Tại sao kế toán mới ra trường mất điểm với nhà tuyển dụng?



“Em có chiến lược rõ ràng, giờ em có thể bắt đầu một công việc là nhân viên, nhưng sau 1-2 năm nữa, em muốn làm trưởng phòng với mức lương 1000$.”

Là nhân viên phụ trách tuyển dụng cho một tập đoàn nước ngoài, tôi đã thực hiện nhiều phỏng vấn cho các vị trí khác nhau, từ vị trí cấp cao đến những vị trí nhân viên. Phỏng vấn vị trí nào đối với tôi cũng là một trải nghiệm thú vị, vì mỗi buổi phỏng vấn là một thách thức đi giải bài toán tìm nhân tài cho công ty.
Với những ứng viên cấp cao, thách thức là phải hiểu được phong cách lãnh đạo, định hướng tầm nhìn của họ có thật sự phù hợp với chiến lược công ty hay không. Còn với ứng viên mới ra trường, vì chưa có nhiều kinh nghiệm nên các bạn ít khi thể hiện phong cách chuyên nghiệp cũng như không biết cách làm nổi bật những kỹ năng của mình.
Trong bài viết này, tôi muốn chia sẻ một câu chuyện về buổi phỏng vấn ứng viên là kế toán mới ra trường. Qua câu chuyện chia sẻ này, hy vọng các bạn sinh viên có sự chuẩn bị tốt hơn cho mỗi buổi phỏng vấn.
Sau khi phỏng vấn qua điện thoại một ứng viên cho vị trí Kế toán viên, tôi mời ứng viên đó đến công ty phỏng vấn trực tiếp. Trong email gửi lịch phỏng vấn, tôi đã cẩn thận gửi kèm bản mô tả công việc và dặn dò em ứng viên này tìm hiểu kỹ về vị trí cũng như tập đoàn của chúng tôi.
Đến hôm phỏng vấn, sau khi bắt tay, giới thiệu, đưa card của mình, tôi mời ứng viên ngồi vào ghế. Vừa ngồi xuống,em rút trong cặp ra 1 cuốn sổ tay và 1 cây bút. Tôi mừng thầm trong bụng, ứng viên này có vẻ là một người cẩn thận, một đức tính tốt cho vị trí kế toán. Tôi bắt đầu buổi phỏng vấn bằng việc yêu cầu em giới thiệu về quá trình học vấn ở đại học và kinh nghiệm các công việc bán thời gian em đã trải qua. Phong thái có vẻ tự tin, em bắt đầu:

- Em xin giới thiệu về bản thân em. 6 tuổi e đi học cấp 1 tại trường…
Tôi giật mình, ngưng em lại ngay: Chị muốn nghe thông tin của em tại trường Đại học, không cần phải từ cấp 1 đâu. Em nói “vâng” và bắt đầu trả lời nhưng với giọng nói rất nhỏ, chậm, vừa nói vừa bấm bút bi. Tôi nhẹ nhàng nhắc em nói to hơn và đừng bấm bút bi. Em luống cuống gật đầu, nhưng có vẻ không có chiếc bút bi tay em bị thừa, ko biết làm gì, em cầm card visit của tôi, vừa nói vừa vân vê, vo tròn chiếc card, gấp nó lại rồi mở nó ra.
Lo ngại ứng viên mất bình tĩnh, tôi hỏi vui em một số câu. Ứng viên tươi cười vui vẻ rồi tự tin trao đổi tiếp, nhưng giọng nói vẫn nhỏ, tay vần vò chiếc name card của tôi.
Sau 10 phút hỏi về bản thân, kinh nghiệm làm việc tại các công ty trước, tôi hỏi em có biết gì về công ty chúng tôi không. Em cười vô tư nói công ty tôi có tiếng trên thị trường nên không cần phải tìm hiểu em cũng biết, nhưng sau đó em chia sẻ những thông tin sai lệch, không đúng.
Biết rằng điều này có thể xảy ra ứng viên, tôi cố vớt vát tìm hiểu về sự phù hợp của ứng viên với vị trí và môi trường công ty. Khi để cập đến vị trí yêu thích của mình, em chia sẻ: “Em có chiến lược rõ ràng, giờ em có thể bắt đầu một công việc là nhân viên, nhưng sau 1-2 năm nữa, em muốn làm trưởng phòng với mức lương 1000$.”
15 phút buổi phỏng vấn đã trôi qua. Chưa nói gì đến nghiệp vụ kế toán, những câu trả lời ngô nghê của em cho tôi thấy ứng viên này không phải ứng viên tiềm năng cho vị trí tôi đang tuyển. Tôi lịch sự hỏi em có câu hỏi nào với tôi không. Em bảo không. Tôi có thể đứng dậy, cảm ơn em dành thời gian qua trao đổi phỏng vấn, nhưng nghĩ nếu cứ đi phỏng vấn với tâm lý thế này, bạn ứng viên sẽ khó mà đậu phỏng vấn tại các công ty khác. Tôi dành thêm chút thời gian tư vấn cho em.
Đọc đến đây các bạn có phát hiện những yếu tố khiến ứng viên mất điểm trong buổi phỏng vấn này chưa? Dưới đây là một số điểm tôi tư vấn cho ứng viên:
Không nên xem thường việc chuẩn bị thông tin về công ty
Giao tiếp tự tin, rõ ràng, trả lời đúng câu hỏi của người phỏng vấn; không nên tạo tiếng động trong buổi phỏng vấn (bấm bút bi, chuông điện thoại)
Đừng kỳ vọng quá cao vào công việc khi bạn đang cần phải trang bị nhiều kinh nghiệm: Khi mới ra trường, bạn chưa có nhiều kinh nghiệm. Vì vậy đừng mơ mộng bạn sẽ được làm trưởng phòng hay phó phòng một tập đoàn lớn ngay lập tức. Thành công có thể sẽ sớm đến với bạn nhưng đó là khi bạn dành thời gian trau dồi kiến thức, chinh phục thách thức công việc. Hãy tỏ ra khiêm tốn, ham học hỏi hơn là ba hoa mình xứng đáng được mức lương cao khi bạn chưa có gì chứng minh cho điều đó.
Và còn điều gì ứng viên này nên tránh khi tham gia phỏng vấn, các bạn đóng góp ý kiến trong phần trả lờ bên dưới nhé

– HR Insider –
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hướng dẫn quyết toán thuế TNCN cho giám đốc người nước ngoài



Nếu người lao động nước ngoài là công dân của quốc gia, vùng lãnh thổ đã ý kết Hiệp định với Việt Nam về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập làm việc từ tháng 01/2015 đến tháng 06/2015 thuộc đối tượng cư trú thì theo điểm e.2, khoản 2, Điều 26 Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định cá nhân cư trú là người nước ngoài kết thúc hợp đồng lao động làm việc tại Việt Nam thực hiện quyết toán với cơ quan thuế trước khi xuất cảnh. Nếu người lao động nước ngoài thuộc đối tượng không cư trú, Công ty thực hiện khấu trừ 20% thu nhập nhập chịu thuế và khi thực hiện quyết toán thuế TNCN khai vào mẫu 05-2/KK-TNCN.

Trong khi đó, đối với trường hợp Giám đốc công ty là người nước ngoài và thuộc đối tượng “Cá nhân cư trú”, có thu nhập tiền lương, tiền công tại công ty Việt Nam và thu nhập phát sinh tại Nhật Bản, thì theo lý giải của Tổng cục Thuế, cá nhân này có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế, quyết toán TNCN theo quy định và không thuộc trường hợp được ủy quyền cho Công ty quyết toán thuế TNCN thay.
Do vậy, cá nhân người nước ngoài phải tự quyết toán TNCN theo mẫu hồ sơ ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/06/2015 của Bộ Tài chính. Theo đó, hồ sơ quyết toán thuế TNCN bao gồm: Tờ khai quyết toán thuế mẫu số 02/QTT-TNCN; Phụ lục mẫu số 02-1/BK-QTT-TNCN nếu có đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc; Bản chụp các chứng từ chứng minh số thuế đã khấu trừ, đã tạm nộp trong năm, số thuế đã nộp ở nước ngoài (nếu có). Cá nhân cam kết chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin trên bản chụp đó; Tài liệu chứng minh thu nhập nhận được do đơn vị, tổ chức ở nước ngoài chi trả.
Đối với trường hợp là người nước ngoài, làm việc trong doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại khu công nghiệp, thường xuyên đi công tác nước ngoài có khi vài tháng mới về Việt Nam, theo đại diện Tổng cục Thuế, vẫn đối tượng phải nộp thuế TNCN theo quy định của Luật Thuế TNCN, cụ thể:
Thứ nhất, nếu thời gian người nước ngoài có mặt ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 2 Luật thuế TNCN thì thuộc đối tượng phải nộp thuế TNCN. dịch vụ hoàn thiện làm bctc năm
Thứ hai, nếu người nước ngoài có thời gian đi công tác nước ngoài vài tháng dẫn đến thời gian có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng là người có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam (ở cùng người thân hoặc thuê nhà tại Việt Nam) thì thuộc đối tượng là cá nhân cư trú tại Việt Nam theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 2 Luật thuế TNCN nên phải đóng thuế TNCN.
Thứ ba, nếu người nước ngoài có thời gian đi công tác nước ngoài vài tháng dẫn đến thời gian có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày và cũng không có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam (như không ở cùng nhà với vợ hoặc chồng, không thuê nhà ở Việt Nam, mỗi khi ở Việt Nam thì ở khách sạn, nhà khách, trụ sở cơ quan…), do đó thuộc đối tượng là cá nhân không cư trú tại Việt Nam nhưng do có thu nhập (lương) từ doanh nghiệp đặt tại Việt Nam (đây là thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam) theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật thuế TNCN nên vẫn phải đóng thuế TNCN.
Điểm mới về miễn thuế TNCN đối với người nước ngoài
Mới đây, theo đề nghị của Bộ Tài chính, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký ban hành quyết định miễn thuế TNCN đối với chuyên gia nước ngoài thực hiện chương trình, dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam,áp dụngkể từ ngày 1/5/2016.Thu nhập miễn thuế của chuyên gia nước ngoài trong trường hợp này là thu nhập trực tiếp thực hiện các hoạt động của chương trình, dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài.
Theo đó,Quyết định số 06/2016/QĐ-TTg quy định *miễn thuế TNCN đối với người nước ngoài đối với chuyên gia nước ngoài được tuyển chọn để trực tiếp thực hiện các hoạt động của chương trình, dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài, trên cơ sở thống nhất giữa tổ chức phi chính phủ nước ngoài và cơ quan chủ quản dự án của Việt Nam quy định tại văn kiện chương trình, dự án đã được phê duyệt theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài.
Tuy nhiên, để được hưởng chính sách ưu đãi này, chuyên gia nước ngoài cũng phải đáp ứng được các điều kiện như: Có quốc tịch nước ngoài; Có hợp đồng ký giữa chuyên gia nước ngoài với tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoặc với cơ quan chủ quản dự án hoặc với chủ khoản viện trợ phi chính phủ nước ngoài của Việt Nam trực tiếp thực hiện các hoạt động của chương trình, dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài theo văn kiện chương trình, dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và điều khoản giao việc (TOR) cho chuyên gia nước ngoài đính kèm hợp đồng.

Riêng hợp đồng ký giữa chuyên gia nước ngoài với tổ chức phi chính phủ nước ngoài phải bổ sung xác nhận của chủ khoản viện trợ phi chính phủ của Việt Nam về việc chuyên gia nước ngoài trực tiếp thực hiện các hoạt động của chương trình, dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài theo văn kiện chương trình, dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. dịch vụ rà soát sổ sách kế toán
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Các trường hợp được phép hủy hóa đơn và quy trình xử lý



Bài viết hướng dẫn quy định về các trường hợp được phép hủy hóa đơn, hồ sơ và cách xử lý trong thực tế của kế toán

1. Trường hợp 1: Hóa đơn đã in nhưng chưa đưa vào sử dụng
1.1. Nếu cơ sở in (Công ty in hoặc cơ quan Thuế) hủy hóa đơn: Tức là khi vừa in xong, cơ sở in hoặc doanh nghiệp nhận thấy đã in sai, in trùng hoặc in thừa hóa đơn. Khi đó, cơ sở in và doanh nghiệp phải tiến hành hủy số hóa đơn sai trên.
Trình tự thực hiện như sau:
a. Đối với Công ty In
Nguyên tắc: hoá đơn đặt in bị in sai, in trùng, in thừa buộc phải hủy trước khi thanh lý Hợp đồng đặt in hoá đơn.
Đối chiếu việc tiêu hủy các bản kẽm và các bản hóa đơn khác đang trong quá trình in (nếu có) với bên đặt in.
Làm Biên bản thanh lý Hợp đồng đặt in hóa đơn;
Tiêu hủy toàn bộ hóa đơn bị in sai, in trùng, in thừa;
b. Đối với Cơ quan Thuế
Tổng cục Thuế có trách nhiệm quy định quy trình huỷ hoá đơn do Cục Thuế đặt in.
Cơ quan thuế thực hiện hủy hoá đơn do Cục Thuế đặt in đã thông báo phát hành chưa bán hoặc chưa cấp nhưng không tiếp tục sử dụng.
1.2 Nếu tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân hủy hóa đơn
a. Do thay đổi mẫu hóa đơn, hoá đơn cũ không tiếp tục sử dụng hoặc hết hạn sử dụng hóa đơn.
b. Trình tự thực hiện như sau
Phải thành lập Hội đồng hủy hoá đơn. Hội đồng huỷ hoá đơn phải có đại diện lãnh đạo, đại diện bộ phận kế toán của tổ chức. Lưu ý: Hộ, cá nhân kinh doanh không phải thành lập Hội đồng hủy hoá đơn.
Các thành viên Hội đồng hủy hoá đơn phải ký vào Biên bản hủy hóa đơn và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu có sai sót.
Phải thông báo với cơ quan thuế thực hiện huỷ hoá đơn.
Phải lập Bảng kiểm kê hoá đơn cần hủy.
Thông báo kết quả hủy hoá đơn đến cơ quan thuế.
Lưu ý: Thông báo kết quả hủy hoá đơn được lập thành 02 bản, 01 bản lưu, 01 bản gửi đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất không quá 05 ngày kể từ ngày thực hiện huỷ hoá đơn.
c. Thời hạn huỷ hoá đơn
- Chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày thông báo với cơ quan thuế.
- Trường hợp cơ quan thuế thông báo hóa đơn hết giá trị sử dụng:
Phải huỷ hoá đơn chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày cơ quan thuế thông báo hoặc từ ngày tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân tìm lại được hoá đơn đã mất;
Trường hợp thông báo do thực hiện biện pháp cưỡng chế nợ thuế, phải hủy ngay.
1.3 Các trường hợp khác
Các loại hoá đơn chưa lập khác: được hủy theo quy định của pháp luật về kế toán.
Các loại hoá đơn chưa lập nhưng là vật chứng của các vụ án: không hủy mà được xử lý theo quy định của pháp luật.
1.4. Hóa đơn được xác định đã hủy
Hóa đơn in thử, in sai, in trùng, in thừa, in hỏng; các bản phim, bản kẽm và các công cụ có tính năng tương tự trong việc tạo hóa đơn đặt in được xác định đã hủy xong khi không còn nguyên dạng của bất kỳ một tờ hoá đơn nào hoặc không còn chữ trên tờ hoá đơn để có thể lắp ghép, sao chụp hoặc khôi phục lại theo nguyên bản.
Hoá đơn tự in được xác định đã hủy xong nếu phần mềm tạo hoá đơn được can thiệp để không thể tiếp tục tạo ra hoá đơn.
2. Trường hợp 2: Hủy các hóa đơn đã lập
2.1. Nếu hóa đơn chưa giao cho khách hàng
Hóa đơn sai có thể hủy về sau, khi có yêu cầu;
Trình tự hủy hóa đơn làm tương tự mục 1.2.
Trường hợp lập hóa đơn sai nhưng chưa giao cho người mua, kế toán gạch chéo các liên và lưu giữ số hóa đơn lập sai;
2.2. Nếu hóa đơn đã giao cho khách hàng
a. Các trường hợp được hủy hóa đơn khi đã giao cho khách hàng
Trường hợp cả người bán và người mua chưa kê khai thuế.
Trường hợp người bán giao hóa đơn nhưng chưa giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ;
b. Quy trình xử lý hóa đơn lập sai
Người bán và người mua lập biên bản thu hồi các liên của số hóa đơn đã lập sai. Biên bản thu hồi hóa đơn phải thể hiện được lý do thu hồi hóa đơn;
Người bán gạch chéo các liên, lưu giữ số hóa đơn lập sai và lập lại hóa đơn mới theo quy định;
Hóa đơn sai sẽ được hủy khi có quyết định;
Trình tự hủy hóa đơn giống như mục 1.2.
Lưu ý: Trường hợp hóa đơn lập đã gửi cho khách hàng, 1 trong hai bên hoặc cả 2 bên đã kê khai thuế thì không được hủy bỏ hóa đơn mà phải làm hóa đơn điều chỉnh gửi cho khách hàng.
3. Hồ sơ hủy hóa đơn
Quyết định thành lập Hội đồng hủy hoá đơn, trừ trường hợp hộ, cá nhân kinh doanh;
Bảng kiểm kê hoá đơn cần hủy;
Biên bản hủy hóa đơn;
Thông báo kết quả hủy hoá đơn (mẫu số 3.11)
Hồ sơ hủy hóa đơn được lưu tại tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh sử dụng hóa đơn.
4. Ví dụ hủy hóa đơn thực tế
Giữa tháng 6, Kế toán tại công ty Hoa Mai kiểm tra thấy hóa đơn tới tháng 7 là hết hạn sử dụng.
- Kế toán trình Giám đốc công ty sự việc.
- Ngày 20/06/2016, Công ty Hoa Mai gửi Biên bản thanh lý Hợp đồng đặt in hóa đơn cho công ty in Thành Long. Nhận phản hồi từ công ty in.
- Ngày 23/06, Kế toán tập hợp các hóa đơn cần hủy.
- Ngày 25/06, công ty tiêu hủy các hóa đơn được tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
- Ngày 30/06, phía Thành Long gửi kết quả hủy các bản in kẽm. Kế toán công ty Hoa Mai xác nhận.

- Hoàn thành công việc hủy hóa đơn hết hạn.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hướng dẫn cụ thể về bảo hiểm thất nghiệp năm 2016



Đối với người lao động, bảo hiểm thất nghiệp vừa giúp đỡ họ ổn định cuộc sống khi bị mất việc làm thông qua việc trả trợ cấp thất nghiệp, vừa tạo cơ hội để họ có thể tiếp tục tham gia thị trường lao động. Tạp chí Tài chính giới thiệu những quy định cụ thể về Bảo hiểm thất nghiệp.
Quy định về Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) năm 2016 mới nhất theo Luật việc làm số 38/2013/QH13 gồm: Đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp, mức đóng bảo hiểm thất nghiệp, chế độ hưởng trợ cấp thất nghiệp…

1. Về mức đóng BHTN
– Người lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng.
– Công ty đóng bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia BHTN.
– Mức tiền lương tháng thấp nhất để tính đóng BHTN là mức lương tối thiểu vùng và mức tối đa là 20 lần mức lương tối thiểu vùng. Xem mức lương tối thiểu vùng tại
2. Những đối tượng bắt buộc tham gia BHTN
– Người lao động phải tham gia BHTN khi làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc như sau:
+ Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn;
+ Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn;
+ Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.
– Trong trường hợp người lao động giao kết và đang thực hiện nhiều hợp đồng lao động quy định tại khoản này thì người lao động và người sử dụng lao động của hợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia BHTN.
– Người lao động trên đang hưởng lương hưu, giúp việc gia đình thì không phải tham gia BHTN.
3. Điều kiện hưởng
Người lao động đang đóng BHTN được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:
– Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:
+ Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;
+ Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;
– Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp: Hợp đồng lao động có xác định và không xác định thời hạn.
– Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp: Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.
– Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
– Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BHTN, trừ các trường hợp sau đây:
+ Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;
+ Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;
+ Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
+ Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;
+ Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;
+ Qua đời.
4. Về mức, thời gian, thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp
- Mức hưởng:
+ Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp.
+ Nhưng tối đa không quá 5 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định.
+ Hoặc không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng BHTN theo chế độ tiền lương do công ty quyết định
- Thời gian hưởng: Được tính theo số tháng đóng BHTN, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.
- Thời điểm hưởng: Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật Việc làm.

PV - Tạp Chí Tài Chính
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Thủ tục cấp mã số thuế và giảm trừ người phụ thuộc 2016



Trường hợp người phụ thuộc là con từ 18 tuổi trở lên đang đi học, không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng thì giảm trừ người phụ thuộc như thế nào?

1. Về cấp mã số thuế người phụ thuộc là con trên 15 tuổi
- Tại điểm g, khoản 1, Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân hướng dẫn:
“g) Hồ sơ chứng minh người phụ thuộc
g.1) Đối với con:
g.1.1) Con dưới 18 tuổi: Hồ sơ chứng minh là bản chụp Giấy khai sinh và bản chụp Chứng minh nhân dân (nếu có).
g.1.2) Con từ 18 tuổi trở lên bị khuyết tật, không có khả năng lao động, hồ sơ chứng minh gồm:
g.1.2.1) Bản chụp Giấy khai sinh và bản chụp Chứng minh nhân dân (nếu có).
g.1.2.2) Bản chụp Giấy xác nhận khuyết tật theo quy định của pháp luật về người khuyết tật.
....”
- Tại Điều 3, Điều 4 Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BCA của Bộ Công an hợp nhất Nghị định về chứng minh nhân dân quy định:
“Điều 3: Đối tượng được cấp Chứng minh nhân dân
1. Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên, đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam (sau đây gọi tắt là công dân) có nghĩa vụ đến cơ quan Công an nơi đăng ký hộ khẩu thường trú làm thủ tục cấp Chứng minh nhân dân theo quy định của Nghị định này.
2. Mỗi công dân chỉ được cấp một Chứng minh nhân dân và có một số chứng minh nhân dân riêng.
Điều 4. Các đối tượng sau đây tạm thời chưa được cấp Chứng minh nhân dân
1. Những người đang bị tạm giam, đang thi hành án phạt tù tại trại giam; đang chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc [5], cơ sở cai nghiện bắt buộc [6];
2. Những người đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng điều khiển hành vi của mình.
Các trường hợp nói ở khoản 1, khoản 2 điều này nếu khỏi bệnh, hết thời hạn tạm giam, thời hạn thi hành án phạt tù hoặc hết thời hạn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc [7], cơ sở cai nghiện bắt buộc [8] thì được cấp Chứng minh nhân dân.”
Căn cứ các quy định nêu trên thì công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên, đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam có nghĩa vụ đến cơ quan Công an nơi đăng ký hộ khẩu thường trú làm thủ tục cấp Chứng minh nhân dân (CMND) theo quy định.
Do đó, để đảm bảo tính duy nhất trong quản lý MST NPT, tránh kê khai trùng thì hồ sơ chứng minh người phụ thuộc đối với người phụ thuộc là con trên 15 tuổi bắt buộc phải có bản chụp CMND và khi cấp MST NPT tại ứng dụng quản lý thuế (TMS) đối với người phụ thuộc là con trên 15 tuổi bắt buộc phải nhập số CMND.
Trường hợp người phụ thuộc thuộc diện tạm thời chưa được cấp CMND theo quy định của cơ quan Công an, nên chưa được cấp MST NPT, Tổng cục Thuế sẽ nghiên cứu để có phương án cấp MST NPT đảm bảo yêu cầu quản lý.
Trong thời gian chưa được cấp MST NPT thì người nộp thuế vẫn được tạm tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc theo thực tế. Trường hợp những người phụ thuộc này khỏi bệnh, hết thời hạn tạm giam, thời hạn thi hành án,... Và được cơ quan Công an cấp CMND thì người nộp thuế phải thực hiện bổ sung thông tin đăng ký và hoàn thiện hồ sơ theo quy định để được cấp MST NPT.
2. Về việc giảm trừ người phụ thuộc là con đang học tại các trường đại học với trình độ sau đại học (thạc sỹ)
- Tại điểm d, khoản 1, Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn:
“d) Người phụ thuộc bao gồm:
d. 1.3) Con đang theo học tại Việt Nam hoặc nước ngoài tại bậc học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, kể cả con từ 18 tuổi trở lên đang học bậc học phổ thông (tính cả trong thời gian chờ kết quả thi đại học từ tháng 6 đến tháng 9 năm lớp 12) không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.”
Căn cứ hướng dẫn nêu trên, trường hợp người phụ thuộc là con đang theo học tại bậc học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, kể cả con từ 18 tuổi trở lên đang học bậc học phổ thông (tính cả trong thời gian chờ kết quả thi đại học từ tháng 6 đến tháng 9 năm lớp 12) không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng thì được tính là người phụ thuộc của người nộp thuế, trường hợp người phụ thuộc là con đang học trình độ thạc sỹ tại các trường đại học thì không thuộc diện được tính là người phụ thuộc của người nộp thuế.

Theo Tạp Chí Tài Chính Tổng Hợp
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Quy định về khoản chi mang tính phúc lợi và tài khoản sử dụng



Ông Nguyễn Bình (Hà Nội) hỏi, các khoản chi có tính chất phúc lợi quy định tại Điểm 2.30, Khoản 2, Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính là những khoản chi nào? Tiêu chí phân loại khoản chi phúc lợi với các khoản chi khác là gì? ​
Về vấn đề này, Cục Thuế Hà Nội có ý kiến như sau:
Căn cứ Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014, Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014, Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính quy định:

Quy định các khoản chi có tính chất phúc lợi
Tại Điều 4 sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 119/2014/TT-BTC và Điều 1 Thông tư số 151/2014/TT-BTC) như sau:
“Điều 6. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
c) Khoản chi nếu có hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng...
2. Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:...
2.30. Các khoản chi không tương ứng với doanh thu tính thuế, trừ các khoản chi sau:...
- Khoản chi có tính chất phúc lợi chi trực tiếp cho người lao động như: chi đám hiếu, hỷ của bản thân và gia đình người lao động; chi nghỉ mát, chi hỗ trợ điều trị; chi hỗ trợ bổ sung kiến thức học tập tại cơ sở đào tạo; chi hỗ trợ gia đình người lao động bị ảnh hưởng bởi thiên tai, địch họa, tai nạn, ốm đau; chi khen thưởng con của người lao động có thành tích tốt trong học tập; chi hỗ trợ chi phí đi lại ngày lễ, tết cho người lao động; chi bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tự nguyện khác cho người lao động (trừ khoản chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động hướng dẫn tại điểm 2.6, bảo hiểm hưu trí tự nguyện cho người lao động hướng dẫn tại điểm 2.11 Điều này) và những khoản chi có tính chất phúc lợi khác. Tổng số chi có tính chất phúc lợi nêu trên không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp...".
Về chế độ kế toán doanh nghiệp
Căn cứ Điều 63 Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp:
"Điều 63. Tài khoản 353 – Quỹ khen thưởng, phúc lợi
1. Nguyên tắc kế toán
a)... Quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi được trích từ lợi nhuận sau thuế TNDN của doanh nghiệp để dùng cho công tác khen thưởng, khuyến khích lợi ích vật chất, phục vụ nhu cầu phúc lợi công cộng, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động...".
Căn cứ các quy định nêu trên, các khoản chi có tính chất phúc lợi theo quy định tại Điểm 2.30, Khoản 2, Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC là các khoản chi trực tiếp cho người lao động ngoài các khoản chi lương thưởng đã thỏa thuận và phù hợp với quy định của pháp luật, nhằm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.
Khoản chi có tính chất phúc lợi để xác định chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp là các khoản chi đáp ứng quy định tại Khoản 1, Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC nêu trên và tổng số chi có tính chất phúc lợi không quá 1 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp.
Trường hợp còn vướng mắc, đề nghị ông liên hệ với cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được giải đáp cụ thể.

Chinhphu.vn
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Những phương pháp sử dụng chính sách kế toán để quản trị lợi nhuận



Việc kế toán sử dụng các kiến thức về các nguyên tắc, chuẩn mực, phương pháp kế toán, để điều chỉnh các con số được trình bày trên BCTC của một doanh nghiệp được gọi là "Kế toán sáng tạo". Tại Việt Nam, hành vi này thường được gọi là “ Quản trị lợi nhuận”. Khi nói đến hành vi này, mọi người thường nghĩ nó mang tính chất tiêu cực, nhưng điều này có thực sự đúng như vậy không?
Thực ra khái niệm này đã tồn tại từ rất lâu, và là đại dương vô tận cho những người hành nghề Kế toán, kiểm toán chuyên nghiệp muốn khám phá nó một cách thực sự.

Creative Accounting là việc vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo các kỹ thuật trong kế toán, hay còn gọi là các "thủ thuật", để "biến tấu" thông tin trên báo cáo tài chính nhằm tác động đến nhận thức của người đọc BCTC.
Theo Charles W.Mulford và Eugene E.Comiskey (2002) cho rằng, Kế toán sáng tạo là sự lựa chọn có chủ ý các quy định kế toán nhằm thao túng lợi nhuận, để hướng tới mục tiêu bởi các cấp quản lý hoặc để làm lợi nhuận trở nên đẹp hơn.
Có thể hình dung Kế toán sáng tạo(Creative Accounting) : bao gồm tất cả các thủ thuật từ Aggressive Accounting, Earning Mannagement, Income Smoothing:
Kế toán cứng (Aggressive Accounting) : Những sự lựa chọn có chủ ý các hoạt động kế toán dựa trên các nguyên lý kế toán nhằm mục đích đạt được kết quả mong muốn, dựa trên GAAP.
Quản lý lợi nhuận( Earning Management ) : Những thao túng lợi nhuận để hướng tới một mục tiêu đã được trước được thực hiện bởi các cấp quản lý và các nhà phân tích của công ty, hoặc để làm lợi nhuận trở nên đẹp hơn.
Làm mềm lợi nhuận( Income Smoothing): Một dạng của Earrning Management được tạo ra để tránh những lên xuống bất thường của thu nhập nói cách khác là làm đẹp thu nhập, hoặc làm giảm thu nhập những năm thu nhập cao nhằm dự trữ cho những năm thu nhập kém.
Gian lận báo cáo ( Fraudunt Reporting) : Cố ý sai sót trọng yếu hoặc thiếu sót trong các báo cáo tài chính nhằm đánh lừa người sử dụng báo cáo.
Như vậy, dù có tên gọi khác nhau là Kế toán sáng tạo hay Quản trị lợi nhuận, thì đó là việc làm thay đổi số liệu lợi nhuận, được thực hiện thông qua hành vi điều chỉnh doanh thu và chi phí bằng công cụ kế toán. Tùy thuộc vào từng quy định kế toán được ban hành, nó có thể ngăn chặn cũng như mở ra một cách mới để nhà quản trị đạt được mục tiêu lợi nhuận.
Nội dung và phương pháp thực hiện kế toán sáng tạo
Việc thực hiện kế toán sáng tạo đế điều chỉnh lợi nhuận của DN rất phong phú. Các phương pháp kế toán về doanh thu, vốn hóa, ghi nhận tài sản hay nợ phải trả có thể làm thay đổi những con số trên BCTC:
(1) Lựa chọn phương pháp kế toán ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí
Lựa chọn phương pháp kế toán có ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí (và kết quả là ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận lợi nhuận). Lựa chọn một (hoặc một số) phương pháp kế toán cho phép ghi nhận doanh thu sớm hơn và chuyển dịch ghi nhận chi phí về sau sẽ làm tăng lợi nhuận báo cáo trong kỳ và ngược lại. Trong chế độ kế toán DN, tồn tại một số phương pháp có thể được vận dụng để ghi nhận doanh thu, chi phí:
Phương pháp phần trăm hoàn thành để ghi nhận doanh thu và chi phí trong hoạt động cung cấp dịch vụ và hợp đồng xây dựng. Phương pháp này cho phép DN ghi nhận mức doanh thu lớn hơn hoặc nhỏ hơn thực tế theo tỷ lệ ước tính tiến độ thực hiện hợp đồng;
Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho (bình quân, nhập trước-xuất trước, đích danh) ảnh hưởng đế ghi nhận giá vốn hàng bán trong kỳ, và từ đó, ảnh hưởng đến lợi nhuận báo cáo trong kỳ;
Lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định. Mỗi một phương pháp khấu hao (đường thẳng, tỷ lệ sử dụng, số dư giảm dần có điều chỉnh) cho chi phí khấu hao khác nhau. Từ đó, ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ.
(2) Lựa chọn thời điểm mua hoặc bán tài sản
Lựa chọn thời điểm mua hay thanh lý, nhượng bán tài sản cố định cũng có ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán. Nhà quản trị DN có thể quyết định khi nào và mức độ các chi phí quảng cáo, chi phí sửa chữa, nâng cấp cải tạo tài sản cố định được chi ra. Nhà quản trị cũng có thể quyết định thời điểm thanh lý, nhượng bán tài sản cố định để đẩy nhanh hoặc làm chậm lại việc ghi nhận lợi nhuận hay thua lỗ hoạt động khác. Đẩy nhanh hay làm chậm lại việc gửi hàng cho khách hàng vào thời điểm gần cuối niên độ cũng có ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận báo cáo trong kỳ.
(3) Lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí và các ước tính kế toán
Chế độ kế toán cũng cho phép DN được phép vận dụng các phương pháp kế toán thông qua việc lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí. Nhà quản trị quyết định chuyển dịch về sau (hoặc ghi nhận sớm hơn) một số loại chi phí sẽ làm giảm (hoặc tăng) chi phí của niên độ hiện hành. Các loại chi phí có thể chuyển dịch thời điểm ghi nhận bao gồm: chi phí bảo hiểm hỏa hoạn, giá trị công cụ, dụng cụ phân bổ nhiều kỳ, chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định, chi phí quảng cáo, chi phí bảo hành sản phẩm. Những loại chi phí này có thể được ghi nhận vào niên độ phát sinh hoặc phân bổ cho một số kỳ (dựa vào nguyên tắc phù hợp).
Nhà quản trị DN có thể lựa chọn thời điểm và cách thức ghi nhận các sự kiện có liên quan đến chỉ tiêu lợi nhuận trong kỳ. Chẳng hạn, thời điểm và mức dự phòng cần lập của hàng tồn kho, của chứng khoán và phải thu khó đòi; thời điểm các khoản dự phòng này được hoàn nhập hay xóa sổ và mức hoàn nhập. DN cũng có thể ước tính (trích trước) một số chi phí như chi phí bảo hành sản phẩm, chi phí bảo hành công trình xây lắp, ước tính tỷ lệ hoàn thành hợp đồng xây lắp và cung cấp dịch vụ để ghi nhận doanh thu và chi phí, ước tính tỷ lệ lãi suất ngầm ẩn của hợp đồng thuê tài sản để vốn hóa tiền thuê trong một hợp đồng thuê tài chính. Ước tính thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ cũng có thể được thực hiện để điều chỉnh chi phí khấu hao (mặc dù phạm vi không lớn).
Kết luận
(1) Xét về góc độ tiêu cực: Khi sử dụng kế toán sáng tạo với mục đích không tích cực, nó có thể là công cụ cho những kẻ tham nhũng hoặc che dấu hoạt động kinh doanh đang giảm sút của công ty. Có thể kể đến một số hành vi như:
Tăng khả năng huy động vốn của DN, hoặc để thuyết phục nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào DN hay khi đi vay các tổ chức tín dụng, nhà quản lý đã tìm cách điều chỉnh lợi nhuận để huy động vốn với chi phí thấp hơn. Từ đó sẽ dẫn tới DN sẽ có các hành vi điều chỉnh lợi nhuận để tránh vi phạm các điều khoản
Tránh bị điều chỉnh từ các cơ quan nhà nước, như buộc giảm giá bán sản phẩm hay bị áp giá sàn trong một số thời điểm cụ thể; các công ty (Điện lực, Xăng dầu...) thường có xu hướng lựa chọn các phương pháp kế toán làm giảm lợi nhuận.
Đạt được các lợi ích cá nhân (như thưởng, tăng lương, vị trí đang có...) mà giám đốc có thể được hưởng nhiều quyền lợi hoặc sở hữu nhiều cổ phiếu, Giám đốc DN có thể điều chỉnh lợi nhuận tăng để đạt mục đích của mình.
Giảm các khoản thuế phải nộp nhà nước; DN sẽ báo các lợi nhuận kế toán ở mức thấp để giảm số thuế phải nộp
Từ đó việc thực hiện Kế toán sáng tạo có thể gây hại không nhỏ cho nhà nước, các nhà đầu tư và nền kinh tế đất nước.
(2) Xét về gọc độ tích cực: Bản thân việc thực hiện Kế toán sáng tạo không phải là hành vi tiêu cực. Nó chỉ mang ý nghĩa tiêu cực khi động cơ của việc thực hiện là nhằm tạo ra thông tin sai lệch để đánh lừa những người quan tâm đến BCTC của DN mà thôi. Nó giúp tác động tích cực đến việc kinh doanh của DN và chỉ đúng hướng đầu tư cho các nhà đầu tư trong tương lai. Tùy thuộc vào từng quy định kế toán được ban hành, nó có thể ngăn chặn cũng như mở ra một cách mới để nhà quản trị đạt được mục tiêu lợi nhuận.
Tóm lại, việc vận dụng kế toán sáng tạo trong bài viết là hợp pháp vì kỹ thuật điều chỉnh nằm trong Chế độ kế toán Việt Nam và các quy định hiện hành cho phép. Tuy nhiên trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập TPP và AEC, những đòi hỏi về tính minh bạch tài chính rất cao. Vì vậy chính phủ cần ban hành thêm một số quy định chặt chẽ hơn nữa về việc trình bày BCTC của các công ty, nhất là các công ty niêm yết, nhằm hạn chế thấp nhất mặt tiêu cực của kế toán sáng tạo
Tài liệu tham khảo
[1]. Nguyễn Công Phương (2007), Về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận, Tạp chí kế toán số tháng 12/2007
[2]. Nguyễn Công Phương (2009), Kế toán cơ sở dồn tích và quản trị lợi nhuận của DN, Tạp chí kế toán số tháng 4/2009
[3]. GPS.TS Trần Thị Cẩm Thanh (2016), Kế toán sáng tạo: Tích cực hay tiêu cực, Tạp chí kế toán kiểm toán 4/2016
[4]. ThS Phạm Nguyễn Đình Tuấn (2016), Kế toán sáng tạo – Vận dụng trong quản trị lợ nhuận của DN, Tạp chí kế toán kiểm toán 4/2016
Tác giả: ThS. Dương Thị Thanh Hiền - Bộ môn Kế toán quản trị – Trường ĐH Duy Tân


Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Kế toán quản trị hàng tồn kho trong các doanh nghiệp



Hàng tồn kho là bộ phận tài sản lưu động chiếm vị trí quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thông tin chính xác và kịp thời về hàng tồn kho giúp doanh nghiệp chỉ đạo kịp thời các nghiệp vụ kinh tế diễn ra hàng ngày, quản lý được các chi phí liên quan đến hàng tồn kho. Để đạt được điều đó, các nhà quản lý phải sử dụng đồng thời nhiều công cụ quản lý khác nhau, trong đó có kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị hàng tồn kho nói riêng. Bài viết sau đây sẽ phán ánh thực trạng về hàng tồn kho trong doanh nghiệp và đưa ra một số giải pháp về nội dung kế toán trị hàng tồn kho trong doanh nghiệp.

Thực trạng kế toán quản trị hàng tồn kho tại các doanh nghiệp
- Thứ nhất, thu thập thông tin về hàng tồn kho: Việc thu thập thông tin về hàng tồn kho tại các doanh nghiệp hiện nay vẫn còn chưa được chặt chẽ. Việc tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ sách, báo cáo kế toán phục vụ cho yêu cầu công tác quản trị hàng tồn kho còn hết sức đơn giản, chưa thực sự hỗ trợ cho công tác quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp.
- Thứ hai, xây dựng kế hoạch đặt hàng: Việc lập kế hoạch hàng tồn kho của các DN căn cứ vào lượng tồn kho thực tế tại các kho. Công tác kế hoạch đặt hàng thường được xác định theo nhu cầu số lượng nguyên vật liệu đưa vào sản xuất cho khoảng thời gian là 3 tháng. Thời điểm đặt mua hàng đều do Phòng Kinh doanh báo về Phòng kế toán tài chính khi thấy nguyên vật liệu dùng cho sản xuất sắp hết để được tạm ứng kinh phí mua nguyên vật liệu.
- Thứ ba, xây dựng dự toán hàng tồn kho: Việc lập dự toán hàng tồn kho được căn cứ vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp, qua nghiên cứu tình hình thị trường và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh để lập dự toán về các chỉ tiêu quản lý. Sau khi nghiên cứu tổng hợp, đóng góp ý kiến, sửa chữa, bổ sung hoàn chỉnh và được phê duyệt sẽ trở thành dự toán chính thức.
Hiện nay, công tác lập dự toán hàng tồn kho ở các doanh nghiệp sản xuất còn rất đơn giản, chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà quản lý.
Để lập dự toán hàng tồn kho cuối kỳ hợp lý các doanh nghiệp thường dựa trên phương pháp thống kê kinh nghiệm, đồng thời dựa vào các dự án, các hợp đồng đang thực hiện. Việc xác định số lượng hàng phải đặt mỗi lần, thời điểm đặt hàng và dự trữ mức an toàn đều chủ yếu dựa theo kinh nghiệm dày dạn của các nhà quản lý.
- Thứ tư, xây dựng kế hoạch dự trữ an toàn: Để đảm bảo tiến độ sản xuất và đủ nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất, các đội trưởng phân xưởng sản xuất căn cứ vào lượng nguyên vật liệu sản xuất dùng trong một ngày để xác định mức tồn kho nguyên vật liệu đủ đáp ứng sản xuất trong vòng khoảng 3 tuần, sau đó báo lên để kế hoạch mua nguyên vật liệu.
- Thứ năm, phân tích thông tin phục vụ việc ra quyết định quản lý hàng tồn kho
Mục tiêu ban đầu của lãnh đạo các DN sản xuất đặt ra đối với công tác phân tích tài chính nói chung và phân tích hàng tồn kho nói riêng là chỉ dừng lại ở việc đánh giá tổng kết tình hình trong năm thực hiện chứ chưa được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để quản lý hoạt động SX-KD. Việc phân tích tài chính chỉ được tiến hành chính thức một lần vào thời điểm cuối năm. Sau khi hoàn thành xong các báo cáo tài chính theo quy định của Bộ Tài chính và nộp cho các cơ quan quản lý Nhà nước, các số liệu kế toán tài chính được tập hợp, sắp xếp và phân loại. Trên cơ sở các thông tin đã xử lý, các DN phân tích tình hình cung cấp, dự trữ, sử dụng hàng tồn kho, từ đó đưa ra các quyết định phục vụ yêu cầu quản lý của DN.
Hiện nay, các DN chưa tổ chức được công tác kế toán quản trị và nếu có thì cũng rất đơn giản, tự phát. Một trong những nguyên nhân đó là các doanh nghiệp hiện nay chưa thực sự coi trọng việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin của kế toán quản trị. Cho đến nay, Nhà nước vẫn chưa có văn bản, thông tư nào hướng dẫn kế toán quản trị đối với các DN.
Giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán hàng tồn kho tại các DN sản xuất
- Thứ nhất, lập danh điểm hàng hóa, vật tư: Lập danh điểm hàng hóa , vật tư là quy định cho mỗi thứ hàng hóa, vật tư một ký hiệu riêng (mã số) bằng hệ thống các chữ số (có thể kết hợp với các chữ cái) để thay thế tên gọi, qui cách, kích cỡ của chúng. Danh điểm hàng hóa, vật tư phải được sử dụng thống nhất giữa các bộ phận quản lý liên quan trong doanh nghiệp, nhằm thống nhất trong quản lý đối với từng hàng hóa, vật tư.
- Thứ hai, hoàn thiện việc thu thập thông tin thực hiện yêu cầu quản trị
+ Về chứng từ kế toán: Vận dụng các nguyên tắc, phương pháp về lập, luân chuyển, quản lý và sử dụng chứng từ kế toán phù hợp với điều kiện cụ thể của từng DN. Cụ thể hóa và bổ sung các nội dung cần thiết vào từng mẫu chứng từ kế toán đã được quy định để phục vụ cho việc thu thập thông tin quản trị nội bộ DN...
+ Về tài khoản kế toán: DN căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán do Bộ Tài chính ban hành hoặc được Bộ Tài chính chấp thuận áp dụng cho DN để chi tiết hóa theo các cấp phù hợp với kế hoạch, dự toán đã lập và yêu cầu cung cấp thông tin kế toán quản trị cho các nhà quản lý DN. Tuy nhiên, việc chi tiết hóa các tài khoản phải đảm bảo không được làm sai lệch nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép trên tài khoản...
+ Về sổ kế toán: DN căn cứ vào hệ thống sổ kế toán do Bộ Tài chính ban hành. Việc bổ sung hoặc thiết kế các nội dung của sổ kế toán không được làm sai lệch nội dung các chỉ tiêu đã quy định trên sổ kế toán. Các DN có thể thiết kế các mẫu sổ phù hợp với yêu cầu quản lý theo các loại hàng tồn kho, theo từng bộ phận, từng công việc và các yêu cầu khác của kế toán quản trị.
- Thứ ba, về hoàn thiện việc lập kế hoạch mua hàng
Việc lập kế hoạch mua hàng được thực hiện hàng tháng tại các doanh nghiệp, được lập trên cơ sở các dự toán về nguyên vật liệu sử dụng trong kỳ. Như vậy, doanh nghiệp đảm bảo được nguồn nguyên vật liệu ổn định và hạn chế được việc tăng giá cả. Trên cơ sở nhận thức được việc lập kế hoạch mua hàng, kế toán quản trị xác định việc phải làm đó là ghi chép, tính toán, phản ánh toàn bộ các thông tin liên quan đến hoạt động về hàng mua để phục vụ việc quản trị sản xuất kinh doanh có hiệu quả...
Lượng hàng cần mua vào trong kỳ kế hoạch = Lượng hàng cần cho nhu cầu SX(bán ra) trong kỳ kế hoạch + Lượng hàng cần cho nhu cầu tồn kho cuối kỳ kế hoạch - Lượng hàng tồn kho đầu kỳ kế hoạch
- Thứ tư, hoàn thiện việc lập dự toán hàng tồn kho: Dự toán về hàng tồn kho là một trong những dự toán cơ bản, quan trọng trong hệ thống dự toán của doanh nghiệp, có liên quan mật thiết đến việc xác định các dự toán khác. Do vậy, dự toán về hàng tồn kho cần được xây dựng chính xác, tiên tiến, phù hợp với khả năng, điều kiện của doanh nghiệp. Dự toán hàng tồn kho có ý nghĩa rất lớn trong việc tổ chức, quản lý, sử dụng có hiệu quả vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp. Dự toán hàng tồn kho thường được lập hàng năm, phù hợp với năm tài chính, đảm bảo cho việc phân tích, đánh giá.
- Thứ năm, Về định mức hàng tồn kho: Việc xây dựng được định mức hàng tồn kho tối ưu có liên hệ với việc xác định được lượng hàng tối ưu và tiến độ nhập hàng phù hợp; Khi xác định lượng đặt hàng tối ưu còn phải tính đến yếu tố biến động của giá cả thị trường, rủi ro nguồn hàng và việc prhân tích lượng hàng dự trữ an toàn.
- Thứ sáu, Về quyết định tồn kho
Để đi đến quyết định hàng tồn kho DN cần phải tìm hiểu các chi phí gắn với hàng tồn kho, cụ thể:
- Chi phí mua hàng tồn kho bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình mua như chi phí đặt hàng, chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí giao nhận hàng...
- Chi phí bảo quản hàng tồn kho gồm chi phí tiền lương nhân viên bảo quản, tiền thuê kho bãi, bảo quản chống trộm và cháy, chi phí sổ sách, hao hụt định mức...
- Chi phí do thiếu hàng tồn kho làm cho quá trình SX-KD bị gián đoạn.
Khi quyết định tồn kho phải quan tâm đến hai vần đề sau: Phải xác định lượng hàng tồn kho ở mức nào cần phải mua thêm; và phải xác định lượng hàng mua trong một lần mua thêm.
Nếu mua đủ nhu cầu và đúng định mức cần mua thêm sẽ làm giảm tối đa chi phí hàng tồn kho. Trong trường hợp hàng đặt nhận được không chậm trễ hoặc quá trình sản xuất đúng như dự kiến lượng hàng sản xuất cho mỗi ngày thì không cần thiết phải có lượng hàng tồn kho an toàn.
- Thứ bảy, Về lập báo cáo kế toán quản trị
Báo cáo hàng tồn kho là một trong những báo cáo kế toán quản trị phản ánh một cách chi tiết tình hình hàng tồn kho của DN theo từng loại, từng thứ hàng phục vụ cho yêu cầu quản trị kinh doanh. Ban quản trị thường ưu tiên quan tâm đến các vấn đề như quyết định khi nào đặt mua hàng tồn kho (xác định thời gian) và mỗi lần mua thì phải mua bao nhiêu (lượng đặt mua kinh tế nhất). Việc xây dựng biểu mẫu báo cáo cần được đảm bảo các yếu tố cụ thể sau:
- Phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu chi tiết, cụ thể do yêu cầu quản trị kinh doanh đặt ra như các khoản mục chi tiết của giá thành hàng mua cho từng loại hàng tồn kho.
- Trong báo cáo phải ghi thông tin kế toán thực tế, đồng thời phải ghi cả số liệu kế hoạch hoặc dự toán làm căn cứ so sánh, đánh giá khi sử dụng thông tin trong báo cáo kế toán nhằm phục vụ cho yêu cầu sử dụng thông tin.
Tóm lại, kế toán quản trị hàng tồn kho là một công cụ hữu ích giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp quản lý tốt hàng tồn kho trong doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần quan tâm hơn nữa vì nó cung cấp thông tin một cách chi tiết và có kế hoạch để giúp doanh nghiệp thuận tiện hơn trong việc quản lý hàng tồn kho.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] PGS.TS. Phạm Văn Dược - Đặng Kim Cương, (2007), Kế toán quản trị, Nhà xuất bản thống kê.
[2] Bộ Tài Chính (2006), Thông tư số 53/2006/TT-BTC, Hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp, Hà Nội.
[3] PGS.TS. Phạm Văn Dược - TS. Huỳnh Lợi, (2009), Mô hình và cơ chế vận hành kế toán quản trị, Nhà xuất bản tài chính.

Tác giả: ThS.Nguyễn Thị Hồng Sương Khoa kế toán- Trường Đại Học Duy Tân
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


 

© 2012 Địa chi học kế toán thực hành uy tín All Rights Reserved Tìm việc kế toán