Thứ năm, khấu trừ thuế GTGT đầu vào của sản phẩm, dịch vụ bị trả lại.
Sản phẩm, dịch vụ mà bên mua trả lại bên bán thì bên mua cần điều chỉnh giảm thuế GTGT đầu vào, bên bán điều chỉnh thuế GTGT đầu ra. Cả bên mua và bên bán cần chú ý lý do trả lại hàng được chấp nhận được ghi rõ trong hợp đồng như: Hàng kém chất lượng, hàng sai quy cách, chủng loại.
- Nếu là tổ chức kinh doanh trả lại hàng: Bên mua lập biên bản trả lại hàng, xuất hóa đơn GTGT trả lại hàng cho bên bán, trên hóa đơn ghi rõ: Hóa đơn xuất trả lại hàng do hàng kém chất lượng hoặc hàng sai quy cách, chủng loại (theo Mục 2.8, phụ lục 04 Thông tư số 39/2014/TT-BTC).
- Nếu là tổ chức không kinh doanh (Sở Tài chính, Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội...) trả lại hàng, thì bên mua cần lập biên bản trả lại ghi rõ lý do trả lại hàng như hàng kém chất lượng hoặc sau quy cách..., số lượng hàng trả lại, số tiền tương ứng, tiền thuế..., bên mua trả lại hóa đơn GTGT gốc. Trong trường hợp bên mua chỉ trả lại một phần hàng đã mua thì cũng phải trả lại hóa đơn GTGT gốc rồi bên bán mới xuất hóa đơn GTGT bổ sung.
- Nếu là cá nhân trả lại hàng: Cá nhân không có hóa đơn, cá nhân cần trả lại bên bán hóa đơn GTGT gốc và biên bản trả lại hàng. Trong trường hợp cá nhân làm mất hóa đơn thì cá nhân phải chịu mức phạt bằng ½ trị giá hóa đơn đó và cá nhân phải tự đi nộp khoản phạt này cho cơ quan thuế.
Thứ sáu, phân bổ để khấu trừ thuế GTGT đối với trường hợp thanh toán sai năm tài chính và sai hóa đơn tài chính.
Đối với hóa đơn GTGT đầu vào DN phải thanh toán ở năm này nhưng năm sau mới thanh toán và thanh toán sai quy định thì DN không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, không được ghi nhận khoản chi phí tại tháng/năm phát sinh thanh toán sai quy định. Vì vậy, việc phân bổ để khấu trừ thuế GTGT trong trường hợp này là sai. Đối với hóa đơn GTGT đầu vào đã khấu trừ năm nay nhưng sang năm mới phát hiện là hóa đơn tài chính bị sai thì kế toán cần khai bổ sung giảm thuế GTGT đầu vào cho năm nay.
Thứ bảy, phân bổ để khấu trừ thuế GTGT hàng tháng và cuối năm đối với mặt hàng không chịu thuế GTGT, mặt hàng không kê khai thuế và mặt hàng chịu thuế GTGT.
Khi phân bổ để khấu trừ thuế GTGT hàng tháng và cuối năm đối với mặt hàng không chịu thuế GTGT và mặt hàng chịu thuế, kế toán vận dụng nội dung thuộc khoản 9 điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính để phân bổ thuế GTGT dùng chung cho hai hoạt động, kế toán cần chú ý phần mẫu số của công thức có bổ sung chỉ tiêu “doanh thu không phải kê khai thuế” theo điều 5 Thông tư số 219/2013/TT-BTC và điều 1 Thông tư số 193/2015/TT-BTC. DN chỉ được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hoạt động sản xuất sản phẩm chịu thuế GTGT. Thuế GTGT đầu vào dùng chung cho mặt hàng không phải kê khai thuế GTGT và mặt hàng chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ, vì vậy kế toán không cần phân bổ.


Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hướng dẫn cách xử lý khi mua hàng hóa không có hóa đơn 2016



Mua hàng không có hóa đơn GTGT có thực sự nguy hiểm trong tất cả trường hợp? Cách xử lý như thế nào để cơ quan Thuế chấp nhận? Bài viết tóm lược những vấn đề cơ bản và cách giải quyết hiệu quả trong tình huống này như sau:

1. Các trường hợp được chấp nhận mua hàng không có hóa đơn GTGT
Tại Điều 6, Khoản 2, Điểm 2.4 Thông tư 78/2014/TT-BTC và Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC sửa đổi bổ sung có quy định về các khoản chi phí không được trừ khi mua các mặt hàng hóa không có hóa đơn (được phép lập bảng kê) như sau:
Mua đất, đá, cát, sỏi của hộ, cá nhân tự khai thác trực tiếp bán ra;
Mua phế liệu của người trực tiếp thu nhặt;
Mua tài sản, dịch vụ của hộ, cá nhân không kinh doanh trực tiếp bán ra;
Mua hàng hóa là nông, lâm, thủy sản của người sản xuất, đánh bắt trực tiếp bán ra;
Mua sản phẩm thủ công làm bằng đay, cói, tre, nứa, lá, song, mây, rơm, vỏ dừa, sọ dừa hoặc nguyên liệu tận dụng từ sản phẩm nông nghiệp của người sản xuất thủ công không kinh doanh trực tiếp bán ra;
Mua hàng hóa, dịch vụ của cá nhân, hộ kinh doanh (không bao gồm các trường hợp nêu trên) có mức doanh thu dưới ngưỡng doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng (100 triệu đồng/năm).”
Đây là những trường hợp khi mua hàng không cần hóa đơn GTGT. Tuy nhiên, để đưa các chi phí này vào chi phí hợp lý, được cơ quan Thuế chấp nhận, doanh nghiệp cần phải có bộ hồ sơ thanh toán đầy đủ các chứng từ sau:
Hợp đồng mua bán
Chứng minh thư bên bán
Phiếu chi nếu thanh toán bằng tiền mặt
Giấy đề nghị thanh toán
Giấy báo nợ nếu thanh toán qua ngân hàng
Bảng kê hàng hóa dịch vụ mua vào không có hóa đơn GTGT theo mẫu 01/TNDN (được ban hành kèm theo TT 78/2014/TT-BTC). Bảng kê này phải do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm và ký tên vào bảng kê.
Ghi nhớ: Hàng hóa dịch vụ phải có giá bán tương đương trên thị trường. Trường hợp, doanh nghiệp để mức giá cao hơn thị trường, cơ quan Thuế sẽ căn cứ vào mức giá trên thị trường hiện tại để tính lại chi phí tính thuế TNDN. Phần chênh lệch giá trị hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp mua với giá trị thị trường sẽ bị loại, không được chấp nhận là chi phí hợp lý khi tính Thuế TNDN.
2. Các trường hợp thực tế hay gặp và cách xử lý theo thông tư mới nhất.
Trường hợp 1: Chi phí thuê xe vận chuyển, chi phí bốc dỡ như xe ôm, xe ba gác của cá nhân không có hóa đơn GTGT.
Thực tế, khoản chi phí này không được coi là chi phí không cần hóa đơn GTGT như quy định bên trên. Do đó, các bạn khéo léo biến chi phí này từ chi phí vận chuyển, bốc dỡ thành chi phí nhân công bằng thủ thuật sau:
Đối với chi phí thuê vận chuyển, bốc dỡ có giá trị nhỏ hơn 2 triệu đồng/lần hoặc tháng:
Bước 1: Ký hợp đồng lao động thời vụ 3 tháng, kèm theo chứng minh thư của người cung cấp dịch vụ.
Bước 2: Thanh toán chi phí cho họ thông qua thanh toán tiền lương. Tiền lương của họ sẽ được đưa vào bảng lương của doanh nghiệp. Thông tin của người lao động này sẽ nằm ở mục lao động thời vụ.
Bước 3: Chi trả lương cho người lao động này, lấy chữ ký của họ trên bảng thanh toán lương.
Đối với chi phí thuê vận chuyển, bốc dỡ có giá trị lớn hơn 2 triệu đồng/lần hoặc tháng:
Khoản thu nhập này của người vận chuyển, bốc dỡ theo quy định phải nộp Thuế TNCN, do vậy, để vừa có thể tính chi phí hợp lý cho doanh nghiệp, vừa thực hiện nghĩa vụ nộp thuế TNCN của cá nhân cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp, các bạn thực hiện theo các bước sau:
Bước 1, bước 2, bước 3: Thực hiện như trường hợp trên
Bước 4: Khấu trừ thuế TNCN 10%, phần còn lại chi trả cho người cung cấp dịch vụ vận chuyển, bốc dỡ. Sau đó cung cấp cho họ bản chứng từ khấu trừ thuế TNCN để họ thực hiện quyết toán Thuế về sau. Lưu ý: Chứng từ khấu trừ Thuế này, doanh nghiệp có thể đăng ký đặt in hoặc mua của cơ quan Thuế.

Hoặc: không khấu trừ thuế TNCN 10%, chi trả cho họ 100% chi phí vận chuyển, bốc dỡ. Trong trường hợp này, doanh nghiệp phải làm MST cho họ, và yêu cầu họ làm cam kết tổng thu nhập trong năm không nằm trong diện thu nhập phải nộp thuế TNCN (cam kết 23).
Trong trường hợp này, kinh nghiệm là các bạn nên khấu trừ 10% thuế TNCN của người cung cấp dịch vụ.
Trường hợp 2: Doanh nghiệp thuê nhà, cửa hàng của cá nhân có giá nhỏ hơn 100 triệu/năm, hoặc 8,4 triệu/tháng.
Theo khoản 7 điều 1 Thông tư 119/2014/TT-BTC quy định:
“Hộ gia đình, cá nhân có tài sản cho thuê thuộc đối tượng phải khai, nộp thuế GTGT, thuế TNCN và nộp thuế môn bài theo thông báo của cơ quan thuế.
- Riêng đối với hộ gia đình, cá nhân có tài sản cho thuê mà tổng số tiền cho thuê trong năm thu được từ 100 triệu trở xuống hoặc tổng số tiền cho thuê trung bình một tháng trong năm từ 8,4 triệu đồng trở xuống thì không phải khai, nộp thuế GTGT, thuế TNCN và cơ quan thuế không thực hiện cấp hóa đơn lẻ đối với trường hợp này”
Như vậy trong trường hợp này, doanh nghiệp không có hóa đơn GTGT đầu vào. Để được chấp nhận chi phí, doanh nghiệp cần có bộ hồ sơ thanh toán đầy đủ như sau:
Hợp đồng thuê nhà
Chứng minh thư photo của chủ nhà
Chứng từ thanh toán: giấy đề nghị thanh toán, phiếu chi (nếu thanh toán bằng tiền mặt), giấy báo nợ của ngân hàng (nếu thanh toán qua chuyển khoản). Lưu ý: Đối với khoản tiền thuê nhà từ 20 triệu trở lên, doanh nghiệp phải chuyển khoản thanh toán cho chủ nhà từ tài khoản của doanh nghiệp (tài khoản đăng ký với cơ quan Thuế) đến tài khoản cá nhân của chủ nhà thì khoản chi phí này mới được tính là hợp lệ khi khấu trừ Thuế.
Biên bản bàn giao nhà nếu có.
Bảng kê hàng hóa dịch vụ mua vào không có hóa đơn mẫu 01/TNDN (ban hành kèm theo Thông tư số 78/2014/TT-BTC). (Bảng kê này sẽ lưu tại DN để sau này giải trình).
Trường hợp 3: Doanh nghiệp thuê xe ô tô, hoặc máy ủi, máy xúc… của cá nhân (có giá trị lớn)
Chi phí vận chuyển này cũng không được quy định trong thông tư 78 trên, nên các bạn có thể chuyển sang ký hợp đồng khoán việc với cá nhân cho thuê.
Hồ sơ gồm:
Hợp đồng giao khoán
Biên bản nghiệm thu công việc
Chứng minh thư pho tô của cá nhân cho thuê
Chứng từ thanh toán: giấy đề nghị thanh toán, phiếu chi (thanh toán bằng tiền mặt) hoặc giấy báo nợ (thanh toán chuyển khoản). Các bạn ghi nhớ nếu giá trị thanh toán lớn hơn 20 triệu thì phải thanh toán qua chuyển khoản từ tài khoản đăng ký với cơ quan thuế của doanh nghiệp đến tài khoản của cá nhân người cung cấp dịch vụ.
Hoá đơn bán lẻ của cơ quan thuế cấp (Cụ thể: Cá nhân cho thuê xe sẽ phải mang những giấy tờ sau để lên cơ quan thuế để nộp thuế: Hợp đồng giao khoán, biên bản nghiệm thu hoàn thành công việc, chứng từ thanh toán, CMT photo. Sau khi nộp thuế xong cơ quan thuế sẽ cấp cho 1 hoá đơn bán lẻ để đưa cho DN)
Trường hợp 4: Doanh nghiệp mua lại tài sản, công cụ, dụng cụ của cá nhân (ví dụ: xe ô tô) để tiến hành sản xuất kinh doanh.
Trong trường hợp này, doanh nghiệp không cần hóa đơn GTGT đầu vào. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần phải hoàn thiện bộ chứng từ đầy đủ sau:

Bảng kê hàng hóa dịch vụ mua vào không có hóa đơn mẫu 01/TNDN (ban hành kèm theo Thông tư số 78/2014/TT-BTC).
Hợp đồng mua bán xe
Giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu mang tên công ty để làm căn cứ hạch toán giá trị tài sản cố định, trích khấu hao tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.
Chứng từ thanh toán: giấy đề nghị thanh toán, phiếu chi (nếu thanh toán bằng tiền mặt), giấy báo nợ của ngân hàng (nếu thanh toán qua chuyển khoản). Lưu ý: Đối với khoản tiền thuê nhà từ 20 triệu trở lên, doanh nghiệp phải chuyển khoản thanh toán cho chủ nhà từ tài khoản của doanh nghiệp (tài khoản đăng ký với cơ quan Thuế) đến tài khoản cá nhân của chủ nhà thì khoản chi phí này mới được tính là hợp lệ khi khấu trừ Thuế.
Trường hợp 5: Chi phí quảng cáo trên mạng của một số trang quảng cáo trong và ngòai nước với hình thức thanh tóan bằng thẻ ngân hàng không có hóa đơn GTGT.
Về nguyên tắc, các khoản chi của doanh nghiệp cho hoạt động quảng cáo trên các trang mạng xã hội (ví dụ yahoo, facebook, google,…) hoặc các nhà mạng trong và ngoài nước sẽ được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chiụ thuế TNDN, nếu các hoạt động quảng cáo này phục vụ hoạt động SXKD của DN và có đầy đủ chứng từ hoặc hoá đơn hợp pháp, hợp lệ.
Có 2 tình huống xảy ra như sau trong thực tế:
Tình huống 1: Doanh nghiệp ký kết hợp đồng quảng cáo đối với các doanh nghiệp trong nước.
Chứng từ trong trường hợp này bao gồm:
_Hợp đồng cung cấp dịch vụ
_Hóa đơn GTGT
_Biên bản nghiệm thu hợp đồng
_Chứng từ thanh toán: Giấy đề nghị thanh toán, phiếu chi (nếu thanh toán bằng tiền mặt), giấy báo có (nếu thanh toán qua ngân hàng)
Tình huống 2: Doanh nghiệp ký kết hợp đồng quảng cáo đối với các doanh nghiệp nước ngoài (Quảng cáo Facebook, quảng cáo Google Adwords...).
Thông thường, các nhà mạng/nhà quảng cáo quốc tế (không đăng ký thuế tại Việt Nam) không có Hợp đồng dạng văn bản giấy và Hoá đơn của Việt Nam mà thường có các điều khoản giao kết ngay trên trang quảng cáo. Theo đó, nếu khách hàng có nhu cầu quảng cáo, và chấp nhận các quy định về thời gian, phương thức, mức tiền chấp nhận thanh toán qua thẻ tín dụng hoặc tài khoản ngân hàng,… thì sẽ tiến hành thực hiện (mua) dịch vụ của nhà cung cấp. Do đó, bộ chứng từ cần thiết để DN được tính vào chi phí được trừ bao gồm:
Tờ trình nhu cầu chạy quảng cáo của bộ phận kinh doanh cần quảng cáo với cấp trên, kèm theo bản in các điều khoản mà nhà mạng/trang quảng cáo đó đưa ra (giá cả, phương thức quảng cáo, cách trả tiền, thời gian chạy quảng cáo,…) được Lãnh đạo DN phê duyệt.
Biên cáo nghiệm thu của bộ phận kinh doanh hoặc bằng chứng chứng minh quảng cáo của doanh nghiệp hoàn thành theo hợp đồng trên.
Chứng từ thanh toán: Sao kê ngân hàng kèm uỷ nhiệm chi, séc của DN chứng minh việc DN thanh toán tiền trả cho trang quảng cáo;
Tờ khai và chứng từ nộp thuế nhà thầu nước ngoài theo quy định tại Thông tư số 78/2014 và số 103/2014).
Trên đây là một số trường hợp mua hàng không có hóa đơn GTGT mà các doanh nghiệp hay gặp phải ngoài thực tế, các bạn nên lưu lại để xử lý công việc hiệu quả.
Trường hợp 6: Doanh nghiệp thuê nhà, cửa hàng của cá nhân có giá trị lớn hơn 100 triệu/năm và giá trị lớn hơn 8.4 triệu/tháng
Trong trường hợp này, các bạn yêu cầu chủ ra cơ quan Thuế để nộp Thuế thu nhập, sau đó cơ quan Thuế sẽ cấp cho chủ nhà 1 hóa đơn bán lẻ. Hóa đơn này chủ nhà sẽ trao lại cho doanh nghiệp để hoàn thiện hồ sơ thanh toán.
Hồ sơ thanh toán trong trường hợp này như trường hợp thuê nhà dưới 100 triệu/năm hoặc 8.4 triệu/tháng. Tuy nhiên, bổ sung hóa đơn thuê nhà trên


Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Không nộp nộp chậm mẫu 08/MST đăng ký tài khoản ngân hàng có được khấu trừ thuế



Khi doanh nghiệp mở hoặc thêm mới tài khoản ngân hàng thì phải đăng ký với cơ quan thuế quản lý trực tiếp bằng mẫu 08/MST - đăng ký thay đổi thông tin đăng ký thuế, trong vòng 10 ngày kể từ ngày được cấp tài khoản.

Theo quy định tại Luật thuế GTGT (TT 219/2013/TT-BTC) và thuế TNDN (TT 78/2014/TT-BTC) thì: đối với các hóa đơn có tổng thanh toán từ 20 triệu đồng trở lên doanh nghiệp phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì mới được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác hướng dẫn tại khoản 3 và khoản 4 Điều của TT 219/2013/TT-BTC - Được sủa đổi - bổ sung tại Khoản 6 Điều 3 Thông tư 119/2014/TT-BTC
Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán (tài khoản của bên mua và tài khoản của bên bán phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế.
Vậy, nếu doanh nghiệp thanh toán bằng tài khoản ngân hàng mà chưa đăng ký mẫu 08/MST với cơ quan thuế thì có được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính vào làm chi phí không?
KẾ TOÁN HÀ NỘI sẽ cung cấp cho các bạn các công văn hướng dẫn cụ thể từng trường hợp:
TH1: Bên mua chưa đăng ký, còn bên bán đã đăng ký:
Bên mua được phép đăng ký bổ sung mẫu 08/MST để khấu trừ thuế và tính vào chi phí và sẽ bị phạt nộp chậm mẫu 08/MST
Theo hướng dẫn tại Công văn số 3017/TCT-KK ngày 27/7/2015, trường hợp bên mua đã đăng ký bổ sung thông tin tài khoản thanh toán trước khi cơ quan thuế công bố quyết định thanh tra thì vẫn đáp ứng điều kiện về chứng từ thanh toán qua ngân hàng để xét khấu trừ/hoàn thuế và hạch toán chi phí.
TH2: Bên mua chưa đăng ký, bên bán cũng chưa đăng ký:
- Bên mua không được khấu trừ thuế nếu không đăng ký bổ sung thông tin tài khoản chuyển tiền.
- Được khấu trừ/tính vào chi phí nếu đăng bên mua đăng ký BS.
Theo hướng dẫn tại Công văn số 1728/TCT-KK ngày 7/5/2015, đối với hàng hóa mua bán trong nước, nếu tài khoản chuyển và nhận tiền hàng đều chưa đăng ký Thuế thì hai bên mua, bán đều bị xử phạt, đồng thời, bên mua không được khấu trừ/hoàn thuế GTGT đầu vào
Tuy nhiên, nếu bên mua nhanh chóng đăng ký bổ sung thông tin tài khoản thanh toán tiền hàng trước khi cơ quan Thuế công bố quyết định thanh tra thì thuế GTGT đầu vào sẽ được khấu trừ/hoàn lại.
Công văn số 5317/TCT-KK ngày 10/12/2015 của Tổng cục Thuế về chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì nếu bên mua không đăng ký bổ sung thông tin tài khoản chuyển tiền và bên bán cũng không đăng ký tài khoản nhận tiền với cơ quan thuế thì các bên đều bị xử phạt vi phạm về đăng ký thuế, đồng thời bên mua không được khấu trừ/hoàn thuế và hạch toán chi phí.
TH3: Bên mua đã đăng ký, bên bán chưa đăng ký.
Khi đi mua hàng hóa dịch vụ, Bên mua không cần phải yêu cầu bên bán xuất trình mẫu 08/MST đã đăng ký cho tài khoản nhận thanh toán đó. Bên bán tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp thông tin tài khoản mở tại ngân hàng của mình cho bên mua. Nếu tài khoản đó bên bán chưa đăng ký với CQT thì bên bán sẽ bị phạt chậm nộp.
- Bên mua chỉ cần có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo quy định của pháp luật thì đáp ứng điều kiện khấu trừ về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt,
Theo CV Số: 3283/CT-TTHT, của Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 05 năm 2014.
TH4: Bên mua thanh toán bằng tài khoản chưa đăng ký cho các hóa đơn dưới 20 triệu
- Bên mua vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính vào làm chi phí vì luật chỉ quy định với các hóa đơn từ 20tr trở lên.

- Theo Công văn số 3210/TCT-CS ngày 12/8/2014 của Tổng cục Thuế, tài khoản nhận thanh toán phải có đăng ký với cơ quan Thuế thì hồ sơ hoàn thuế mới được xem xét và giải quyết; các hóa đơn dưới 20 triệu không bắt buộc chuyển khoản qua ngân hàng nhưng nếu đã thực hiện chuyển khoản thì bắt buộc thanh toán vào tài khoản có đăng ký với cơ quan Thuế nếu không muốn bị xử phạt theo quy định tại Điều 7 Thông tư 166/2013/TT-BTC (Công văn số 6360/CT-TTHT ngày 7/8/2014 của Cục Thuế TP. HCM)
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hướng dẫn xử lý hóa đơn mua của doanh nghiệp bỏ trốn



Trường hợp doanh nghiệp phát hiện hoặc được cơ quan Thuế thông báo về những hóa đơn đầu vào là mua của doanh nghiệp bỏ trốn khỏi địa chỉ kinh doanh thì kế toán phải xác định xem thời điểm phát sinh hóa đơn đầu vào đó là trước hay sau khi doanh nghiệp bỏ trốn:
+ Nếu hóa đơn phát sinh sau ngày doanh nghiệp bán hàng bỏ trốn thì doanh nghiệp không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và không được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế.
+ Nếu hóa đơn phát sinh trước ngày doanh nghiệp bán hàng bỏ trốn thì Cục Thuế phải kiểm tra xem xét, đối chiếu với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để xác định có hàng hóa thực tế mua hay mua bán hóa đơn khống để xử lý vi phạm.

- Trường hợp cơ sở kinh doanh sử dụng hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ của cơ sở kinh doanh bỏ trốn để kê khai khấu trừ thuế GTGT, tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN mà thời điểm mua hàng hóa, dịch vụ phát sinh trước ngày xác định cơ sở kinh doanh bỏ trốn theo thông báo của cơ quan thuế và cơ quan thuế hoặc các cơ quan chức năng khác chưa đủ căn cứ để kết luận đó là hóa đơn bất hợp pháp thì cơ quan thuế phải thực hiện kiểm tra xác định đúng có hàng hóa, dịch vụ mua vào và yêu cầu cơ sở kinh doanh chứng minh và chịu trách nhiệm trước pháp luật việc mua bán là có thật: có hợp đồng mua bán, văn bản chứng từ thanh lý hợp đồng (nếu có), phiếu xuất kho, phiếu nhập kho, chứng từ thanh toán tiền; hàng hóa, dịch vụ mua vào của cơ sở bỏ trốn được sử dụng để phục vụ hoạt động kinh doanh đã bán ra và đã kê khai thuế, có hạch toán kế toán đầy đủ, đúng quy định thì cơ sở kinh doanh được khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo hóa đơn mua hàng đó và tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN
Theo công văn Số: 1167/CT-TTHT ngày 4 tháng 5 năm 2013
Hiện nay công tác quản lý, sử dụng hóa đơn tự in, đặt in của các doanh nghiệp ngày càng khó khăn, phức tạp. Các đơn vị lợi dụng sự thông thoáng trong việc tạo và sử dụng hóa đơn, một số đối tượng sử dụng kê khai hóa đơn bất hợp pháp để trốn thuế, lừa đảo, chiếm đoạt tiền hoàn thuế đang diễn ra ngày càng nhiều.
Để kịp thời giúp cho doanh nghiệp kiểm tra tính hợp pháp của hóa đơn trong quá trình giao dịch. Tổng cục Thuế đã xây dựng Website tra cứu hoá đơn tại địa chỉ Tracuuhoadon.gdt.gov.vn với nội dung cung cấp các thông tin về hóa đơn do cơ quan Thuế và người nộp thuế (NNT) phát hành. Thông tin trên website được tập hợp từ các báo cáo, thông báo của các đơn vị phát hành hoá đơn (NNT và cơ quan Thuế) trên cả nước, theo quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP của Chính phủ và thông tư 39/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính.
Trang Web: Tracuuhoadon.gdt.gov.vn giúp NNT và các tổ chức, cá nhân khác có thể tra cứu được các thông tin về hóa đơn bao gồm :
+ Đơn vị phát hành hóa đơn, thời gian phát hành hóa đơn và thông tin về hóa đơn như ký hiệu, từ số, đến số,..
+ Thông tin hóa đơn không còn giá trị sử dụng là các hóa đơn của NNT ngừng hoạt động, bỏ trốn mang theo hóa đơn,..
+ Thông tin hóa đơn đã báo mất, hủy, xóa bỏ trong quá trình sử dụng
+ Thông tin hóa đơn không có giá trị sử dụng qua kết luận thanh tra, kiểm tra của cơ quan Thuế.
Việc tra cứu hóa đơn là việc làm vô cùng cần thiết khi công ty các bạn mua hàng của những nhà cung cấp mới: mới phát sinh giao dịch mua bán, mua hàng lần đầu, mới thành lập...
Về khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với những doanh nghiệp có mua hàng hóa, sử dụng hóa đơn đầu vào của doanh nghiệp ngừng kinh doanh, bỏ trốn khỏi địa điểm kinh doanh có dấu hiệu mua bán hóa đơn bất hợp pháp nhưng chưa có kết luận chính thức của cơ quan thuế hoặc các cơ quan chức năng thì xử lý như sau:
1. Trường hợp doanh nghiệp chưa thực hiện kê khai khấu trừ thuế GTGT thì Cơ quan thuế thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp biết để tạm dừng kê khai khấu trừ thuế GTGT đối với các hóa đơn có dấu hiệu vi phạm pháp luật, chờ kết quả chính thức cơ quan có thẩm quyền. Doanh nghiệp chỉ được thực hiện kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với các hóa đơn không có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
2. Trường hợp doanh nghiệp đã kê khai khấu trừ thuế GTGT thì cơ quan thuế thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp biết để kê khai điều chỉnh giảm số thuế GTGT đã khấu trừ. Trường hợp doanh nghiệp khẳng định việc mua bán hàng hóa và hóa đơn GTGT đầu vào sử dụng kê khai khấu trừ là đúng quy định thì doanh nghiệp phải cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật, đồng thời cơ quan thuế phải thực hiện thanh tra, kiểm tra tại doanh nghiệp để kết luận và xử lý vi phạm theo quy định. Trong quá trình thanh tra, kiểm tra phải thực hiện xác minh, đối chiếu với doanh nghiệp có quan hệ mua bán về một số nội dung.
+ Kiểm tra, xác minh về hàng hóa: Hợp đồng mua bán hàng hóa (nếu có); hình thức giao nhận hàng hóa; địa điểm giao nhận hàng hóa; phương tiện vận chuyển hàng hóa; chi phí vận chuyển hàng hóa; chủ sở hữu hàng hóa và nguồn gốc hàng hóa (trước thời điểm giao nhận hàng hóa)
+ Kiểm tra xác minh về thanh toán: Ngân hàng giao dịch; đối tượng nộp tiền vào tài khoản để giao dịch; số lần thực hiện giao dịch; hình thức thanh toán; chứng từ thanh toán.
+ Kiểm tra xác minh về xuất khẩu hàng hóa: Tờ khai hải quan có xác nhận thực xuất của Cơ quan hải quan; chứng từ thanh toán qua ngân hàng; Vận đơn (nếu có).
=> Qua thanh tra, kiểm tra nếu xác minh được việc mua bán hàng hóa là có thực và đúng với quy định của pháp luật thì giải quyết cho doanh nghiệp được khấu trừ, hoàn thuế GTGT; đồng thời yêu cầu doanh nghiệp cam kết nếu trong các hồ sơ, tài liệu doanh nghiệp xuất trình cho cơ quan Thuế sau này phát hiện có sai phạm, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế, có dấu hiệu tội phạm thì lập và chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền để điều tra truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo công văn Số: 11797/BTC-TCT - hướng dẫn và bổ sung nội dung công văn số 1752/BTC-TCT
Của Bộ Tài Chính ngày 22 tháng 8 năm 2014
4. Trường hợp doanh nghiệp chưa được giải quyết hoàn thuế thì tạm dừng hoàn thuế theo hướng dẫn tại điểm 3 Công văn số 13706/BTC-TCT. Chỉ thực hiện tạm dừng đối với số hàng hóa của hóa đơn có dấu hiệu vi phạm đang được cơ quan chức năng thanh tra, điều tra; số hàng hóa không thuộc diện có dấu hiệu vi phạm được thực hiện khấu trừ, hoàn thuế đầy đủ, kịp thời theo quy định.
5. Trường hợp doanh nghiệp đã được hoàn thuế thì cơ quan thuế thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp biết để kê khai điều chỉnh thuế GTGT. Trường hợp doanh nghiệp khẳng định việc mua bán hàng hóa và hóa đơn GTGT đầu vào sử dụng kê khai khấu trừ là đúng quy định pháp luật thì doanh nghiệp phải cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về hồ sơ kê khai, hoàn thuế GTGT của mình. Trên cơ sở đó cơ quan thuế thực hiện thanh tra tại doanh nghiệp để kết luận và xử lý vi phạm theo quy định. Trong quá trình thanh tra tại doanh nghiệp cơ quan thuế quản lý doanh nghiệp phải phối hợp với cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp có dấu hiệu mua bán hóa đơn bất hợp pháp để kiểm tra hồ sơ kê khai thuế của doanh nghiệp này, xác minh, kết luận hành vi vi phạm của doanh nghiệp liên quan đến các hóa đơn mà doanh nghiệp mua đã sử dụng để kê khai khấu trừ, hoàn thuế GTGT.
5. Trường hợp qua thanh tra, kiểm tra phát hiện có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng pháp luật thuế, có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan thuế thực hiện lập và chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền để điều tra truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Đối với trường hợp doanh nghiệp có sử dụng hóa đơn của các doanh nghiệp liên quan đến các doanh nghiệp trung gian khâu trước có dấu hiệu vi phạm về sử dụng hóa đơn bất hợp pháp thì cơ quan thuế thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp biết để doanh nghiệp tự kê khai điều chỉnh thuế GTGT nếu doanh nghiệp mua bán hàng hóa trước đó có vi phạm. Trường hợp doanh nghiệp tự kiểm tra, đối chiếu với các khách hàng liên quan khẳng định việc mua bán hàng hóa và hóa đơn GTGT đầu vào sử dụng kê khai khấu trừ là đúng quy định pháp luật thì doanh nghiệp phải cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về hồ sơ kê khai, hoàn thuế GTGT của mình. Cơ quan thuế thực hiện hoàn thuế cho doanh nghiệp theo đúng quy trình, thủ tục quy định và phải tổ chức thực hiện kiểm tra ngay sau đó theo đúng quy định.
Theo công văn Số: 1752 /BTC-TCT Bộ Tài Chính ngày 10 tháng 02 năm 2014

V/v Tăng cường quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


 

© 2012 Địa chi học kế toán thực hành uy tín All Rights Reserved Tìm việc kế toán