Quy định về giảm trừ gia cảnh với cho người phụ thuộc



Hỏi:
Kính gửi Bộ Tài chính, Theo thông tư 111/2013/TT-BTC có quy định người phụ thuộc có thể là các cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế đang phải trực tiếp nuôi dưỡng và đáp ứng một số điều kiện như không có thu nhập, thu nhập dưới 1 triệu/tháng, ngoài độ tuổi lao động, khuyết tật,...

Hiện tại, hàng tháng tôi vẫn gửi một khoản tiền cho cậu họ (bị khuyết tật), bà họ (ngoài độ tuổi lao động, lương dưới 1 triệu/tháng) và 2 cháu ruột. Về trường hợp của hai cháu ruột, công ty tôi có trả lời là bố mẹ cháu còn sống nên không được tính là không nơi nương tựa. Hoặc trường hợp bà họ và cậu họ, hai người vẫn có người thân ruột thịt nên cũng không được tính là người phụ thuộc của tôi.
Trong thực tế không ít trường hợp con không nuôi được cha mẹ già, bố mẹ làm ăn quanh năm không đủ nuôi con phải cần đến sự giúp đỡ của người khác. Tôi đã làm hồ sơ có đầy đủ giấy tờ có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người phụ thuộc đang cư trú về việc người phụ thuộc hiện đang cư trú tại địa phương và không có ai nuôi dưỡng.
Kính mong Bộ Tài chính có hướng dẫn tôi các trường hợp nêu trên có được đăng ký người phụ thuộc không ạ. Vì thực chất hàng tháng tôi đều có trợ cấp và có sự xác nhận của UBND cấp xã. Cảm ơn Bộ Tài chính.
Trả lời:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân hướng dẫn giảm trừ gia cảnh như sau:
“…d.4) Các cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế đang phải trực tiếp nuôi dưỡng và đáp ứng điều kiện tại điểm đ, khoản 1, Điều này bao gồm:
d.4.1) Anh ruột, chị ruột, em ruột của người nộp thuế.
d.4.2) Ông nội, bà nội; ông ngoại, bà ngoại; cô ruột, dì ruột, cậu ruột, chú ruột, bác ruột của người nộp thuế.
d.4.3) Cháu ruột của người nộp thuế bao gồm: con của anh ruột, chị ruột, em ruột.
d.4.4) Người phải trực tiếp nuôi dưỡng khác theo quy định của pháp luật.
đ) Cá nhân được tính là người phụ thuộc theo hướng dẫn tại các tiết d.2, d.3, d.4, điểm d, khoản 1, Điều này phải đáp ứng các điều kiện sau:
đ.1) Đối với người trong độ tuổi lao động phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
đ.1.1) Bị khuyết tật, không có khả năng lao động.
đ.1.2) Không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.

đ.2) Đối với người ngoài độ tuổi lao động phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng….
g.4) Đối với các cá nhân khác theo hướng dẫn tại tiết d.4, điểm d, khoản 1, Điều này hồ sơ chứng minh gồm:
g.4.1) Bản chụp Chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh.
g.4.2) Các giấy tờ hợp pháp để xác định trách nhiệm nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người phụ thuộc trong độ tuổi lao động thì ngoài các giấy tờ nêu trên, hồ sơ chứng minh cần có thêm giấy tờ chứng minh không có khả năng lao động như bản chụp Giấy xác nhận khuyết tật theo quy định của pháp luật về người khuyết tật đối với người khuyết tật không có khả năng lao động, bản chụp hồ sơ bệnh án đối với người mắc bệnh không có khả năng lao động (như bệnh AIDS, ung thư, suy thận mãn,..).
Các giấy tờ hợp pháp tại tiết g.4.2, điểm g, khoản 1, Điều này là bất kỳ giấy tờ pháp lý nào xác định được mối quan hệ của người nộp thuế với người phụ thuộc như:
- Bản chụp giấy tờ xác định nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật (nếu có).
- Bản chụp sổ hộ khẩu (nếu có cùng sổ hộ khẩu).
- Bản chụp đăng ký tạm trú của người phụ thuộc (nếu không cùng sổ hộ khẩu).
- Bản tự khai của người nộp thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người nộp thuế cư trú về việc người phụ thuộc đang sống cùng.
- Bản tự khai của người nộp thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người phụ thuộc đang cư trú về việc người phụ thuộc hiện đang cư trú tại địa phương và không có ai nuôi dưỡng (trường hợp không sống cùng).”
Căn cứ quy định trên, trường hợp Độc giả đăng ký giảm trừ gia cảnh cho cậu họ, bà họ, cháu ruột là cá nhân không nơi nương tựa, không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng không vượt quá một triệu đồng và không sống cùng Độc giả mà Độc giả đang trực tiếp nuôi dưỡng thì hồ sơ chứng minh là bản chụp CMND hoặc giấy khai sinh, các giấy tờ hợp pháp để xác định trách nhiệm nuôi dưỡng theo đúng quy định của pháp luật (nếu có), bản chụp đăng ký tạm trú của người phụ thuộc và bản tự khai của Độc giả theo mẫu 09/XN-NPT-TNCN (ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/06/2015) có xác nhận của UBND cấp xã nơi người phụ thuộc đang cư trú tại địa phương và không có ai nuôi dưỡng.
Độc giả phải tự xác định cá nhân không nơi nương tựa theo đúng quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm về hồ sơ chứng minh người phụ thuộc theo quy định của luật thuế TNCN.


Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Tăng cường chấn chỉnh công tác bán, cấp hóa đơn lẻ tại các chi cục thuế



Tổng cục Thuế mới đây có Công văn số 80/TCT-KTNB yêu cầu cơ quan thuế các cấp tăng cường chấn chỉnh công tác bán, cấp hóa đơn lẻ tại các Chi cục Thuế.

Theo Tổng cục Thuế, thời gian qua công tác bán, cấp hóa đơn lẻ đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Tuy nhiên, thời gian gần đây, tại một số Chi cục Thuế xảy ra tình trạng các tổ chức, hộ, cá nhân lợi dụng việc bán, cấp hóa đơn lẻ để hợp thức hóa chứng từ mua vào, bán ra gây thất thu ngân sách Nhà nước (NSNN).
Tổng cục Thuế yêu cầu cần phải tăng cường kiểm tra, kiểm soát việc bán, cấp hóa đơn lẻ đối với các hộ, cá nhân, tổ chức không hoạt động kinh doanh, hoặc không sử dụng hóa đơn quyển; loại hình kinh doanh có rủi ro cao.
Do đó, để tăng cường, chấn chỉnh tình trạng này, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế yêu cầu Cục trưởng các Cục Thuế và Chi cục trưởng Chi cục Thuế ngoài việc tổ chức tập huấn, cần triển khai đầy đủ và kịp thời các giải pháp về nhận dạng, rà soát, kiểm tra các hộ, cá nhân, tổ chức có rủi ro cao về bán, cấp hóa đơn lẻ.
Đồng thời, để việc bán, cấp hóa đơn lẻ được khách quan và giám sát chặt chẽ, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế yêu cầu không để một công chức thực hiện toàn bộ quá trình.
Đối với các Chi cục Thuế thực hiện bán, cấp tập trung phải phân ra các bộ phận tiếp nhận hồ sơ, ấn chỉ và phải thực hiện trình tự các bước. Riêng các Chi cục Thuế có địa bàn rộng, đi lại khó khăn, nếu thực hiện giao bán hóa đơn lẻ cho các đội thuế liên xã, phường, thị trấn phải đảm bảo tối thiểu 3 công chức thực hiện và phải có chữ ký duyệt của lãnh đạo Chi cục, đội và từng bộ phận.
Việc bán, cấp hóa đơn lẻ phải thực hiện theo nguyên tắc công chức hướng dẫn các tổ chức, hộ, cá nhân viết đầy đủ chỉ tiêu vào hóa đơn trước khi giao. Liên 01, 02 giao cho đối tượng đề nghị, còn liên 03 lưu. Người đề nghị phải có mặt tại cơ quan thuế và ký vào hóa đơn.
Bên cạnh đó, Tổng cục Thuế cũng yêu cầu cần phải tăng cường kiểm tra, kiểm soát việc bán, cấp hóa đơn lẻ đối với các hộ, cá nhân, tổ chức không hoạt động kinh doanh, hoặc không sử dụng hóa đơn quyển; loại hình kinh doanh có rủi ro cao. Những hộ, cá nhân mua hóa đơn lẻ trong tháng từ 5 số trở lên thì vận động chuyển sang mua quyển.
Cơ quan thuế cần thực hiện rà soát, đối chiếu, kiểm tra đảm bảo những doanh nghiệp, hợp tác xã không còn hoạt động, đã thực hiện thủ tục giải thể, phá sản, đã quyết toán thuế và đóng mã số thuế, việc mua hóa đơn lẻ chỉ để thanh lý tài sản.
Để phục vụ cho việc cảnh báo, khai thác, hàng ngày dữ liệu bán, cấp phải được cập nhật. Cụ thể, ngày 25, bộ phận ấn chỉ thực hiện cảnh báo và yêu cầu kiểm tra, rà soát đến các đội thuế; và ngày 30, Chi cục Thuế phải báo cáo về Cục Thuế và Tổng cục Thuế để có cảnh báo toàn ngành.

Nguồn: Báo dân trí​
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Nội dung đáng chú ý trong khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế giai đoạn 2016-2018?



Ngày 26/12/2016, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế ban hành Quyết định số 2541/QĐ-TCT về Kế hoạch cải cách quản lý thuế trung hạn (giai đoạn 2016-2018 ). Kế hoạch này của Tổng cục Thuế có những nội dung đáng chú ý trong cải cách đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế và chế độ kế toán thuế giai đoạn 2016-2018.

Cải cách và hiện đại hóa công tác quản lý đăng ký thuế giai đoạn 2016-2018 tập trung vào 7 hoạt động lớn, gồm:
1/ Rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách về đăng ký thuế;
2/ Hoàn thiện cơ sở dữ liệu định danh người nộp thuế đầy đủ, chính xác và cập nhật kịp thời;
3/ Áp dụng quản lý rủi ro trong công tác quản lý đăng ký thuế;
4/ Triển khai thực hiện đăng ký thuế điện tử;
5/ Hệ thống cấp mã số tự động;
6/ Thực hiện Đề án thống nhất mã số thuế cho tổ chức và mã số công dân cho cá nhân;
7/ Tái thiết kế quy trình nghiệp vụ.
Cải cách và hiện đại hóa công tác khai thuế tập trung vào 4 hoạt động lớn:
1/ Hoàn thiện cơ chế, chính sách về khai thuế;
2/ Áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý, kiểm tra khai thuế;
3/ Triển khai các dịch vụ thuế điện tử;
4/ Tái thiết kế quy trình nghiệp vụ.
Cải cách và hiện đại hóa công tác nộp thuế tập trung vào 3 hoạt động:
+ Hoàn thiện cơ chế, chính sách về nộp thuế;
+ Triển khai các dịch vụ thuế điện tử;
+ Tái thiết kế quy trình nghiệp vụ.
Cải cách và hiện đại hóa công tác hoàn thuế gồm 5 hoạt động lớn:
+ Hoàn thiện cơ chế, chính sách;
+ Thực hiện dự báo và giám sát hoàn thuế;
+ Triển khai các dịch vụ hoàn thuế điện tử;
+ Áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý hoàn thuế;
+ Tái thiết kế quy trình nghiệp vụ. Đối với cải cách và hiện đại hóa chế độ kế toán thuế nội địa tập trung vào việc áp dụng thống nhất chế độ kế toán trong toàn ngành Thuế.
Bên cạnh đó, Kế hoạch cải cách quản lý thuế trung hạn giai đoạn 2016-2018 cũng xác định những hoạt động cải cách đối với công tác phát triển hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu cải cách quản lý thuế, gồm:
(1) Phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ người dân và doanh nghiệp, triển khai mở rộng ứng dụng dịch vụ thuế điện tử hỗ trợ người nộp thuế.
(2) Phát triển các ứng dụng CNTT phục vụ hoạt động nghiệp vụ của cơ quan thuế, gồm: Ứng dụng CNTT đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ và chính sách mới; Kho dữ liệu và danh mục dùng chung; Các ứng dụng được nâng cấp đáp ứng cơ chế phối hợp trao đổi thông tin với các đơn vị, tổ chức bên ngoài.
(3) Phát triển các ứng dụng CNTT phục vụ hoạt động nội bộ của cơ quan thuế, triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nội bộ ngành thuế.
(4) Phát triển hạ tầng kỹ thuật; Nâng cấp hệ thống máy chủ, máy trạm; Nâng cấp trục tích hợp và hệ thống trao đổi thông tin; Theo dõi, giám sát và vận hành cơ sở hạ tầng và các hệ thống ứng dụng, dịch vụ CNTT.
(5) Triển khai các giải pháp an toàn thông tin.
(6) Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin, xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đối với từng vị trí cán bộ công nghệ thông tin…
Quyết định số 2541/QĐ-TCT ngày 26/12/2016 về Kế hoạch cải cách quản lý thuế trung hạn (giai đoạn 2016-2018 ) của Tổng cục Thuế có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Theo Tạp chí tài chính.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Sửa luật thuế, doanh nghiệp vốn mỏng sẽ gặp khó?



Chi phí lãi tiền vay không được tính vào chi phí hợp lý đối với khoản vay vượt quá nhiều lần vốn chủ sở hữu, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật thuế được trình ra Quốc hội xem xét cho biết.

Theo đại diện Vụ Chính sách thuế (Bộ Tài chính), quy định trên nhằm sửa đổi những bất cập trong Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành và được thể hiện trong Khoản 3 Điều 1 dự thảo.
Bất cập được chỉ ra là không có quy định khống chế khoản chi phí lãi tiền vay được tính vào chi phí đối với trường hợp khoản vay vượt quá nhiều lần vốn chủ sở hữu dẫn tới tình trạng doanh nghiệp hoạt động chủ yếu dựa vào vốn đi vay, tỷ lệ vốn vay/vốn chủ sở hữu rất cao.
Theo Bộ Tài chính, nhiều doanh nghiệp có khoản vay vốn sản xuất kinh doanh vượt gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu dẫn đến nguy cơ mất an toàn tài chính của doanh nghiệp và cũng là một trong những yếu tố làm ảnh hưởng thu ngân sách nhà nước.
"Việc bổ sung quy định về vốn mỏng là cần thiết nhằm phản ánh đúng chi phí lãi vay phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh góp phần đảm bảo an toàn tài chính cho doanh nghiệp, khuyến khích tích tụ, đầu tư trực tiếp phù hợp điều kiện Việt Nam và tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế", đại diện Bộ Tài chính nêu rõ.
Bộ Tài chính cũng khẳng định, từ năm 2016 cần quy định tỷ lệ khống chế chi phí trả lãi tiền vay vốn tương ứng với khoản vay vượt quá 5 lần vốn chủ sở hữu tức là 5/1 đối với sản xuất và 4/1 đối với các lĩnh vực còn lại.

Đồng thời, từ ngày 1/1/2019 tỷ lệ khống chế chi phí lãi tiền vay vốn tương ứng với khoản vay vượt quá vốn chủ sở hữu là 4/1 đối với lĩnh vực sản xuất và 3/1 đối với lĩnh vực còn lại.
Nêu quan điểm về vấn đề này, bà Đặng Thị Bình An, Chủ tịch HĐTV Công ty tư vấn thuế C&A cho rằng, không nên phân chia theo ngành kinh doanh mà nên để một hệ số thống nhất cho tất cả các ngành.
Theo bà An, các doanh nghiệp hiện kinh doanh nhiều ngành nghề, theoLuật Đầu tư chỉ ưu đãi một số ngành nghề và địa bàn do đó để dễ dàng thực hiện và tạo sự công bằng không nên chia theo lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực khác để áp dụng thực hiện.
Cũng theo bà An, lộ trình được Bộ Tài chính xây dựng trong dự thảo là quá nhanh. Theo đó đề xuất lộ trình thích hợp hơn: từ năm 2016 đến 2019 tỷ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu là 5/1; từ năm 2019 đến 2020 là 4/1 và từ 2020 trở đi là 3/1. Tỷ lệ 3/1 là tỷ lệ được OECD khuyến cáo.
Thậm chí, về tỷ lệ 5/1 chuyên gia tư vấn thuế, ông Phạm Ngọc Long còn cho biết, tỷ lệ này không phù hợp cho một số doanh nghiệp sản xuất như khai thác mỏ, xi măng cần nhiều vốn để đầu tư tài sản cố định phục vụ sản xuất dài hạn.

Theo cafef.vn
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Những trường hợp không được làm kế toán



Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật kế toán, trong đó quy định rõ những người không được làm kế toán, về hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán.

Những người không được làm kế toán thuộc các trường hợp sau:
1- Các trường hợp quy định tại khoản 1, 2 Điều 52 Luật kế toán.
2- Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi, anh, chị, em ruột của người đại diện theo pháp luật, của người đứng đầu, của giám đốc hoặc tổng giám đốc và của cấp phó của người đứng đầu, phó giám đốc hoặc phó tổng giám đốc phụ trách công tác tài chính - kế toán, kế toán trưởng trong cùng một đơn vị kế toán, trừ doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn do một cá nhân làm chủ sở hữu, doanh nghiệp thuộc loại hình khác không có vốn nhà nước và là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
3- Người đang làm quản lý, điều hành, thủ kho, thủ quỹ, người được giao nhiệm vụ thường xuyên mua, bán tài sản trong cùng một đơn vị kế toán, trừ trường hợp trong cùng doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn do một cá nhân làm chủ sở hữu và các doanh nghiệp thuộc loại hình khác không có vốn nhà nước và là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Dịch vụ kế toán
Nghị định quy định doanh nghiệp kiểm toán có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định của pháp luật về kiểm toán độc lập thì được kinh doanh dịch vụ kế toán. Khi không còn đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định của pháp luật về kiểm toán độc lập thì doanh nghiệp kiểm toán không được kinh doanh dịch vụ kế toán.
Đơn vị kinh doanh dịch vụ kế toán không được cung cấp dịch vụ kế toán cho đơn vị khác khi người có trách nhiệm quản lý, điều hành hoặc người trực tiếp thực hiện dịch vụ kế toán của đơn vị thuộc các trường hợp sau đây:
1- Là cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi, anh, chị, em ruột của người có trách nhiệm quản lý, điều hành, kế toán trưởng của đơn vị kế toán, trừ trường hợp đơn vị kế toán là doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn do một cá nhân làm chủ sở hữu, các doanh nghiệp thuộc loại hình khác không có vốn nhà nước là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
2- Các trường hợp quy định tại khoản 2, 3, 4, 5 Điều 68 Luật kế toán.
3- Trường hợp khác theo quy định của Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán và quy định của pháp luật.
Điều kiện cung cấp dịch vụ kế toán qua biên giới
Theo Nghị định, đối tượng được cung cấp dịch vụ kế toán qua biên giới cho các doanh nghiệp, tổ chức tại Việt Nam là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài có quốc tịch tại quốc gia thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới hoặc của quốc gia, vùng lãnh thổ mà có điều ước quốc tế với Việt Nam về việc được cung cấp dịch vụ kế toán qua biên giới tại Việt Nam.

Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài chỉ được cung cấp dịch vụ kế toán qua biên giới tại Việt Nam sau khi đã đăng ký và được Bộ Tài chính Việt Nam cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán qua biên giới tại Việt Nam.
Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài phải luôn duy trì các điều kiện theo quy định trong suốt thời hạn có hiệu lực của Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán qua biên giới tại Việt Nam. Khi không đảm bảo một trong các điều kiện đó, đi kèm với các văn bản hết hiệu lực, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài có trách nhiệm thông báo cho Bộ Tài chính trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày không còn đủ điều kiện theo quy định.

Theo VGP
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Một số chính sách thuế mới tạo thuận lợi cho doanh nghiệp



Năm 2016, cùng với Nghị quyết 19-2016/NQ-CP, Nghị quyết 35/2016/NQ-CP tạo thêm động lực đổi mới, thêm niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp (DN), nhiều chính sách trong lĩnh vực tài chính tiếp tục được sửa đổi, hoàn thiện nhằm tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ DN.
Những sửa đổi căn bản trong Luật, Nghị định hướng tới mục tiêu đơn giản công tác quản lý thuế, tăng tính khả thi trong tuân thủ pháp luật thuế
Trong đó điểm nhấn nổi bật là việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế (Luật số 106/2016/QH13 ngày 6/4/2016); Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT), Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB ) và Luật Quản lý thuế (Nghị định 100/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016).

Mở rộng đối tượng không thuộc diện chịu thuế
Luật Thuế GTGT tiếp tục được bổ sung, sửa đổi nhằm hỗ trợ doanh nghiệp. Theo đó, một số nội dung trong Luật số 106/2016/QH13 đã được bổ sung như đối tượng hoàn thuế trước kiểm tra sau; mở rộng đối tượng không thuộc diện chịu thuế; quy định về hoàn thuế và thực hiện nguyên tắc đối xử công bằng.
Đối với đối tượng hoàn thuế trước kiểm tra sau, Luật số 106/2016/QH13 đã bổ sung 2 đối tượng thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau, đó là: (i) Người nộp thuế sản xuất hàng hóa xuất khẩu không vi phạm pháp luật thuế trong 2 năm liên tục; (ii) Người nộp thuế không thuộc diện rủi ro cao theo quy định của Luật Quản lý thuế. Các sửa đổi, bổ sung một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế tuân thủ tốt pháp luật thuế được nhanh chóng giải quyết hoàn thuế và đơn giản hóa thủ tục giải quyết hoàn thuế, mặt khác, thúc đẩy người nộp thuế tuân thủ pháp luật thuế để được hưởng những thuận lợi về thủ tục thuế.
Quy định này cũng quán triệt nguyên tắc quản lý rủi ro trong Luật Quản lý thuế, đảm bảo vừa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển, vừa quản lý thuế chặt chẽ, chống gian lận qua hoàn thuế GTGT.
Đối với quy định cụ thể về hoàn thuế, trong đó quy định không thực hiện hoàn thuế GTGT đối với sản xuất kinh doanh khâu nội địa nhằm thúc đẩy doanh nghiệp tăng cường biện pháp quản lý, giảm bớt tồn kho, đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hoá. Đồng thời rút ngắn thời gian được hoàn thuế từ doanh nghiệp có số thuế GTGT đầu vào lũy kế 12 tháng chưa được khấu trừ hết xuống quy định đối với số thuế GTGT đầu vào trong tháng/quý chưa được khấu trừ hết thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo.
Luật quy định chi tiết các trường hợp được khấu trừ thuế đối với cơ sở kinh doanh có dự án đầu tư mới có số thuế GTGT còn lại từ 300 triệu đồng và số thuế GTGT cho hàng hóa dịch vụ sử dụng cho đầu tư mà chưa được khấu trừ, trong khi (i) dự án đầu tư không đảm bảo các điều kiện kinh doanh (vốn góp; quy định của Luật đầu tư; không duy trì được các điều kiện trong quá trình hoạt động); (ii) các dự án đầu tư khai thác tài nguyên khoáng sản mới được cấp phép từ 1/7/2016 hoặc các dự án đầu tư sản xuất có giá trị tài nguyên khoáng sản và chi phí năng lượng chiếm phần lớn (từ 51%) trong giá thành sản phẩm. Đối với doanh nghiệp có dịch vụ xuất khẩu sẽ được hoàn thuế theo tháng, quý nếu số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên.
Luật Thuế GTGT cũng mở rộng các đối tượng không thuộc diện chịu thuế đối với các hoạt động dịch vụ mang tính bảo trợ, an sinh xã hội, như: Dịch vụ y tế, dịch vụ thú y, bao gồm dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh cho người và vật nuôi; đồng thời bổ sung thêm dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật để họ có cơ hội thụ hưởng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, dưỡng lão với mức giá hợp lý.
Thực hiện nguyên tắc công bằng giữa các doanh nghiệp
Về thực hiện nguyên tắc đối xử công bằng giữa hàng nông sản nhập khẩu và hàng nông sản được sản xuất trong nước, nhằm bảo đảm sự bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, Luật Thuế GTGT đã quy định cụ thể từng đối tượng, từng khâu sản xuất trong việc xác định đối tượng chịu thuế GTGT.
Theo đó, các mặt hàng nông sản, thủy sản thô hoặc sơ chế của các tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu sẽ không thuộc đối tượng chịu thuế. Tại khâu kinh doanh tiếp theo, các doanh nghiệp, hợp tác xã (nộp thuế theo phương pháp khấu trừ) có mua sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến hoặc mới sơ chế thông thường sẽ không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT nhưng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Với quy định này, các doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh hàng nông sản trong thị trường nội địa sẽ vừa tiết kiệm được chi phí tài chính do không phải bỏ tiền nộp thuế trước đối với hàng nông sản khi mua vào hoặc nhập khẩu; đồng thời bảo đảm được quyền khấu trừ thuế đầu vào đối với các chi phí trong khâu lưu thông có đóng góp làm tăng giá trị của hàng hoá nông sản (như chi phí đóng gói, xử lý, bảo quản, vận tải, quản lý,…)
Chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế thuế đối với một số trường hợp
Nhằm chia sẻ khó khăn với những người nộp thuế có ý thức, thái độ tuân thủ pháp luật thuế nhưng hiện tại đang gặp khó khăn về tài chính, cần có thời gian để thu xếp nguồn tiền để nộp dần số thuế nợ, Luật Quản lý thuế quy định chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế thuế đối với trường hợp được cho phép nộp dần tiền nợ thuế nhưng không quá 12 tháng, kể từ ngày bắt đầu của thời hạn cưỡng chế thuế. Việc nộp dần tiền nợ thuế sẽ được xem xét trên cơ sở đề nghị của người nộp thuế nếu có bảo lãnh của tổ chức tín dụng.
Bên cạnh đó, mức phạt chậm nộp thuế đã giảm từ 0,05%/ngày xuống mức thấp hơn là 0,03%/ngày để phù hợp với mặt bằng lãi suất ngân hàng (mức phạt chậm nộp đã giảm nhiều so với trước đây) nhằm bảo đảm tính khả thi của quy định xử phạt, đồng thời cũng chia sẻ khó khăn với người nộp thuế . Việc áp dụng mức tính tiền chậm nộp 0,03%/ ngày cũng được áp dụng đối với cả các khoản nợ tiền thuế phát sinh trước ngày 1/7/2016 mà người nộp thuế chưa nộp vào NSNN, khoản tiền nợ thuế được truy thu qua kết quả thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền.
Ngoài ra, Luật cũng bổ sung quy định trường hợp người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng nguồn vốn NSNN nhưng chưa được thanh toán nên không nộp kịp thời các khoản thuế dẫn đến nợ thuế thì không phải nộp tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế còn nợ. Số tiền chậm nộp thuế mà doanh nghiệp được miễn trừ không vượt quá số tiền NSNN chưa thanh toán và phát sinh trong thời gian NSNN chưa thanh toán.
Bảo vệ hàng hóa chịu thuế được sản xuất trong nước
Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB ) sửa đổi hướng đến xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, bảo vệ hàng hóa chịu thuế TTĐB được sản xuất trong nước
Điểm nổi bật trong Luật Thuế TTĐB sửa đổi là việc quy định cụ thể về giá tính thuế nhằm bảo đảm sự bình đẳng về giá tính thuế, cách tính thuế và mức thuế giữa hàng hoá sản xuất ở Việt Nam và hàng hoá nhập khẩu. Theo đó, giá tính thuế TTĐB đối với hàng hóa nhập khẩu trước đây tính thuế TTĐB trên giá CIF (giá nhập khẩu + thuế nhập khẩu) nhưng theo quy định mới tính thuế TTĐB trên mức giá do cơ sở nhập khẩu bán ra như đang áp dụng đối với hàng hóa sản xuất trong nước. Giá bán làm căn cứ xác định giá tính thuế TTĐB không thấp hơn tỷ lệ 7% so với giá bình quân của các cơ sở kinh doanh thương mại mua trực tiếp của cơ sở sản xuất, nhập khẩu bán ra.
Như vậy, sản phẩm chịu thuế TTĐB của các doanh nghiệp trong nước đã được Chính phủ bảo đảm công bằng, bình đẳng với sản phẩm nhập khẩu cùng loại hoặc tương đương từ các doanh nghiệp nước ngoài.
Đồng thời, để ngăn ngừa việc tránh thuế TTĐB của các doanh nghiệp sử dụng mô hình công ty mẹ/con, mô hình liên kết, đầu tư sở hữu chéo… thông qua việc chuyển giá nhằm đảm bảo cạnh tranh công bằng giữa các khu vực doanh nghiệp trong hoạt động kinh tế, Luật số 106/2016/QH13 cũng quy định trường hợp hàng hóa chịu thuế TTĐB được bán cho các doanh nghiệp có mối quan hệ với nhau (quan hệ mẹ - con; quan hệ hợp đồng cung cấp – sản xuất; quan hệ đồng cấp giữa các công ty con; ….) đều phải áp dụng giá tính thuế TTĐB không được thấp hơn tỷ lệ % so với giá bình quần của các cơ sở kinh doanh thương mại mua trực tiếp của cơ sở sản xuất, nhập khẩu bán ra theo quy định của Chính phủ.
Có thể nói, những sửa đổi căn bản trong Luật, Nghị định đã góp phần truyền tải thông điệp chính sách của Chính phủ, hướng tới mục tiêu đơn giản công tác quản lý thuế, tăng tính khả thi trong tuân thủ pháp luật thuế, đồng thời bảo vệ doanh nghiệp Việt Nam, tạo thuận lợi cho người nộp thuế một cách hợp pháp trong bối cảnh hội nhập kinh tế, quốc tế ngày càng sâu rộng.

Đây là những hành động thiết thực của Chính phủ kiến tạo, đồng hành cùng doanh nghiệp vượt qua khó khăn, thách thức, ổn định sản xuất, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhằm thực hiện tốt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
TS. Nguyễn Viết Lợi - (Viện trưởng Viện CL&CSTC)
Theo Chinhphu.vn


Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7


Read More Add your Comment 0 nhận xét


 

© 2012 Địa chi học kế toán thực hành uy tín All Rights Reserved Tìm việc kế toán