Quy định pháp lý về lãi suất cần lưu ý theo Luật dân sự 2015 từ ngày 1-1-2017



Quy định về lãi suất trong hợp đồng cho vay sẽ có nhiều thay đổi kể từ 1-1-2017 – khi Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 chính thức có hiệu lực.

Quy định cũ và mới
+ Hiện nay, BLDS năm 2005 quy định các bên trong hợp đồng cho vay có quyền thỏa thuận về lãi suất nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng; trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ (Điều 476).
=> Nhưng kể từ 1-1-2017 tới, BLDS năm 2015 quy định các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá 20%/năm thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. Trường hợp không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn 20%/năm (Điều 468 ).
+ Đối với nghĩa vụ trả nợ của bên vay, BLDS năm 2005 quy định: trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ. (khoản 4 Điều 474). Còn vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ (khoản 5 Điều 474).
=> Nhưng theo BLDS năm 2015 (khoản 4 và 5 Điều 466) thì: (i) Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất 10%/năm trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Còn trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: (i) lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất 10%/năm; (ii) lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
+ Về thực hiện nghĩa vụ trả nợ quá hạn BLDS 2005 quy định: (i) nếu khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, đối với trường hợp vay không có lãi (khoản 4 Điều 475); (ii) trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ (khoản 5 Điều 474).
=> Trong khi, BLDS 2015 (Điều 466) quy định: (i) nếu quá hạn vay, người vay phải chịu mức lãi suất 10%/năm (đối với trường hợp vay không có lãi suất); (ii) trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi suất bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng.
Quy định bên vay phải trả lãi suất quá hạn trong trường hợp vay có lãi là 150% so với lãi suất theo hợp đồng các bên đã thỏa thuận (ví dụ: lãi suất trong hạn các bên thỏa thuận với nhau 20%, nếu đến hạn bên vay không trả được sẽ phải chịu lãi suất 20% x 150% = 30%/năm) sẽ thúc đẩy được trách nhiệm trả nợ của bên vay, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người cho vay.
Có sự “xung đột”?
Quy định mới về lãi suất của BLDS 2015 (các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác) sẽ “xung đột” với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Bởi, khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.
Như vậy, các ngân hàng, tổ chức tín dụng sẽ chịu sự điều chỉnh của BLDS năm 2015 hay Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010?
Có thể thấy, hợp đồng vay tài sản nói chung, hợp đồng tín dụng nói riêng là một loại giao dịch dân sự. Do đó, việc điều chỉnh quan hệ này phải bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và các nguyên tắc về giới hạn thực hiện quyền dân sự được quy định trong BLDS.
Quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản là một trong những điển hình của việc cụ thể hóa nguyên tắc giới hạn thực hiện quyền dân sự, theo đó các bên trong hợp đồng vay có thỏa thuận về lãi suất nhưng không được vượt quá mức lãi suất giới hạn luật định. Việc quy định trần lãi suất giúp Nhà nước có thể điều tiết thị trường vay trong trường hợp cần có sự ổn định của kinh tế - xã hội, định hướng chuẩn mực ứng xử trong các quan hệ cho vay, thực hiện chính sách cấm hoặc hạn chế việc cho vay nặng lãi.
Nhưng để bảo đảm không biến lãi suất trần trở thành công cụ pháp lý để hành chính hóa quan hệ dân sự, bảo đảm tính linh hoạt phù hợp với các quan hệ vay tài sản đa dạng, có thể được sửa đổi, bổ sung kịp thời để đáp ứng yêu cầu của những biến động về kinh tế - xã hội.
Chính vì vậy, tại khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015 cũng đã quy định mang tính linh hoạt theo hai cơ chế, đó là: (i) Căn cứ vào tình hình thực tế, Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh lãi suất theo đề nghị của Chính phủ; (ii) Luật khác có liên quan quy định mức lãi suất riêng cho các quan hệ cho vay đặc thù.
Như vậy, trong trường hợp luật có liên quan quy định khác về lãi suất thì sẽ áp dụng lãi suất đó cho quan hệ vay thuộc phạm vi điều chỉnh của luật khác có liên quan. Quy định này còn được hiểu không chỉ dành riêng cho quan hệ tín dụng của các ngân hàng thương mại mà còn có thể áp dụng cho loại vay đặc thù vay khác như vay chính sách xã hội, vay đầu tư phát triển, vay vàng, ngoại tệ... nếu Nhà nước xét thấy cần điều chỉnh các quan hệ vay này bằng cơ chế lãi suất riêng.
Điều đó có nghĩa, nếu Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có cơ chế lãi suất trần riêng cho các hợp đồng tín dụng thì các tổ chức tín dụng sẽ áp dụng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
Tuy nhiên, theo tinh thần quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành, thực tiễn cho thấy chưa thực sự áp dụng một cơ chế lãi suất riêng cho các hợp đồng tín dụng, mặc dù xét về mục đích chính sách pháp luật thì quy định này là mong muốn của nhà làm luật. Nhưng xét về mặt kỹ thuật lập pháp quy định này đã và đang dẫn đến những cách hiểu khác nhau, kể cả trong công tác xét xử của Tòa án và điều đó không có lợi cho các chủ thể trong hợp đồng tín dụng trước những rủi ro pháp lý có thể xảy ra trong thi hành pháp luật.
Bởi khoản 2 Điều 91 cho phép tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất trong hợp đồng tín dụng trong giới hạn “theo quy định của pháp luật”. Đây là cách quy định theo quan điểm của nhiều chuyên gia là “lòng vòng”, vì “theo quy định của pháp luật” tức là vẫn có thể hiểu phải theo quy định của BLDS, trường hợp Ngân hàng Nhà nước ban hành thông tư, quyết định có quy định riêng về lãi suất khác với quy định của BLDS thì đâu là quy định ưu tiên áp dụng? Từ đó, rất nhiều tranh chấp liên quan đến vấn đề này, khi xét xử Tòa án đã căn cứ vào lãi suất quy định trong BLDS để giải quyết.
Quy định của luật cần hướng dẫn
Theo luật sự Phạm Thị Hồng Đào, Văn phòng luật sư Thạnh Hưng, Hiến pháp năm 2013 và BLDS năm 2015 về quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế bằng luật. Do vậy, cần sửa đổi khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 để có cách hiểu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật. Và, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể quy định: “Trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” của BLDS năm 2015.
Theo Thesaigontimes.vn

Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hướng dẫn cách xử lý tờ khai khi Không phát sinh thuế TNCN



* Theo điều 16 Thông tư 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 quy định:
– "Điều 16. Khai thuế, nộp thuế thu nhập cá nhân
1. Khai thuế, nộp thuế đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân

a) Nguyên tắc khai thuế
a.1) Tổ chức, cá nhân trả thu nhập có phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân khai thuế theo tháng hoặc quý. Trường hợp trong tháng hoặc quý, tổ chức, cá nhân trả thu nhập không phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân thì không phải khai thuế.
a.2) Việc khai thuế theo tháng hoặc quý được xác định một lần kể từ tháng đầu tiên có phát sinh khấu trừ thuế và áp dụng cho cả năm. Cụ thể như sau:
– Tổ chức, cá nhân trả thu nhập phát sinh số thuế khấu trừ trong tháng của ít nhất một loại tờ khai thuế thu nhập cá nhân từ 50 triệu đồng trở lên khai thuế theo tháng, trừ trường hợp tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện khai thuế giá trị gia tăng theo quý.
– Tổ chức, cá nhân trả thu nhập không thuộc diện khai thuế theo tháng theo hướng dẫn nêu trên thì thực hiện khai thuế theo quý.
+Ví dụ 30: Năm 2014 Công ty A được xác định thuộc diện khai thuế GTGT theo quý thì năm 2014 Công ty A thuộc diện khai thuế TNCN theo quý, không phân biệt trong năm 2014 Công ty A thực tế có phát sinh khấu trừ thuế TNCN trên 50 triệu đồng hay dưới 50 triệu đồng.

+Ví dụ 31: Năm 2014 Công ty A được xác định thuộc diện khai thuế GTGT theo tháng; tháng 1, tháng 2 không phát sinh khấu trừ thuế TNCN của bất kỳ tờ khai nào; tháng 3 phát sinh khấu trừ thuế TNCN tại Tờ khai số 02/KK-TNCN nhỏ hơn 50 triệu đồng và Tờ khai 03/KK-TNCN là 50 triệu đồng (hoặc lớn hơn 50 triệu đồng); Các tháng 4 đến tháng 12 phát sinh khấu trừ thuế TNCN tại các Tờ khai 02/KK-TNCN và 03/KK-TNCN nhỏ hơn 50 triệu đồng. Như vậy trong năm 2014, Công ty A không phải nộp tờ khai của các tháng 1 và tháng 2, từ tháng 3 Công ty A được xác định thuộc diện khai thuế TNCN theo tháng.
+Ví dụ 32: Năm 2014 Công ty A được xác định thuộc diện khai thuế GTGT theo tháng; tháng 1, tháng 2 không phát sinh khấu trừ thuế TNCN của bất kỳ tờ khai nào; tháng 3 phát sinh khấu trừ thuế TNCN tại Tờ khai số 02/KK-TNCN nhỏ hơn 50 triệu đồng và Tờ khai 03/KK-TNCN nhỏ hơn 50 triệu đồng; các tháng 4 đến tháng 12 phát sinh khấu trừ thuế TNCN tại các Tờ khai 02/KK-TNCN và 03/KK-TNCN đều từ 50 triệu đồng trở lên. Như vậy trong năm 2014, Công ty A không phải nộp tờ khai của các tháng 1 và tháng 2, từ tháng 3 Công ty A được xác định thuộc diện khai thuế TNCN theo quý và thực hiện khai thuế từ quý I/2014."
*NHƯ VẬY:
– Nếu DN bạn kê khai thuế GTGT theo quý thì kê khai thuế TNCN theo quý.
– Nếu DN bạn kê khai thuế GTGT theo tháng thì:
+ Nếu trong tháng phát sinh số thuế TNCN (đã khấu trừ hoặc phải nộp) = hoặc > 50.000.000 thì kê khai theo tháng.
+ Nếu trong tháng phát sinh số thuế TNCN < 50.000.000 thì kê khai theo quý.

-> DN chỉ cần xác định 1 lần kể từ tháng đầu tiên có phát sinh khấu trừ thuế và áp dụng cho cả năm.
=> Không phát sinh khấu trừ thuế TNCN thì không phải kê khai hàng tháng hoặc quý.
2. Không phát sinh thuế TNCN có phải nộp quyết toán cuối năm không?
– Theo Khoản 1 Điều 21 Thông tư 92/2015/TT-BTC ngày 15/06/2015 (Sửa đổi, bổ sung thông tư 156/2013/TT-BTC)
“a.3) Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân và quyết toán thuế thu nhập cá nhân thay cho các cá nhân có uỷ quyền không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế. Trường hợp tổ chức, cá nhân không phát sinh trả thu nhập thì không phải khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân.”
Thông tư 92/2015/TT-BTCtại Điều 21, Khoản 1 Sửa đổi, bổ sung tiết a.3 điểm a khoản 1 Điều 16Thông tư 156/2013/TT-BTCnhư sau:
“a.3) Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân và quyết toán thuế thu nhập cá nhân thay cho các cá nhân có uỷ quyền không phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế. Trường hợp tổ chức, cá nhân không phát sinh trả thu nhập thì không phải khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân.”
Như vậy :
– Có tên trên bảng lương phát sinh thu nhập là phải quyết toán TNCN dù phát sinh tiền thuế TNCN hay là không phát sinh thuế TNCN
– Không có tên trên bảng lương không phát sinh trả thu nhập thì không phải khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân
– Dù có phát sinh hay không phát sinh khấu trừ thuế TNCN thì cuối năm DN vẫn phải khai quyết toán thuế TNCN
3. Mức phạt chậm nộp tờ khai thuế TNCN
– Theo điều 9 Thông tư 166/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013
Điều 9. Xử phạt đối với hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế so với thời hạn quy định
1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ 01 ngày đến 05 ngày mà có tình tiết giảm nhẹ.
2. Phạt tiền 700.000 đồng, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 400.000 đồng hoặc có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa không quá 1.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế quá thời hạn quy định từ 01 ngày đến 10 ngày (trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này).
3. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu không dưới 800.000 đồng hoặc có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa không quá 2.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế quá thời hạn quy định từ trên 10 ngày đến 20 ngày.
4. Phạt tiền 2.100.000 đồng, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 1.200.000 đồng hoặc có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa không quá 3.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế quá thời hạn quy định từ trên 20 ngày đến 30 ngày.
5. Phạt tiền 2.800.000 đồng, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 1.600.000 đồng hoặc có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa không quá 4.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế quá thời hạn quy định từ trên 30 ngày đến 40 ngày.
6. Phạt tiền 3.500.000 đồng, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 2.000.000 đồng hoặc có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa không quá 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ trên 40 ngày đến 90 ngày.
b) Nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định trên 90 ngày nhưng không phát sinh số thuế phải nộp hoặc trường hợp quy định tại Khoản 9 Điều 13 Thông tư này.
c) Không nộp hồ sơ khai thuế nhưng không phát sinh số thuế phải nộp (trừ trường hợp pháp luật có quy định không phải nộp hồ sơ khai thuế).
d) Nộp hồ sơ khai thuế tạm tính theo quý quá thời hạn quy định trên 90 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế nhưng chưa đến thời hạn nộp hồ sơ khai quyết toán thuế năm.

Nguồn: Tổng hợp
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Cấp mới, gia hạn thẻ BHYT trước ngày 31/12/2016



BHXH Việt Nam vừa ban hành Công văn 5243/BHXH-ST hướng dẫn cấp mới, gia hạn thẻ BHYT năm 2017. Theo đó:

- BHXH các cấp thống nhất danh sách đề nghị cấp thẻ BHYT năm 2017, tập trung mọi nguồn lực để cấp mới, gia hạn thẻ BHYT và chuyển trả thẻ trước ngày 31/12/2016.
Với những đối tượng quy định tại Quyết định 50/2016/QĐ-TTg thì cơ quan có thẩm quyền chuyển trước danh sách tham gia BHYT cho cơ quan BHXH và thực hiện in thẻ BHYT ngay khi được Thủ tướng phê duyệt.
- Đến ngày 31/12/2016, cơ quan quản lý chưa hoàn thiện danh sách cấp thẻ BHYT thì quyền lợi khám chữa bệnh BHYT vẫn được đảm bảo kể từ ngày 01/01/2017 hoặc kể từ ngày Quyết định phê duyệt danh sách có hiệu lực nếu thuộc các trường hợp sau:
+ Hộ gia đình nghèo.
+ Riêng đối tượng cận nghèo được NSNN hỗ trợ một phần mức đóng thì quyền lợi khám chữa bệnh được xác định kể từ ngày nộp tiền.
+ Người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; xã đảo, huyện đảo.
+ Người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Công văn 5243/BHXH-ST được ban hành ngày 27/12/2016.

Nguồn: Thư viện pháp luật
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hai trường hợp được phép hủy hóa đơn và quy trình xử lý



Bài viết hướng dẫn quy định về hai trường hợp được phép hủy hóa đơn, hồ sơ và cách xử lý trong thực tế của kế toán

1. Trường hợp 1: Hủy các hóa đơn đã lập
1.1. Nếu hóa đơn chưa giao cho khách hàng
Hóa đơn sai có thể hủy về sau, khi có yêu cầu;
Trình tự hủy hóa đơn làm tương tự mục 1.2.
Trường hợp lập hóa đơn sai nhưng chưa giao cho người mua, kế toán gạch chéo các liên và lưu giữ số hóa đơn lập sai;
1.2. Nếu hóa đơn đã giao cho khách hàng
a. Các trường hợp được hủy hóa đơn khi đã giao cho khách hàng
Trường hợp cả người bán và người mua chưa kê khai thuế.
Trường hợp người bán giao hóa đơn nhưng chưa giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ;
b. Quy trình xử lý hóa đơn lập sai
Người bán và người mua lập biên bản thu hồi các liên của số hóa đơn đã lập sai. Biên bản thu hồi hóa đơn phải thể hiện được lý do thu hồi hóa đơn;
Người bán gạch chéo các liên, lưu giữ số hóa đơn lập sai và lập lại hóa đơn mới theo quy định;
Hóa đơn sai sẽ được hủy khi có quyết định;
Trình tự hủy hóa đơn giống như mục 1.2.
Lưu ý: Trường hợp hóa đơn lập đã gửi cho khách hàng, 1 trong hai bên hoặc cả 2 bên đã kê khai thuế thì không được hủy bỏ hóa đơn mà phải làm hóa đơn điều chỉnh gửi cho khách hàng.
2. Hồ sơ hủy hóa đơn
Quyết định thành lập Hội đồng hủy hoá đơn, trừ trường hợp hộ, cá nhân kinh doanh;
Bảng kiểm kê hoá đơn cần hủy;
Biên bản hủy hóa đơn;
Thông báo kết quả hủy hoá đơn (mẫu số 3.11)
Hồ sơ hủy hóa đơn được lưu tại tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh sử dụng hóa đơn.
3. Ví dụ hủy hóa đơn thực tế
Giữa tháng 6, Kế toán tại công ty Hoa Mai kiểm tra thấy hóa đơn tới tháng 7 là hết hạn sử dụng.
- Kế toán trình Giám đốc công ty sự việc.
- Ngày 20/06/2016, Công ty Hoa Mai gửi Biên bản thanh lý Hợp đồng đặt in hóa đơn cho công ty in Thành Long. Nhận phản hồi từ công ty in.
- Ngày 23/06, Kế toán tập hợp các hóa đơn cần hủy.
- Ngày 25/06, công ty tiêu hủy các hóa đơn được tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
- Ngày 30/06, phía Thành Long gửi kết quả hủy các bản in kẽm. Kế toán công ty Hoa Mai xác nhận.
- Hoàn thành công việc hủy hóa đơn hết hạn.
4. Trường hợp 2: Hóa đơn đã in nhưng chưa đưa vào sử dụng
4.1. Nếu cơ sở in (Công ty in hoặc cơ quan Thuế) hủy hóa đơn: Tức là khi vừa in xong, cơ sở in hoặc doanh nghiệp nhận thấy đã in sai, in trùng hoặc in thừa hóa đơn. Khi đó, cơ sở in và doanh nghiệp phải tiến hành hủy số hóa đơn sai trên.
Trình tự thực hiện như sau:
a. Đối với Công ty In
Nguyên tắc: hoá đơn đặt in bị in sai, in trùng, in thừa buộc phải hủy trước khi thanh lý Hợp đồng đặt in hoá đơn.
Đối chiếu việc tiêu hủy các bản kẽm và các bản hóa đơn khác đang trong quá trình in (nếu có) với bên đặt in.
Làm Biên bản thanh lý Hợp đồng đặt in hóa đơn;
Tiêu hủy toàn bộ hóa đơn bị in sai, in trùng, in thừa;
b. Đối với Cơ quan Thuế
Tổng cục Thuế có trách nhiệm quy định quy trình huỷ hoá đơn do Cục Thuế đặt in.
Cơ quan thuế thực hiện hủy hoá đơn do Cục Thuế đặt in đã thông báo phát hành chưa bán hoặc chưa cấp nhưng không tiếp tục sử dụng.
4.2 Nếu tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân hủy hóa đơn
a. Do thay đổi mẫu hóa đơn, hoá đơn cũ không tiếp tục sử dụng hoặc hết hạn sử dụng hóa đơn.
b. Trình tự thực hiện như sau
Phải thành lập Hội đồng hủy hoá đơn. Hội đồng huỷ hoá đơn phải có đại diện lãnh đạo, đại diện bộ phận kế toán của tổ chức. Lưu ý: Hộ, cá nhân kinh doanh không phải thành lập Hội đồng hủy hoá đơn.
Các thành viên Hội đồng hủy hoá đơn phải ký vào Biên bản hủy hóa đơn và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu có sai sót.
Phải thông báo với cơ quan thuế thực hiện huỷ hoá đơn.
Phải lập Bảng kiểm kê hoá đơn cần hủy.
Thông báo kết quả hủy hoá đơn đến cơ quan thuế.
Lưu ý: Thông báo kết quả hủy hoá đơn được lập thành 02 bản, 01 bản lưu, 01 bản gửi đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất không quá 05 ngày kể từ ngày thực hiện huỷ hoá đơn.
c. Thời hạn huỷ hoá đơn
- Chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày thông báo với cơ quan thuế.
- Trường hợp cơ quan thuế thông báo hóa đơn hết giá trị sử dụng:
Phải huỷ hoá đơn chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày cơ quan thuế thông báo hoặc từ ngày tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân tìm lại được hoá đơn đã mất;
Trường hợp thông báo do thực hiện biện pháp cưỡng chế nợ thuế, phải hủy ngay.
4.3 Các trường hợp khác
Các loại hoá đơn chưa lập khác: được hủy theo quy định của pháp luật về kế toán.
Các loại hoá đơn chưa lập nhưng là vật chứng của các vụ án: không hủy mà được xử lý theo quy định của pháp luật.
4.4. Hóa đơn được xác định đã hủy
Hóa đơn in thử, in sai, in trùng, in thừa, in hỏng; các bản phim, bản kẽm và các công cụ có tính năng tương tự trong việc tạo hóa đơn đặt in được xác định đã hủy xong khi không còn nguyên dạng của bất kỳ một tờ hoá đơn nào hoặc không còn chữ trên tờ hoá đơn để có thể lắp ghép, sao chụp hoặc khôi phục lại theo nguyên bản.
Hoá đơn tự in được xác định đã hủy xong nếu phần mềm tạo hoá đơn được can thiệp để không thể tiếp tục tạo ra hoá đơn.


Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


12 điểm mới trong Luật kế toán số 88/2015/QH13 có hiệu lực từ 01-01-2017



Bắt đầu từ ngày 01-01-2017, Luật kế toán số 88/2015/QH13 được ban hành ngày 20-11-2015 thay thế luật Kế toán số 03/2003/QH11 chính thức có hiệu lực. Luật kế toán mới sửa đổi một số điều với mục tiêu tăng cường hiệu quả quản lý, giám sát chặt chẽ và liên hệ mật thiết từ người dân đến các doanh nghiệp và nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng kế toán dựa trên nguyên tắc công khai, minh bạch trong toàn xã hội. Luật kế toán số 88/2015/QH13 gồm 6 chương với 74 điều. Sau đây là một số điểm mới của Luật kế toán 2015.

1. Bổ sung nguyên tắc “Giá trị hợp lý”
Tại khoản 1, Điều 6 của Luật kế toán 2015 nêu rõ: “Giá trị tài sản và nợ phải trả được ghi nhận ban đầu theo giá trị gốc. Sau đó, đối với một số loại tài sản hoặc nợ phải trả mà giá trị biến động thường xuyên theo giá thị trường và giá trị của chúng có thể xác định lại một cách đáng tin cậy thì được ghi nhận theo giá trị hợp lý tại thời điểm cuối kỳ lập báo cáo tài chính”. Việc bổ sung nguyên tắc “giá trị hợp lý” giúp cho công tác xác định giá trị tài sản, nợ phải trả tại thời điểm lập báo cáo tài chính đảm bảo tính chính xác hơn hiện nay vẫn còn quy định tính giá gốc theo Luật kế toán 2003. Cũng tại luật này giao cho Bộ Tài Chính quy định cụ thể các loại tài sản và nợ phải trả được ghi nhận và đánh giá lại theo “giá trị hợp lý”, phương pháp kế toán ghi nhận vá đánh giá lại theo “giá trị hợp lý”.
2. Bổ sung chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán
Những quy định, hướng dẫn về nguyên tắc, nội dung áp dụng các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp đối với người làm kế toán, kế toán viên hành nghề, doanh nghiệp và hộ kinh doanh dịch vụ kế toán được quy định tại Điều 7 của Luật. Với các quy định mới về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán góp phần đảm bảo tính tuân thủ khi hành nghề kế toán của người làm kế toán, kinh doanh dịch vụ kế toán. Luật cũng giao Bộ Tài Chính quy định chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán trên cơ sở chuẩn mực quốc tế phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
3. Quy định chữ viết và chữ số sử dụng trong kế toán
Chữ viết sử dụng trong kế toán là tiếng Việt. Trường hợp phải sử dụng tiếng nước ngoài trên chứng từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo tài chính tại Việt Nam thì phải sử dụng đồng thời tiếng Việt và tiếng nước ngoài.
Chữ số sử dụng trong kế toán là chữ số Ả-rập, sau chữ số hàng nghìn, hàng triệu, hàng tỷ phải đặt dấu chấm (.), khi còn ghi chữ số sau chữ số hàng đơn vị thì sau chữ số hàng đơn vị phải đặt dấu phẩy (,).

Đối với doanh nghiệp, chi nhánh của doanh nghiệp nước ngoài hoặc của tổ chức nước ngoài phải chuyển báo cáo tài chính về công ty mẹ, tổ chức ở nước ngoài hoặc sử dụng chung phần mềm quản lý, thanh toán giao dịch với công ty mẹ, tổ chức ở nước ngoài được sử dụng dấu phẩy (,) sau chữ số hàng nghìn, hàng triệu, hàng tỷ; khi còn ghi chữ số sau chữ số hàng đơn vị thì sau chữ số hàng đơn vị được đặt dấu chấm (.) và phải chú thích trong tài liệu, sổ kế toán, báo cáo tài chính. Trong trường hợp này, báo cáo tài chính nộp cơ quan thuế, cơ quan thống kê và cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác phải sử dụng dấu chấm (.) sau chữ số hàng nghìn, hàng triệu, hàng tỷ và dấu phẩy (,) sau chữ số hàng đơn vị.
4. Đơn vị tiền tệ được rút gọn và làm tròn số khi lập hoặc công khái báo cáo tài chính
Nghị định số 129/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế toán năm 2003 quy định chỉ các báo cáo tài chính tổng hợp, báo cáo tài chính hợp nhất hoặc báo cáo tài chính dùng để công khai có số liệu báo cáo trên 9 chữ số thì được lựa chọn sử dụng đơn vị tiền tệ rút gọn là nghìn Đồng hoặc triệu Đồng.
Điều 10 Luật kế toán năm 2015 cho phép đơn vị kế toán được làm tròn số, sử dụng đơn vị tính rút gọn khi lập hoặc công khai báo cáo tài chính. Tuy nhiên, Luật kế toán 2015 không nói rõ liệu tất cả các loại báo cáo tài chính được phép sử dụng đơn vị tiền tệ rút gọn hay chỉ một số loại báo cáo tài chính như quy định tại Nghị định 129/2004/NĐ-CP mới được phép.
5. Quy đinh về chứng từ điện tử
Theo điều 16, chứng từ điện tử được coi là chứng từ kế toán khi được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử, được mã hóa mà không bị thay đổi trong quá trình truyền qua mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên vật mang tin như băng từ, đĩa từ, các loại thẻ thanh toán. Trường hợp khi chứng từ bằng giấy được chuyển thành chứng từ điện tử để giao dịch, thanh toán hoặc ngược lại thì chứng từ điện tử có giá trị để thực hiện nghiệp vụ kinh tế, tài chính đó, chứng từ bằng giấy chỉ có giá trị lưu giữ để ghi sổ, theo dõi và kiểm tra, không có hiệu lực để giao dịch, thanh toán. Chứng từ điện tử được quản lý như tài liệu kế toán ở dạng nguyên bản mà nó được tạo ra, gửi đi hoặc nhận nhưng phải có đủ thiết bị phù hợp để sử dụng.
6. Nghiêm cấm một số hành vi trong kế toán
Tại điều 13 của Luật kế toán 2015 bổ sung một số hành vi bị nghiêm cấm trong công tác kế toán, nhằm bao quát được các hành vi sai phạm, gian lận trong kế toán góp phần tạo cơ sở cho việc xử lý vi phạm, nâng cao tính chặt chẽ khi thi hành luật. Cụ thể, Luật quy định 15 hành vi bị cấm như sau:
Giả mạo, khai man hoặc thỏa thuận, ép buộc người khác giả mạo, khai man, tẩy xóa chứng từ kế toán hoặc tài liệu kế toán khác.
Cố ý, thỏa thuận hoặc ép buộc người khác cung cấp, xác nhận thông tin, số liệu kế toán sai sự thật.
Để ngoài sổ kế toán tài sản, nợ phải trả của đơn vị kế toán hoặc có liên quan đến đơn vị kế toán.
Hủy bỏ hoặc cố ý làm hư hỏng tài liệu kế toán trước khi kết thúc thời hạn lưu trữ.
Ban hành, công bố chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán không đúng thẩm quyền.
Mua chuộc, đe dọa, trù dập, ép buộc người làm kế toán thực hiện công việc kế toán không đúng với quy định.
Người có trách nhiệm quản lý, điều hành đơn vị kế toán kiêm làm kế toán, thủ kho, thủ quỹ, trừ doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn do một cá nhân làm chủ sở hữu.
Bố trí hoặc thuê người làm kế toán, người làm kế toán trưởng không đủ tiêu chuẩn, điều kiện quy định.
Thuê, mượn, cho thuê, cho mượn chứng chỉ kế toán viên, Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán dưới mọi hình thức.
Lập hai hệ thống sổ kế toán tài chính trở lên hoặc cung cấp, công bố các báo cáo tài chính có số liệu không đồng nhất trong cùng một kỳ kế toán.
Kinh doanh dịch vụ kế toán khi chưa được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc hành nghề dịch vụ kế toán khi không bảo đảm điều kiện quy định của Luật này.
Sử dụng cụm từ “dịch vụ kế toán” trong tên gọi của doanh nghiệp nếu đã quá 06 tháng kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mà vẫn không được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc doanh nghiệp đã chấm dứt kinh doanh dịch vụ kế toán.
Thuê cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện hành nghề, điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán cung cấp dịch vụ kế toán cho đơn vị mình.
Kế toán viên hành nghề và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán thông đồng, móc nối với khách hàng để cung cấp, xác nhận thông tin, số liệu kế toán sai sự thật.
Các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong hoạt động kế toán.
7. Những người không được làm kế toán
Điều 52 của bộ Luật này quy định, những người không được làm kế toán gồm: cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi, anh, chị, em ruột của người đại diện theo pháp luật, của người đứng đầu, của giám đốc, tổng giám đốc và của cấp phó của người đứng đầu, phó giám đốc, phó tổng giám đốc phụ trách công tác tài chính - kế toán, kế toán trưởng trong cùng một đơn vị kế toán, trừ doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn do một cá nhân làm chủ sở hữu và các trường hợp khác do Chính phủ quy định.
Người quản lý, điều hành, thủ kho, thủ quỹ, người mua, bán tài sản trong cùng một đơn vị kế toán cũng không được làm kế toán, song vẫn trừ trong doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn do một cá nhân làm chủ sở hữu.
8. Báo cáo tài chính nhà nước
Luật năm 2015 bổ sung quy định mới về báo cáo tài chính nhà nước (Điều 30). Báo cáo này cung cấp thông tin về tình hình thu, chi ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước, nợ công, vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tài sản, nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn của Nhà nước. Báo cáo tài chính nhà nước bao gồm: Báo cáo tình hình tài chính; báo cáo kết quả hoạt động; báo cáo lưu chuyển tiền tệ; thuyết minh báo cáo tài chính. Ngoài ra, Luật còn quy định trách nhiệm lập báo cáo tài chính nhà nước của Bộ Tài chính và các cơ quan có liên quan.
9. Quy định kiểm tra kế toán
Luật bổ sung quy định về cơ quan có thẩm quyền quyết định kiểm tra kế toán bao gồm:
Bộ Tài chính, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan khác ở Trung ương quyết định kiểm tra kế toán các đơn vị kế toán trong lĩnh vực được phân công phụ trách
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định kiểm tra kế toán các đơn vị kế toán ở địa phương do mình quản lý
Đơn vị cấp trên quyết định kiểm tra kế toán đối với đơn vị trực thuộc (Điều 34).
Ngoài các cơ quan nêu trên, cơ quan thanh tra nhà nước, thanh tra chuyên ngành về tài chính, Kiểm toán nhà nước, cơ quan thuế khi thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, kiểm toán các đơn vị kế toán cũng có quyền kiểm tra kế toán.
10. Kinh doanh dịch vụ kế toán
Luật Kế toán 2015 bổ sung quy định “kế toán viên hành nghề” (Điều 3). Theo đó, người có chứng chỉ kế toán viên hoặc chứng chỉ kiểm toán viên:
Có năng lực hành vi dân sự.
Có thời gian công tác thực tế về tài chính, kế toán, kiểm toán từ 36 tháng trở lên kể từ thời điểm tốt nghiệp đại học.
Tham gia đầy đủ chương trình cập nhật kiến thức sẽ được đăng ký hành nghề và được công nhận là kế toán viên hành nghề (Điều 58-).
Về điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán, Luật quy định đối với doanh nghiệp:
Có ít nhất hai người là kế toán viên hành nghề (Điều 60).
Đối với cá nhân phải thành lập hộ kinh doanh và cá nhân đó phải là kế toán viên hành nghề (Điều 65).
11. Bổ sung trách nhiệm người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán và kế toán trưởng
Ngoài trách nhiệm của người đại diện pháp luật của đơn vị kế toán đã được quy định trong Luật Kế toán năm 2003, Luật Kế toán năm 2015 đã bổ sung thêm các quy định:
Chịu trách nhiệm liên đới đối với các sai phạm do người khác gây ra nhưng thuộc trách nhiệm của mình
Tổ chức kiểm tra kế toán nội bộ đơn vị và kiểm tra kế toán các đơn vị cấp dưới
Luật bổ sung trách nhiệm của kế toán trưởng phải lập báo cáo tài chính tuân thủ chế độ kế toán và chuẩn mực kế toán (Điều 55).
12. Tổ chức nghề nghiệp kế toán

Để tăng cường vai trò của tổ chức nghề nghiệp về kế toán, Luật bổ sung thêm 01 điều (Điều 70) quy định về vấn đề này. Theo đó tổ chức nghề nghiệp kế toán được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho người làm kế toán, kế toán viên hành nghề và thực hiện một số nhiệm vụ liên quan đến hoạt động kế toán do Chính phủ quy định.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Giải pháp đẩy mạnh hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam



Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt góp phần đưa thị trường thanh toán tại Việt Nam phát triển theo hướng đổi mới, hiện đại, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội và phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế. Thời gian qua, Chính phủ và ngành Ngân hàng đã và đang nỗ lực hoàn thiện khung khổ pháp luật hỗ trợ hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt phát triển. Đến nay, phương thức thanh toán này đang được nghiên cứu đưa vào áp dụng đồng bộ trên nền tảng công nghệ hiện đại với nhiều tính năng ưu việt trong toàn hệ thống ngân hàng.

Hoàn thiện khung khổ pháp lý cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt
Cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, hoạt động thanh toán tại Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Hành lang pháp lý về hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt cũng dần được kiện toàn, cơ sở hạ tầng đã được hệ thống ngân hàng chú trọng và đầu tư đổi mới, hiện đại hóa.
Nhiều phương thức thanh toán không dùng tiền mặt trên nền tảng công nghệ hiện đại cũng đã được nghiên cứu, đưa vào triển khai, áp dụng phù hợp với xu thế thanh toán quốc tế. Cụ thể như: Năm 2010, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) đã được ban hành, trong đó đã bổ sung một số quy định trong lĩnh vực thanh toán.
Tiếp đó, một số văn bản Luật như: Luật Giao dịch điện tử, Luật Phòng, chống rửa tiền, Luật Các công cụ chuyển nhượng… cũng được ban hành, góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động của hệ thống thanh toán.
Thực hiện các chủ trương, chính sách trên, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo điều kiện pháp lý cho hệ thống ngân hàng phát triển dịch vụ thanh toán mới cũng như tạo sự yên tâm cho người sử dụng dịch vụ, đó là:
Nghị định số 35/2007/NĐ-CP quy định về giao dịch điện tử hoạt động ngân hàng; Nghị định 101/2012/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt; Nghị định 222/2013/NĐ-CP về thanh toán bằng tiền mặt; Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước và một số văn bản khác liên quan trong lĩnh vực tài chính và thương mại.
Với nền tảng, cơ sở chính sách trên, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã triển khai nhiều bước đi cụ thể và từng bước tạo lập được một hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thanh toán tiên tiến, tạo sự chuyển biến tích cực đối với việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực công, doanh nghiệp...
Khảo sát cho thấy, hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng kết nối với 66 đơn vị thuộc NHNN và gần 800 đơn vị thành viên trực tiếp thuộc 97 TCTD trên toàn quốc, đáp ứng nhu cầu thanh, quyết toán tức thời với số lượng giao dịch thanh toán ngày càng tăng của nền kinh tế.
Hầu hết các NHTM đã thiết lập được hệ thống ngân hàng lõi (core banking), phát triển hệ thống thanh toán nội bộ với kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, cho phép cung ứng các dịch vụ, phương tiện thanh toán hiện đại, mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng.
Việc phát triển dịch vụ giao dịch, chuyển khoản để hạn chế thanh toán bằng tiền mặt cũng được các NHTM quan tâm phát triển thông qua việc phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước triển khai dịch vụ thu ngân sách. Điển hình như: Ký thỏa thuận hợp tác với Tổng cục Hải quan, Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Thuế triển khai thu hộ ngân sách nhà nước, bảo lãnh thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu bằng phương thức điện tử...
Ngoài ra, để gia tăng tiện ích và đáp ứng tối đa nhu cầu giao dịch của khách hàng, các ngân hàng triển khai thêm tính năng chuyển khoản theo lô và chuyển khoản định kỳ đối với dịch vụ ngân hàng điện tử. Cụ thể, với tính năng chuyển khoản theo lô, khách hàng có thể tiết kiệm tối đa thời gian khi thực hiện lệnh chuyển khoản lên đến 50 người thụ hưởng cùng một lúc, tại bất kỳ ngân hàng nào chỉ bằng một lần nhấp chuột, thay vì phải thực hiện từng lệnh chuyển tiền.
Đối với tính năng chuyển khoản định kỳ của dịch vụ ngân hàng điện tử, ngân hàng giúp khách hàng dễ dàng thực hiện các giao dịch thanh toán một cách nhanh chóng, theo kế hoạch chi tiêu mà không cần đến giao dịch trực tiếp tại ngân hàng hoặc các đơn vị cung cấp dịch vụ.
Như vậy, thay vì phải thực hiện các giao dịch giống nhau hàng ngày, hàng tuần hay hàng tháng, khách hàng có thể đặt lệnh chuyển khoản định kỳ theo lịch trình đặt trước. Đến ngày thanh toán theo lịch đã hẹn, các giao dịch sẽ được thực hiện đúng với số tiền và thông tin chi tiết mà khách hàng đã đặt trong lệnh chuyển khoản...
Giải pháp đẩy nhanh hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt
Với những tính năng và tiện ích mà dịch vụ đem lại, thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành một xu thế tất yếu của thời đại công nghệ số. Dự kiến, trong thời gian tới, theo đà phát triển của xã hội và theo nhu cầu của thị trường, thanh toán không dùng tiền mặt sẽ giữ một vị trí cực kỳ quan trọng trong việc lưu chuyển tiền tệ và trong thanh toán giá trị của nền kinh tế Việt Nam.
Tuy nhiên, theo phân tích của chuyên gia, hệ thống thanh toán Việt Nam còn khoảng cách so với một số nước trong khu vực và thế giới; thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế vẫn còn lớn, nhất là trong khu vực dân cư; tỷ lệ tiền mặt/tổng phương tiện thanh toán, tỷ lệ tiền mặt/GDP của Việt Nam vẫn còn khá cao so với các nước. Bởi vậy, chúng ta cần nhận diện các nguyên nhân cơ bản làm hạn chế hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt đối với nền kinh tế Việt Nam.
Một là, thói quen sử dụng tiền mặt và nhận thức của người dân: Tiền mặt là một công cụ được ưa chuộng trong thanh toán và từ lâu đã trở thành thói quen khó thay đổi của người tiêu dùng và nhiều doanh nghiệp. Điều này cũng dễ hiểu bởi nền kinh tế nước ta vẫn còn kém phát triển, người dân chưa có cơ hội tiếp cận với các phương tiện thanh toán hiện đại.
Hai là, hành lang pháp lý trong lĩnh vực thanh toán chưa hoàn thiện: Mặc dù, trong thời gian vừa qua hành lang pháp lý trong lĩnh vực thanh toán đã cải thiện nhiều, song vẫn được đánh giá là chưa đầy đủ và đồng bộ, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến thanh toán điện tử và thương mại điện tử...
Ba là, tội phạm trong lĩnh vực thanh toán gia tăng: Gian lận phát sinh chủ yếu liên quan đến gian lận tài khoản thẻ và thẻ giả, tiếp sau là các loại hình khác như thẻ mất cắp, thất lạc… Gần đây, ở nước ta xuất hiện tình trạng đáng lo ngại khi các nhóm tội phạm nước ngoài sử dụng công nghệ cao để ăn cắp từ các tài khoản cá nhân…
Bốn là, kinh tế không chính thức: Việt Nam vẫn là quốc gia có nền kinh tế phi chính thức phát triển với đặc điểm sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo quy mô nhỏ, lẻ.
Nhằm khắc phục những rào cản trên, ngày 1/7/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định 80/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt với nhiều nội dung mới. Tuy nhiên, để đẩy nhanh hơn nữa hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, thời gian tới, Việt Nam cần thiết triển khai một số nội dung sau:
Thứ nhất, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung khuôn khổ pháp lý và cơ chế chính sách liên quan đến thanh toán không dùng tiền mặt để đáp ứng yêu cầu thực tế, nhất là cho các dịch vụ, phương tiện thanh toán điện tử như tiền điện tử, thẻ ảo…
Thứ hai, tiếp tục phát triển, kết hợp sắp xếp, hợp lý hóa mạng lưới ATM và POS; phát triển mạnh dịch vụ thanh toán thẻ thông qua thiết bị kết nối với điện thoại di động; xây dựng và ban hành tiêu chuẩn chung đối với thẻ chip nội địa, tạo tiêu chuẩn chung cho thị trường thẻ Việt Nam nhằm thống nhất việc quản lý, định hướng kỹ thuật đối với hoạt động phát hành thẻ ngân hàng tại Việt Nam; nghiên cứu và xây dựng hệ thống thanh toán bù trừ điện tử tự động phục vụ giao dịch bán lẻ phù hợp với xu hướng quốc tế.
Thứ ba, cần có kế hoạch nâng cấp hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng theo hướng: Điều chỉnh mô hình xử lý bù trừ, chuyển sang mô hình xử lý tập trung tại Trung tâm Xử lý Quốc gia; nâng cao năng lực, hiệu suất xử lý của hệ thống tại Trung tâm Xử lý Quốc gia; Tiến tới bổ sung thêm chức năng thanh quyết toán ngoại tệ, xây dựng cấu phần hệ thống thanh toán ngoại tệ liên ngân hàng; mở rộng kết nối hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng với các hệ thống thanh toán khác; nghiên cứu, áp dụng chuẩn tin điện tử tài chính quốc tế ISO 20022…
Tài liệu tham khảo:
1. Nghị định 80/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt ban hành ngày 1/7/2016;
2. Chuyên đề Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ (Đề tài Nghiên cứu tại Sở giao dịch I - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam);

3. Đề tài Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp. TS. Nguyễn Thanh Mai –Học viện Ngân hàng.

THS. NGUYỄN MINH THỦY

Bài đăng trên tạp chí Tài chính kỳ II tháng 11/2016​
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Cách hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương mới nhất



Trong doanh nghiệp kế toán tiền lương chiếm một vị trí khá quan trọng, công việc của kế toán tiền lương thường tập trung chính ở 2 giai đoạn: Cuối tháng: Tính tiền lương và Đầu tháng: Thanh toán tiền lương ( tùy theo quy định chi trả của doanh nghiệp ). Đi kèm với tiền lương là tiền thưởng, bảo hiểm xã hội và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập của người lao động và Tài khoản sử dụng là 344 ( phải trả người lao động )

Cách hạch toán định khoản kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương có các trường hợp chính như sau:
1. Tính tiền lương phải trả trong tháng cho người lao động (TK 334)
Tổng số tiền lương bao gồm bảo hiểm, thuế phải trả cho người lao động
Nợ TK 154 (QĐ 48)
Nợ TK 622 (QĐ 15)
Nợ TK 642 6421 (NV bán hàng)
6422 (NV QLDN)
Có TK 334
2. Trích bảo hiểm các loại theo quy định (tính vào chi phí) 24% lương đóng bảo hiểm (BHXH 18%, BHYT 3%, BHTN 1%, KPCĐ 2%)
Nợ TK 6422
Có TK 3382 (BHCĐ 2%)
Có TK 3383 (BHXH 18%)
Có TK 3384 (BHYT 3%)
Có TK 3389 (BHTN 1%) ( Nếu có - dành cho DN có từ 10 LĐ trở lên)
3. Trích bảo hiểm các loại theo quy định và tiền lương của người lao động
Nợ TK 334 (10,5%)
Có TK 3383 (BHXH 8%)
Có TK 3384 (BHYT 1,5%)
Có TK 3389 (BHTN 1%) ( Nếu có - dành cho DN có từ 10 LĐ trở lên)
4. Nộp các khoản bảo hiểm theo quy định
Nợ TK 3382 (BHCĐ 2%)
Nợ TK 3383 (BHXH 26%)
Nợ TK 3384 (BHYT 4,5%)
Nợ TK 3389 (BHTN 2%)
Có TK 112 (34,5%)
5. Tính thuế thu nhập cá nhân (nếu có)
Nợ TK 334 Thuế TNCN
Có TK 3335
6. Thanh toán tiền lương cho công nhân viên
Số tiền lương phải trả cho người lao động sau khi đã trừ thuế, bảo hiểm và các khoản khác
Nợ TK 334
Có TK 111, 112
7. Tổng tiền thuế đã khấu trừ của người lao động trong tháng hoặc quý
Nộp thuế Thu nhập cá nhân (Hồ sơ khai thuế 02/KK-TNCN, giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước)
Nợ TK 3335
Có TK 111, 112
8. Nộp BH lên cơ quan bảo hiểm
Nợ TK 3383, 3384, 3389
Có TK 111, 112
9. Tính tiền lương nghỉ phép thực tế phải trả cho công nhân viên:
Nợ các TK 623, 627, 641, 642
Nợ TK 335 - Chi phí phải trả (Doanh nghiệp có trích trước tiền lương nghỉ phép)
Có TK 334 - Phải trả người lao động
10. Trường hợp trả lương hoặc thưởng cho công nhân viên và người lao động khác của doanh nghiệp bằng sản phẩm, hàng hoá:
- Đối với sản phẩm, hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, kế toán phản ánh doanh thu bán hàng nội bộ theo giá bán chưa có thuế GTGT, ghi:
Nợ TK 334 - Phải trả người lao động
Có TK 3331 - Thuế GTGT phải nộp
Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ (Giá bán chưa có thuế GTGT).
- Đối với sản phẩm, hàng hoá không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hoặc thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp, kế toán phản ánh doanh thu bán hàng nội bộ theo giá thanh toán, ghi:
Nợ TK 334 - Phải trả người lao động
Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ (Giá thanh toán).
11. Xác định và thanh toán tiền ăn ca phải trả cho công nhân viên và người lao động khác của doanh nghiêp:
- Khi xác định được số tiền ăn ca phải trả cho công nhân viên và người lao động khác của doanh nghiêp, ghi:
Nợ các TK 622, 623, 627, 641, 642
Có TK 334 - Phải trả người lao động
- Khi chi tiền ăn ca cho công nhân viên và người lao động khác của doanh nghiêp, ghi:
Nợ TK 334 - Phải trả người lao động
Có các TK 111, 112,. . .
12. Tính tiền thưởng phải trả cho công nhân viên:
- Khi xác định số tiền thưởng trả công nhân viên từ quỹ khen thưởng, ghi:
Nợ TK 431 - Quỹ khen thưởng, phúc lợi
Có TK 334 - Phải trả người lao động
- Khi xuất quỹ chi trả tiền thưởng, ghi:
Nợ TK 334 - Phải trả người lao động

Có các TK 111, 112,. . .
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


 

© 2012 Địa chi học kế toán thực hành uy tín All Rights Reserved Tìm việc kế toán