Hóa đơn điện tử tiết giảm chi phí cho doanh nghiệp



Mục tiêu của ngành Thuế là sẽ phủ sóng hóa đơn điện tử tới 100% doanh nghiệp đang quản lý.


Giảm chi phí cho doanh nghiệp

Cơ sở pháp lý để khuyến khích các DN sử dụng hoá đơn điện tử để thay thế cho hoá đơn giấy đã được quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP của Chính phủ. Nhưng đến năm 2011, khi Bộ Tài chính ban hành Thông tư 32/2011/TT-BTC hướng dẫn cụ thể về khởi tạo, phát hành và sử dụng hoá đơn điện tử bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thì mới chính thức mở đường cho cơ quan Thuế áp dụng mô hình hóa đơn điện tử.

Theo Tổng cục Thuế, hiện nay xu hướng ở nhiều quốc gia trên thế giới phát triển mô hình hóa đơn điện tử nhằm đáp ứng 2 mục tiêu: Thứ nhất, hoá đơn điện tử mang lại nhiều lợi ích cho người sử dụng như: Giảm chi phí in, gửi, bảo quản, lưu trữ; thuận tiện cho việc hạch toán kế toán, đối chiếu dữ liệu, quản trị kinh doanh; rút ngắn thời gian thanh toán do việc lập, gửi/nhận hoá đơn được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử; góp phần hiện đại hoá công tác quản trị DN. Thứ hai, tiết giảm thủ tục hành chính Thuế thông qua việc rút gọn các thủ tục đăng ký phát hành, báo cáo tình hình sử dụng, lập bảng kê hóa đơn; ngăn chặn và kiểm soát việc sử dụng hóa đơn giả để trốn thuế.

Trung tâm đào tạo kế toán thực hành Tại vũng tàu Từ năm 2011, để chuẩn bị cho việc thực hiện thí điểm hoá đơn điện tử, Tổng cục Thuế đã đầu tư máy móc, trang thiết bị, nâng cấp hệ thống đường truyền internet, hợp tác chặt chẽ với các hãng cung cấp giải pháp phần mềm để hoàn thiện ứng dụng; đồng thời xây dựng quy trình thủ tục hướng dẫn DN và cơ quan Thuế tham gia truyền, nhập dữ liệu; xuất, hủy hóa đơn và lưu trữ trên máy tính của các bên theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Tính đến thời điểm hiện nay đã có trên 200 DN thuộc lĩnh vực: Hàng không, Ngân hàng, Điện lực, Viễn thông… sử dụng hóa đơn điện tử và bước đầu đem lại nhiều tiện ích cho DN. Theo tính toán của Trung tâm Tín dụng quốc gia thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hàng tháng Trung tâm ước tính phải mất 200 đến 300gram giấy để in ấn hóa đơn, phí chuyển phát hóa đơn hàng tháng cũng rất lớn, có những hóa đơn giá trị nhỏ, chỉ hơn 20.000đ nhưng phí chuyển phát cũng xấp xỉ giá trị của hóa đơn (khoảng 17.000 đồng/lần chuyển).

Ngoài ra, Trung tâm Tín dụng cũng dẫn chứng, hóa đơn điện tử sẽ không xảy ra trường hợp bị thất lạc, mất hóa đơn như hóa đơn giấy nên hạn chế được thủ tục báo cáo, bị phạt từ cơ quan Thuế (hiện mức phạt tối đa 15 triệu/1 hóa đơn bị mất không có lý do chính đáng). Do vậy, khi áp dụng giải pháp hóa đơn điện tử trong thanh toán tiền dịch vụ thông tin tín dụng đã giúp cho Trung tâm tiết giảm được rất nhiều thủ tục phát hành hóa đơn, người nhận cũng nhận được luôn hóa đơn ngay khi vừa phát hành; khai báo và quyết toán thuế thuận tiện, tiết kiệm chi phí, diện tích lưu trữ; bảo quản và truy lục hóa đơn, tránh thất thoát, cháy hỏng hóa đơn và bảo vệ môi trường …

Phương châm sử dụng hóa đơn điện tử để tạo thuận lợi cho khách hàng đã được VNPT Hà Nội xác định khi sử dụng hóa đơn điện tử trong thanh toán cước viễn thông của khách hàng thuê bao dịch vụ. Theo đó, đến thời hạn thanh toán cước viễn thông hàng tháng, thay bằng việc nhận hoá đơn giấy như lâu nay, khách hàng sử dụng phương thức thanh toán tại nhà hoặc tại quầy giao dịch sẽ nhận “Giấy biên nhận thanh toán” để làm cơ sở xác thực đã thanh toán tiền cước cho VNPT Hà Nội. Đối với khách hàng thanh toán qua ngân hàng thì việc xác nhận thanh toán được thực hiện như trước đây bằng các chứng từ ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, giấy báo nợ, giấy báo có...
dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà nội
Hỗ trợ công cụ ngăn chặn hóa đơn giả

Để ngăn chặn các hành vi phạm tội liên quan đến lĩnh vực hóa đơn và thuế, Tổng cục Thuế sẽ triển khai thí điểm xây dựng hệ thống xác thực hóa đơn (ICS) tại một số DN ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Theo đó, hệ thống ICS sẽ xây dựng các chuẩn dữ liệu về hóa đơn điện tử. Để giúp DN tránh được tình trạng bị làm giả hóa đơn, trên mỗi tờ hóa đơn sẽ có một mã xác thực. Khi kiểm tra thông qua mã này, khách hàng sẽ có thể tra cứu và kiểm tra được thông tin chi tiết của DN xuất hóa đơn; về tình trạng hoạt động của DN. Mặt khác, hóa đơn xác thực của DN còn được đảm bảo tính hợp pháp của cơ quan Thuế nên không thể bị làm giả bằng hình thức điện tử; các DN hoạt động trong lĩnh vực phân phối hàng hóa dịch vụ phải xuất nhiều hóa đơn sẽ tiết kiệm đáng kể chi phí in ấn, vận chuyển và bảo quản hóa đơn.

Mục tiêu của ngành Thuế là sẽ phủ sóng hóa đơn điện tử tới 100% DN đang quản lý. Do vậy, để hoàn thành chỉ tiêu này, cơ quan Thuế đang thực hiện các biện pháp tuyên truyền về những lợi ích của hóa đơn điện tử đến cộng đồng DN; hỗ trợ miễn phí về kỹ thuật và giải đáp ngay những vướng mắc trong quá trình thực hiện cho DN nhằm khuyến khích DN chủ động tham gia đăng ký thực hiện hóa đơn điện tử.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận hai bà trưng Theo Tạp Chí Tài Chính


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Tìm hiểu về hệ thống kế toán trong môi trường thương mại điện tử



Internet có ảnh hưởng đến tất cả các mặt của thương mại quốc tế. Ngay cả đối với các doanh nghiệp không trực tiếp tham gia vào thương mại điện tử (TMĐT) cũng bị ảnh hưởng bởi các cơ hội về thông tin và liên lạc sẵn có trên Internet. Tốc độ và sự thuạn tiện của công nghệ mới không chỉ cung cấp các thông tin về cơ hội kinh doanh mà còn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn. Thực tế đòi hỏi nhà quản trị phải tính đến tác động của công nghệ thông tin đối với quá trình kinh doanh, bao gồm cả kế toán và tài chính.


Thương mại điện tử

TMĐT tác động đến tất cả cácdn kể cả các doanh nghiệp không trực tiếp tham gia vào loại hình này. TMĐT đưa lại những cơ hội mới, đồng thời cũng mang đến cả những rủi ro mới. Cơ hội là số lượng lớn các nhà cung cấp, khách hàng và thị trường, marketting điện tử và các liên kết giữa các nhà cung cấp hoặc sản xuất hoạt động trong cùng một lĩnh vực (các liên kết dọc). Các rủi ro xảy ra thường liên quan đến kỹ thuật (phần cứng- hardware), phần mềm ứng dụng (softwave), cơ sở dữliệu, việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế (tính xác thực), chữ ký điện tử, vấn đề liên quan đến luật pháp và các thông tin có tính cá nhân…

TMĐT làm thay đổi sâu sắc phương thức kinh doanh, đòi hỏi sự thay đổi trong cấu trúc của tổ chức, các mối quan hệ kinh doanh và các liên minh, cơ chế và cách thức phân phối, luật pháp cũng như cá quy định mà theo đó, hoạt động kinh doanh được thực hiện. TMĐT đồng thời cũng tiềm ẩn những rủi ro mà các doanh nghiệp cần phải hạn chế bằng cách thiết lập một hệ thóng cơ sở hạ tầng thông tin và hệ thống kiểm soát hiệu quả. Hơn nữa, TMĐT còn làm thay đổi trách nhiệm của người lao động cũng như vai trò của các cấp quản lý khác nhau. Những thay đổi căn bản này có ảnh hưởng đáng kể tới hệ thống kế toán; thay đổi trong quá trình kinh doanh dẫn tới thay đổi trong cách thức ghi chép và các quá trình kế toán. Do vậy, những người làm kế toán và kiểm toán sẽ phải đối mặt với những thách thức mới và cần thiết phải áp dụng các kỹ thuật phù hợp, ví dụ như phát triển một hệ thống kế tóan trên cơ sở TMĐT, đảm bảo chắc chắn là các nghiệp vụ được ghi chép đúng đắn tương thích với các quy định của quốc gia và quốc tế cũng như phù hợp với các nguyên tăc và chuẩn mực kế toán được thừa nhận.

Trung tâm kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc giang Trách nhiệm thông qua internet đã mang lại những cơ hội đáng kể những những cơ hội này cũng sẵn có đối với các đối thủ cạnh tranh khác nên cũng hàm chứa những rủi ro. Internet cho phép một doanh nghiệp có thể thâm nhập có hiệu quả các thị trường mục tiêu có tính địa phương hoặc có thể phục vụ một thị trường rộng lớn (quốc gia, toàn cầu) với chi phí hiệu quả nhất. Internet cho phép tiết kiệm chi phí (bằng cách trở thành một nhà cung cấp với số lượng lớn và chi phí thấp) và hạ giá thành (thông qua việc chuyên môn hóa sản xuất). Thậm chí doanh nghiệp không quyết định tham gia vào TMĐT cũng sẽ bị ảnh hưởng vì người mua có thể chỉ quan tâm đến internet và tìm kiếm nguồn cung mới thông qua internet, hoặc các nhà cung cấp có thể yêu cầu khả năng về TMĐT và chỉ quan hệ với các doanh nghiệp có khả năng về TMĐT.

TMĐT thúc đẩy việc áp dụng các mô hình kinh doanh mới, bao gồm thiết lập các chuỗi bán hàng, các dịch vụ hỗ trợ và thành lập các liên minh với mục tiêu giảm chi phí. TMĐT còn cung cấp khả năng tăng lợi nhuận bằng việc tiết kiệm chi phí như dự trữ ảo, liên kết dọc, giao hàng hóa và dịch vụ theo phương thức điện tử; tự động đặt hàng: các khách hàng và các nhà cung cấp có thể tự thực hiện có hiệu quả các giao dịch điện tử dựa trên cơ sở của internet, bao gồm cả các liên kết với các nhà vận chuyển và các môi giới khách hàng…Các phương thức kinh doanh mới này ngày càng được quan tâm bởi khách hàng và người mua.

Vì trách nhiệm không thể không liên quan đến việc sử dụng công nghệ thông tin, một trong những rủi ro của hệ thống tin học như: rủi ro của hạ tầng thông tin; rủi ro của các chương trình ứng dụng; rủi ro của quá trình xử lý thông tin kinh doanh nảy sinh khi hệ thống tin học đang sử dụng không bao quát toàn bộ quá trình kinh doanh, mà chỉ phản ánh được một phần của quá trình đó. Những rủi ro có thể là sự không rõ ràng của số liệu, không rõ ràng trong việc chuyển sổ và nhận dạng số liệu ở từng khâu của quá trình ghi chép kế toán.

Doanh nghiệp điện tử và các nguyên tắc kế toán trong môi trường kinh doanh điện tử.

Các nhà quản lý có nghĩa vụ là đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp trong mói quan hệ tương thích với chiến lược kinh doanh đã đề ra. Khi hệ thống tin học được thiết lập để phục vụ cho mục tiêu đó, vấn đề quan trọng là các nhà quản lý phải có các biện pháp để quản lý và giảm thiểu rủi ro. Trong quá trình xâu dựng chiến lược của doanh nghiệp điện tử, bên cạnh các cân nhắc về rủi ro kinh doanh không thể không tính đến rủi ro của hệ thống thông tin.

Vì vậy, quản lý rủi ro thông tin thường là việc thực hiện nghiêm túc tính xác thực của thông tin. Tính xác thực của thông tin phụ thuộc vào sự hữu hiệu của hệ thống tin học và sự hữu hiệu này lại phụ thuộc vào cách kiểm soát thông tin hiện hành.

Vấn đề là phải quản lý sự hoạt động của hệ thống thông tin để đảm bảo rằng nó vận hành một cách có hiệu quả và trôi chảy. Tông tin do hệ thống tin học cung cấp sẽ trở nên hữu hiệu khi hệ thống đó có  khả năng vận hành mà không có lỗi và sai sót trong một thời kỳ nhất định. Những yêu cầu này dĩ nhiên cũng áp dụng đối với thông tin của kế toán. Các nguyên tắc sau có thể sử dụng để đánh giá sự hữu hiệu của thông tin kế toán. Các nguyên tắc đối với tính bảo mật của thông tin kế toán, và các nguyên tắc đối với quá trình xử lý thông tin kế toán.

Các nguyên tắc về sự hữu hiệu của thông tin kế toán.

Các nguyên tắc bảo đảm thông tin kế toán

Một điều kiện tiên quyết của bảo đảm thông tin kế toán là sự hữu hiệu của số liệu trên sổ kế toán của doanh nghiệp, vì thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính là bắt nguồn từ thông tin do kế tón cung cấp. Đối với doanh nghiệp điện tử, vì các dữ liệu được xử lý bởi hệ thông máy tính, nên mức độ ứng dụng tin học và chất lượng của hạ tầng thông tin cũng là các khía cạnh quan trọng của đảm bảo thông tin kế toán.

Theo các chuẩn mực về kế toán và kiểm toán, cá nhà quản lý có trách nhiệm và nghĩa vụ đáp ứng các điều kiện tiên quyết về sự hữu hiệu của thông tin kế toán. Vì vật, điều cần thiết là phải phát triển, ứng dụng và duy trì một mức bảo mật cần thiết để bảo đảm các tiêu chuẩn của bảo mật.

Một hệ thống tin học sẽ tạo ra sự hữu hiệu của thông tin kế toán khi nó đáp ứng được các yêu cầu về sau:

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà đông Phân tích được: yêu cầu này được thỏa mãn khi các dữ liệu là đúng đắn và chuẩn xác, hệ thống thông tin là đầy đủ và tương thích với tất cả các yêu cầu về sự không sửa đổi và mất trộm thông tin. Các biện pháp có tính kỹ thuật để đạt được kết quả này gồm các bức tường lửa (firewalls) và hệ thống chống virus. Sự hữu hiệu của việc xử lý thông tin, các dữ liệu, và việc ứng dụng tin học được sử dụng trong những điều kiện về cấu hình cụ thể, và chỉ được chỉnh sửa khi có sự phê chuẩn.

Sẵn có: theo yêu cầu này, doanh nghiệp phải đảm bảo sự luôn sẵn sàng của phần cứng, phần mềm, và dữ liệu thông tin để hoạt động kinh doanh diễn ra một cách bình thườg, đặc biệt là các vấn đề đảm bảo hệ thống trong trường hợp bị gián đoạn thông tin trong một khoảng thời gian hợp lý. Vì vậy, đòi hỏi phải thiết lập được một quy trình phản hồi thích hợp cho các vấn đè khẩn cấp (mất dữ liệu, lỗi đường truyền…). Thêm vào đó, khả năng chuyển đổi từ thông tin số hóa sang thông tin có thể đọc được trên các sổ kế toán cũng hết sức cần thiết.

Bảo mật: yêu cầu này có nghĩa các dữ liệu thu nhận được từ bên thứ ba không được truyền hoặc công bố ra bên ngoài nếu không có sự ủy quyền.

Tin cậy, chính xác: yêu cầu này liên quan đến nguồn gốc phát sinh của các nghiệp vụ kinh tế đối với các cá nhân, người thực hiện các giao dịch đó. Điều này có thể thực hiện bằng cách, ví dụ, sử dụng một quy trình ủy quyền. Khi dữ liệu hoặc thông tin được trao đổi theo cách thức điện tử/kỹ thuật số, vấn đề quan trọng là bên đối tác có thể nhận diện được, ví dụ bằng cách sử dụng quy trình về chữ ký điện tử. Trong trường hợp cần thiết, doanh nghiệp có thể thành lập trung tâm về nhận dạng.

Cho phép và ủy quyền: yêu cầu này có nghĩa là chỉ một vài người, được chỉ định từ trước có thể truy cập vào một số dữ liệu thông tin hoặc hệ thống nhất định. Việc này bao gồm đọc, tạo, sửa đổi và xóa dữ liệu của một tệp thông tin nào đó. Các phương pháp có hiệu quả để đạt được mục tiêu này là các quy trình bảo vệ, như thẻ nhận dạng cá nhân hoặc cá từ khóa.
Không thể sao chép: liên quan đến cá kỹ thuật chống sao lưu (copy) tài liệu nếu không được phép.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận thanh xuân
Theo tapchiketoan


Read More Add your Comment 0 nhận xét


4 cách hạch toán thuế TNDN tạm tính



Khấu hao tài sản cố định liên quan đến việc hao mòn tài sản mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần phải có công tác này. Bạn đã thực hiện công tác khấu hao tài sản cố định trong doanh nghiệp mình như thế nào? Sau đây Trung tâm Kế toán Bình Minh xin chia sẻ một số thông tin về những phương pháp khấu hao tài sản cố định thường gặp mà bạn lưu tâm.



Khấu hao tài sản cố định là gì?

Khấu hao là việc định giá, tính toán, phân bổ một cách có hệ thống giá trị của tài sản do sự hao mòn tài sản sau một khoảng thời gian sử dụng. Khấu hao tài sản cố định được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong suốt thời gian sử dụng tài sản cố định. Khấu hao tài sản cố định liên quan đến việc hao mòn tài sản, đó là sự giảm dần về giá trị và giá trị sử dụng do tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, do hao mòn tự nhiên hoặc do tiến bộ khoa học công nghệ.

Khấu hao là một thuật ngữ sử dụng trong kế toán mô tả phương pháp phân bổ chi phí của tài sản cố định trong suốt tời gian sử dụng của nó tương đương với mức hao mòn thông thường. Khấu hao thường áp dụng với các loại tài sản có thời gian sử dụng cố định, mất dần giá trị trong quá trình sử dụng. Nói cách khác, khấu hao là sự phân bổ dần giá trị tài sản cố địnhvào giá thành sản phẩm nhằm tái sản xuất TSCĐ sau khi hết thời gian sử dụng.

Theo thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25/04/2013:

-  Tài sản cố định là những tài sản thoả mãn được những tiêu chuẩn dưới đây:

a) Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;

b) Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên;

c) Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên.

-  Khấu hao TSCĐ là việc tính toán và phân bổ 1 cách có hệ thống nguyên giá của tài sản cố định vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian trích khâu hao TSCĐ.

Việc trích khấu hao có thể tiến hành nhiều phương pháp và phải căn cứ vào quy định của nhà nước về chế độ quản lý tài chính và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Phương pháp khấu hao được lựa chọn phải được đảm bảo thu hồi vốn nhanh và phù hợp với khả năng trang trải chi phí của doanh nghiệp. Hiện nay phương pháp khấu hao đường thẳng đang được áp dụng phổ biến, DN lựa chọn phải sử dụng nhất quán. Theo quy định hiện hành việc trích khấu hao hoặc thôi trích khấu hao được thực hiện bắt đầu từng ngày tăng hoặc giảm của TS đó

- Tài sản sử dụng khi tính khấu hao tài sản cố định:TÀI KHOẢN 214-HAO MÒN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH

Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình tăng, giảm giá trị hao mòn và giá trị hao mòn luỹ kế của các loại TSCĐ  và bất động sản (BĐS) đầu tư trong quá trình sử dụng do trích khấu hao TSCĐ, BĐS đầu tư và những khoản tăng, giảm hao mòn khác của TSCĐ, BĐS đầu tư.

-  Kết cấu tài khoản 214 - hao mòn tài sản cố định:


dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại bắc ninh
- Tài khoản 214 - Hao mòn TSCĐ, có 4 tài khoản cấp 2:

- Tài khoản 2141 - Hao mòn TSCĐ hữu hình: Phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐ hữu hình trong quá trình sử dụng do trích khấu hao TSCĐ và những khoản tăng, giảm hao mòn khác của TSCĐ hữu hình.

- Tài khoản 2142 - Hao mòn TSCĐ thuê tài chính: Phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐ thuê tài chính trong quá trình sử dụng do trích khấu hao TSCĐ thuê tài chính và những khoản tăng, giảm hao mòn khác của TSCĐ thuê tài chính.

- Tài khoản 2143 - Hao mòn TSCĐ vô hình: Phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐ vô hình trong quá trình sử dụng do trích khấu hao TSCĐ vô hình và những khoản làm tăng, giảm hao mòn khác của TSCĐ vô hình .

- Tài khoản 2147 - Hao mòn BĐS đầu tư: Tài khoản này phản ánh giá trị hao mòn BĐS đầu tư trong quá trình nắm giữ chờ tăng giá, cho thuê hoạt động các BĐS đầu tư của doanh nghiệp.

Hướng dẫn cách hạch toán khấu hao tài sản cố định trong một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu:

1. Định kỳ tính, trích khấu hao TSCĐ vào chi phí sản xuất, kinh doanh, chi phí khác, ghi:



2. TSCĐ đã sử dụng, nhận được do điều chuyển trong nội bộ Tổng công ty, công ty, ghi:

Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình (Nguyên giá)
Có TK 411 - Nguồn vốn kinh doanh (Giá trị còn lại)
Có TK 214 - Hao mòn TSCĐ (2141) (Giá trị hao mòn).

3. Định kỳ tính, trích khấu hao BĐS đầu tư đang nắm giữ chờ tăng giá, đang cho thuê hoạt động, ghi:

Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư)
Có TK 214 - Hao mòn TSCĐ (2147).

Trung tâm đào tạo kế toán thực hành Tại từ liêm 4. Trường hợp giảm TSCĐ, BĐS đầu tư thì đồng thời với việc ghi giảm nguyên giá TSCĐ phải ghi giảm giá trị đã hao mòn của TSCĐ, BĐS đầu tư (Xem hướng dẫn các hạch toán TK 211, 213, 217).

5. Đối với TSCĐ dùng cho hoạt động sự nghiệp, dự án, khi tính hao mòn vào thời điểm cuối năm tài chính, ghi:

Nợ TK 466 - Nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ
Có TK 214 - Hao mòn TSCĐ.

6. Đối với TSCĐ dùng cho hoạt động văn hoá, phúc lợi, khi tính hao mòn vào thời điểm cuối năm tài chính, ghi:

Nợ TK 4313 - Quỹ phúc lợi đã hình thành TSCĐ
Có TK 214 - Hao mòn TSCĐ.

7. Trường hợp vào cuối năm tài chính doanh nghiệp xem xét lại thời gian trích khấu hao và phương pháp khấu hao TSCĐ, nếu có sự thay đổi mức khấu hao cần phải điều chỉnh số khấu hao ghi trên sổ kế toán như sau:

- Nếu do thay đổi phương pháp khấu hao và thời gian trích khấu hao TSCĐ, mà mức khấu hao TSCĐ tăng lên so với số đã trích trong năm, số chênh lệch khấu hao tăng, ghi:



- Nếu do thay đổi phương pháp khấu hao và thời gian trích khấu hao TSCĐ, mà mức khấu hao TSCĐ giảm lên so với số đã trích trong năm, số chênh lệch khấu hao tăng, ghi:


Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận hoàn kiếm Tổng hợp


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hướng dẫn kinh doanh dịch vụ kế toán năm 2017



Vừa qua, Bộ Tài chính ban hành Công văn 1594/BTC-CĐKT về việc kinh doanh dịch vụ kế toán (DVKT) năm 2017.


dịch vụ dọn dẹp sổ sách kế toán Theo đó, Bộ Tài chính đã công khai và cập nhật thường xuyên trên trang thông tin điện tử của Bộ về Danh sách các doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh DVKT có đủ điều kiện kinh doanh năm 2017.

 Do đó, các tổ chức, cá nhân nào không có tên trong danh sách công khai của Bộ Tài chính thì không được phép kinh doanh dịch vụ và sẽ bị xử lý vi phạm hành chính do vi phạm quy định của Luật Kế toán.

Ngoài ra, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán cần lưu ý:

Trung tâm đào tạo kế toán thực hành Tại vũng tàu - Chỉ có những doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh (GCN) dịch vụ kế toán và những kế toán viên được cấp chứng chỉ hành nghề do Bộ Tài chính cấp mới được hành nghề.

- Doanh nghiệp được kinh doanh DVKT gồm các doanh nghiệp được cấp GCN DVKT và các doanh nghiệp kinh doanh DVKT thành lập trước ngày 01/01/2017 (có 24 tháng để đảm bảo đủ điều kiện được cấp GCN).

Công văn 1594/BTC-CĐKT được ban hành ngày 08/02/2017.

Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận 2 Theo tapchitaichinh


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Các quy định chung về ghi chép và quản lý chứng từ kế toán



Luật Kế toán đã nêu rõ: “Chứng từ kế toán là những giấy tờ và vật mang tin phản ánh nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi sổ kế toán “.



Nội dung của chứng từ kế toán phải có đầy đủ các yếu tố sau đây:

 - Tên gọi chứng từ (hóa đơn, phiếu thu, phiếu chi...).


 - Số hiệu của chứng từ.

 - Ngày, tháng, năm lập chứng từ.

 - Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân lập chứng từ.

 - Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân nhận chứng từ.

 - Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh.

 - Các chỉ tiêu về số lượng, đơn giá và giá trị.

 - Chữ ký, họ và tên của người lập và những người chịu trách nhiệm liên quan đến chứng từ. Những chứng từ phản ánh quan hệ kinh tế giữa các pháp nhân thì phải có chữ ký của người kiểm tra (kế toán trưởng) và người phê duyệt (thủ trưởng đơn vị), đóng dấu đơn vị. Đối với những chứng từ liên quan  đến việc bán hàng, cung cấp dịch vụ thì ngoài những yếu tố đã quy định nêu trên còn phải có chỉ tiêu: thuế suất và số thuế phải nộp. Những chứng từ dùng làm căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán phải cỏ thêm chỉ tiêu định khoản kế toán.

Một số quy định chung về chứng từ kế toán

Hệ thống biểu mẫu chứng từ kế toán

Hệ thống biểu mẫu chứng từ kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp, gồm:

- Chứng từ kế toán ban hành theo Chế độ kế toán doanh nghiệp này, gồm 5 chỉ tiêu:

+ Chỉ tiêu lao động tiền lương.

+ Chỉ tiêu hàng tồn kho.

+ Chỉ tiêu bán hàng.

+ Chỉ tiêu tiền tệ.

+ Chỉ tiêu TSCĐ.

-  Chứng từ kế toán ban hành theo các văn bản pháp luật khác (Mẫu và hướng dẫn lập áp dụng theo các văn bản đã ban hành). Ví dụ như HÓA ĐƠN GTGT, HÓA ĐƠN BÁN HÀNG. Đang được quy định cụ thể tại TT 39/2014/TT-BTC.

Chứng từ kế toán phải có đầy đủ các yếu tố sau đây:

- Tên và số hiệu của chứng từ kế toán;

- Ngày, tháng, năm lập chứng từ kế toán;

- Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân lập chứng từ kế toán;

- Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân nhận chứng từ kế toán;

- Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh;

- Số lượng, đơn giá và số tiền của nghiệp vụ kinh tế, tài chính ghi bằng số; tổng số tiền của chứng từ kế toán dùng để thu, chi tiền ghi bằng số và bằng chữ;

- Chữ ký, họ và tên của người lập, người duyệt và những người có liên quan đến chứng từ kế toán;

Những chứng từ dùng làm căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán phải có thêm chỉ tiêu định khoản kế toán.

Lập chứng từ kế toán

- Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp đều phải lập chứng từ kế toán. Chứng từ kế toán chỉ lập 1 lần cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh. Nội dung chứng từ kế toán phải đầy đủ các chỉ tiêu, phải rõ ràng, trung thực với nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh. Chữ viết trên chứng từ phải rõ ràng, không tẩy xoá, không viết tắt. Số tiền viết bằng chữ phải khớp, đúng với số tiền viết bằng số.

- Chứng từ kế toán phải được lập đủ số liên theo quy định cho mỗi chứng từ. Đối với chứng từ lập nhiều liên phải được lập một lần cho tất cả các liên theo cùng một nội dung bằng máy tính, máy chữ hoặc viết lồng bằng giấy than. Trường hợp đặc biệt phải lập nhiều liên nhưng không thể viết một lần tất cả các liên chứng từ thì có thể viết hai lần nhưng phải đảm bảo thống nhất nội dung và tính pháp lý của tất cả các liên chứng từ.

- Các chứng từ kế toán được lập bằng máy vi tính phải đảm bảo nội dung quy định cho chứng từ kế toán.

Ký chứng từ kế toán

Mọi chứng từ kế toán phải có đủ chữ ký theo chức danh quy định trên chứng từ mới có giá trị thực hiện. Riêng chứng từ điện tử phải có chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật. Tất cả các chữ ký trên chứng từ kế toán đều phải  ký bằng bút bi hoặc bút mực, không được ký bằng mực đỏ, bằng bút chì,

Chữ ký trên chứng từ kế toán dùng để chi tiền phải ký theo từng liên.

Chữ ký trên chứng từ kế toán của một người phải thống nhất và phải giống với chữ ký đã đăng ký theo quy định, trường hợp không đăng ký chữ ký thì chữ ký lần sau phải khớp với chữ ký các lần trước đó.

Các doanh nghiệp chưa có chức danh kế toán trưởng thì phải cử người phụ trách kế toán để giao dịch với khách hàng, ngân hàng, chữ ký kế toán trưởng được thay bằng chữ ký của người phụ trách kế toán của đơn vị đó. Người phụ trách kế toán phải thực hiện đúng nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền quy định cho kế toán trưởng.

Chữ ký của người đứng đầu doanh nghiệp (Giám đốc) hoặc người được uỷ quyền, của kế toán trưởng (hoặc người được uỷ quyền) và dấu đóng trên chứng từ phải phù hợp với mẫu dấu và chữ ký còn giá trị đã đăng ký tại ngân hàng. Chữ ký của kế toán viên trên chứng từ phải giống chữ ký đã đăng ký trong “Sổ đăng ký mẫu chữ ký của doanh nghiệp”.

Kế toán trưởng (hoặc người được uỷ quyền) không được ký “thừa uỷ quyền” của người đứng đầu doanh nghiệp. Người được uỷ quyền không được uỷ quyền lại cho người khác.

Các doanh nghiệp phải mở sổ đăng ký mẫu chữ ký của thủ quỹ, thủ kho, các nhân viên kế toán, kế toán trưởng (và người được uỷ quyền), Giám đốc (và người được uỷ quyền). Sổ đăng ký mẫu chữ ký phải đánh số trang, đóng dấu giáp lai do Thủ trưởng đơn vị (hoặc người được uỷ quyền) quản lý để tiện kiểm tra khi cần. Mỗi người phải ký ba chữ ký mẫu trong sổ đăng ký.

Không được ký chứng từ kế toán khi chưa ghi hoặc chưa ghi đủ nội dung chứng từ theo trách nhiệm của người ký.

Việc phân cấp ký trên chứng từ kế toán do Giám đốc doanh nghiệp quy định phù hợp với luật pháp, yêu cầu quản lý, đảm bảo kiểm soát chặt chẽ, an toàn tài sản.

Trình tự luân chuyển chứng từ kế toán

- Trình tự và thời gian luân chuyển chứng từ kế toán do kế toán trưởng đơn vị quy định. Chứng từ gốc do đơn vị lập ra hoặc từ bên ngoài vào đều phải tập trung vào bộ phận kế toán đơn vị. Bộ phận kế toán phải kiểm tra kỹ những chứng từ đó và chỉ sau khi kiểm tra và xác minh là đúng thì mới dùng những chứng từ đó để ghi sổ kế toán.

- Trình tự luân chuyển chứng từ kế toán bao gồm các bước sau:

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà đông + Lập chứng từ kế toán và phản ánh các nghiệp vụ kinh tế, tài chính vào chứng từ;

+ Kiểm tra chứng từ kế toán ;

+ Ghi sổ kế toán;

+ Lưu trữ, bảo quản chứng từ kế toán.

Kiểm tra chứng từ kế toán, gồm:

- Kiểm tra tính rõ ràng, trung thực, đầy đủ của các chỉ tiêu, phản ánh trên chứng từ;

- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh;

- Kiểm tra tính chính xác của số liệu, thông tin trên chứng từ kế toán;

- Kiểm tra việc chấp hành qui chế quản lý nội bộ của những người lập, kiểm tra, xét duyệt đối với từng loại nghiệp vụ kinh tế.

Khi kiểm tra chứng từ kế toán nếu phát hiện có hành vi vi phạm chính sách, chế độ, thể lệ kinh tế, tài chính của Nhà nước và đơn vị, phải từ chối thực hiện (xuất quỹ, thanh toán, xuất kho...), đồng thời báo ngay cho Giám đốc và kế toán trưởng đơn vị biết để xử lý kịp thời theo pháp luật hiện hành.

Đối với những chứng từ kế toán lập không đúng thủ tục, nội dung và con số không rõ ràng, thì người chịu trách nhiệm kiểm tra hoặc ghi sổ phải trả lại hoặc báo cho nơi lập chứng từ biết để làm lại, làm thêm thủ tục và điều chỉnh, sau đó mới dùng làm căn cứ ghi sổ.

Dịch chứng từ kế toán ra tiếng Việt

Các chứng từ kế toán ghi bằng tiếng nước ngoài, khi sử dụng để ghi sổ kế toán ở Việt Nam phải được dịch ra tiếng Việt. Những chứng từ ít phát sinh hoặc nhiều lần phát sinh nhưng có nội dung không giống nhau thì phải dịch toàn bộ nội dung chứng từ kế toán. Những chứng từ phát sinh nhiều lần, có nội dung giống nhau thì bản đầu phải dịch toàn bộ, từ bản thứ hai trở đi chỉ dịch những nội dung chủ yếu như: Tên chứng từ, tên đơn vị và cá nhân lập, tên đơn vị và cá nhân nhận, nội dung kinh tế của chứng từ, chức danh của người ký trên chứng từ... Người dịch phải ký, ghi rõ họ tên và chịu trách nhiệm về nội dung dịch ra tiếng Việt. Bản chứng từ dịch ra tiếng Việt phải đính kèm với bản chính bằng tiếng nước ngoài.

Lưu trữ chứng từ kế toán

- Chứng từ kế toán đã sử dụng phải được sắp xếp, phân loại, bảo quản và lưu trữ theo quy định của chế độ lưu trữ chứng từ, tài liệu kế toán của Nhà nước.

Thời hạn lưu giữ chứng từ kế toán Xem quy định tại đây: Thời gian lưu trữ chứng từ kế toán, hóa đơn

- Mọi trường hợp mất chứng từ gốc đều phải báo cáo với Giám đốc và kế toán trưởng đơn vị biết để có biện pháp xử lý kịp thời. Riêng trường hợp mất hoá đơn bán hàng, biên lai, séc trắng phải báo cáo cơ quan thuế hoặc cơ quan công an địa phương số lượng hoá đơn mất, hoàn cảnh bị mất để có biện pháp xác minh, xử lý theo luật pháp. Đồng thời phải sớm có biện pháp thông báo và vô hiệu hoá chứng từ bị mất.

Quy định về sử dụng và quản lý biểu mẫu chứng từ kế toán

Trung tâm kế toán tổng hợp Tại hà nam Tất cả các doanh nghiệp đều phải sử dụng thống nhất mẫu chứng từ kế toán quy định trong chế độ kế toán này. Trong quá trình thực hiện, các doanh nghiệp không được sửa đổi biểu mẫu chứng từ thuộc loại bắt buộc.

Mẫu chứng từ in sẵn phải được bảo quản cẩn thận, không được để hư hỏng, mục nát. Séc và giấy tờ có giá phải được quản lý như tiền.

Biểu mẫu chứng từ kế toán bắt buộc do Bộ Tài chính hoặc đơn vị được Bộ Tài chính uỷ quyền in và phát hành. Đơn vị được uỷ quyền in và phát hành chứng từ kế toán bắt buộc phải in đúng theo mẫu quy định, đúng số lượng được phép in cho từng loại chứng từ và phải chấp hành đúng các quy định về quản lý ấn chỉ của Bộ Tài chính.

Đối với các biểu mẫu chứng từ kế toán hướng dẫn, các doanh nghiệp có thể mua sẵn hoặc tự thiết kế mẫu, tự in, nhưng phải đảm bảo các nội dung chủ yếu của chứng từ quy định tại Điều 17 Luật Kế toán.

In và phát hành biểu mẫu chứng từ kế toán

- Các doanh nghiệp khi in biểu mẫu chứng từ thuộc loại chứng từ kế toán bắt buộc phải theo đúng nội dung thiết kế biểu mẫu quy định trong chế độ này.

Biểu mẫu chứng từ kế toán là các loại hoá đơn, phiếu xuất, bảng kê,... liên quan đến việc tính thuế do Bộ Tài chính  thống nhất phát hành. Đơn vị nào có nhu cầu tự in phải được Bộ Tài chính (Tổng cục thuế) chấp thuận bằng văn bản trước khi thực hiện và phải đăng ký số chứng từ theo sê-ri của Bộ Tài chính.

- Chứng từ kế toán có thể được in bằng 2 thứ tiếng: Tiếng Việt và tiếng nước ngoài. Các nhà in không được tự động thay đổi nội dung các biểu mẫu, không được nhận in các biểu mẫu chứng từ kế toán trái với quy định trong chế độ này.

- Đối với hóa đơn: trước khi đưa vào sử dụng phải làm thông báo phát hành hóa đơn gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất là 5 ngày trước khi sử dụng.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận hoàn kiếm Tổng hợp


Read More Add your Comment 0 nhận xét


7 sai lầm cần tránh nếu muốn thành công trong nghề kế toán



Dù bạn trong bất kì ngành nghề nào cũng vậy, không ít lần bạn mắc phải những lỗi cơ bản đền những sai lầm lớn hơn. Đặc biệt đối với nghề kế toán, hầu như chỉ tiếp xúc với những con số rất nhạy cảm chỉ cần “đi một li, sai một dặm”, chính vì lý do đó, 7 sai lầm lớn cần tránh trong nghề kế toán sẽ giúp các bạn tránh được những sai lầm ấy trong công tác kế toán.



1. Đối với hóa đơn :

Khi mua hoá đơn, giấy giới thiệu (GGT):

- Không ghi rõ đến cơ quan thuế để mua hoá đơn (chỉ ghi chung chung đến liên hệ công tác…)

- Các chỉ tiêu như số giấy giới thiệu, ngày, họ tên và chức vụ người được cử đi, tên chữ ký của người ĐDPL, đóng đấu …… không rõ ràng.

Nhân viên đến mua hoá đơn :

- Không mang theo CMND.( Người được giới thiệu )

- Khi gần hết giờ hành chánh mới đến liên hệ mua hoá đơn.

- Cử người không hiểu biết về hoá đơn chứng từ (như bảo vệ, tạp vụ, nhân viên trực điện thoại…) đi mua hoá đơn.

- Không đem theo Phiếu theo dõi tình hình cấp phát hóa đơn.

- Không lập báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn ở ký gần nhất.

- Chưa chuẩn bị con dấu khắc Tên DN , Mã số thuế ) để đóng trên liên 2 Sử dụng hoá đơn.

Khi mua hàng:

- Không nhận hoá đơn tại nơi xuất hàng mà nhận hoá đơn do người bán đem đến (dễ bị nhận hoá đơn giả).

Khi xuất hàng:

- Không xuất hoá đơn GTGT đối với Hàng hóa Xuất khẩu .

- Không xuất hoá đơn đối với doanh thu hàng uỷ thác xuất khẩu.

- Không lót giấy carbon giữa các liên.

- Thiếu chữ ký người mua trên hoá đơn.

- Không ghi thuế suất thuế GTGT .

Báo cáo sử dụng hoá đơn, Không lập báo cáo sử dụng hoá đơn theo định kỳ.( Tháng , Quý , Năm ) Các bảng kê hoá đơn bán ra , mua vào:

- Ghi không đầy đủ cột mục theo qui định.

- Cột ngày chứng từ ghi không theo đúng định dạng 30/01/2002 (ghi sai là 01/30/2002 hoặc 30-Jan-02, 2002-01-30 v.v…)

- Trong bảng kê HHDV bán ra không ghi đúng thứ tự số hoá đơn đã sử dụng, không kê hoá đơn đã huỹ vào bảng kê, đồng thời cũng dễ bị kê khai trùng nhiều lần cho cùng một hoá đơn.

- Không lập bảng kê riêng đối với hàng hoá bán ra không chịu thuế GTGT (như hàng đại lý bán đúng giá)

- Trong bảng kê hoá đơn mua vào không lập bảng kê riêng đối với những hàng hoá dịch vụ phục vụ cho sản xuất, hàng không chịu thuế GTGT.

2. Đối với kê khai thuế :

Kê khai thuế GTGT hàng tháng:

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận đống đa - Thiếu chỉ tiêu 5 (dòng thuế GTGT được khấu trừ)

- Nhầm lẫn giữa các dòng làm sai lệch nội dung của tờ khai.

- Nhân viên kế toán làm cho nhiều công ty khác nhau, khi lập tờ khai bằng máy tính quên thay đổi mã số thuế, tên công ty, địa chỉ …. của công ty.

- Gộp doanh thu và thuế đầu ra của nhiều thuế suất ghi chung vào một dòng.

- Không tính gộp cả doanh thu của HHDV không chịu thuế GTGT vào chỉ tiêu 1.

- Cấn trừ số thuế phát sinh âm kỳ này với nợ thuế GTGT chưa nộp của kỳ trước.

- Tính vào số thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá nhập khẩu theo thông báo của Hải Quan, trong khi chưa nộp thuế GTGT hàng nhập khẩu đó.

- Kê khai khấu trừ 3% đối với hàng hoá không thuộc diện chịu thuế GTGT, hoặc hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB nhưng mua về không phải để bán ra.

Không tách riêng bảng kê Hàng hóa DV mua vào có hóa đơn bán hàng được khấu trừ tỷ lệ 3% . Kê khai thuế thu nhập cá nhân hàng tháng đã chặn trừ tại nguồn :

- Hàng tháng đã chặn trừ thuế thu nhập của người lao động nhưng chiếm dụng không kê khai và nộp vào ngân sách kịp thời đúng theo qui định của pháp lệnh thuế thu nhập.

Những đơn vị có nộp thuế TNCN của người nước ngoài, không lập riêng tờ khai hoặc đã kê khai lẫn lộn giữa người VN với người nước ngoài. Kê khai thuế Thu nhập doanh nghiệp hàng năm :

- Không chủ động kê khai đúng thời gian theo qui định của Luật thuế, bị cơ quan thuế nhắc nhở, xử phạt hành chánh.

- Đơn vị tính : Nội dung số liệu không tương ứng với đơn vị tính đã ghi bên trên biểu mẫu.

- Không ghi đầy đủ các khoản chi phí theo đúng mẫu qui định.

3. Đối với quyết toán thuế GTGT năm

Dòng thuế phải nộp ghi tổng số thuế đầu ra, và dòng thuế đã nộp ghi tổng thuế GTGT đầu vào. Dòng thuế đã nộp năm quyết toán : Ghi sai là số đã nộp cho năm báo cáo (bao gồm cả thuế đã nộp vào tháng 1 năm sau nộp cho tháng 12 năm trước). Đúng ra là số đã thực nộp trong năm báo cáo (bao gồm những chứng từ nộp từ ngày 1/1 đến 31/12 của năm báo cáo, không phân biệt nộp cho năm báo cáo hay truy nộp cho các năm trước).

4. Đối với nộp thuế :

- Ghi nhầm tên người nộp là tên cá nhân đi nộp tiền (Phải ghi tên pháp nhân Doanh nghiệp ).

- Không nắm rõ các qui định về thời hạn nộp thuế của từng sắc thuế để chủ động nộp trước ngày hết hạn, bị cơ quan thuế nhắc nộp và bị phạt nộp chậm.

- Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước : Không ghi rõ tài khoản của cơ quan thuế trên giấy nộp tiền, thiếu quan tâm ý nghĩa của những mã hiệu mục lục ngân sách nhà nước có liên quan (cấp, chương, loại, khoản, muc, tiểu mục) để ghi cho đúng.

- Khi phát sinh khoản phải nộp (không thuộc các loại thuế thông thường) đã không lập tờ khai nộp cho cơ quan thuế,

5. Đối với hồ sơ báo cáo quyết toán thuế :

- Không thiết lập đầy đủ hồ sơ về tài sản cố định, mua sắm TSCĐ không có hoá đơn hợp lệ. – Thiếu bảng đăng ký tiền lương; hạch toán chi phí tiền lương nhưng thiếu hợp đồng lao động; bảng lương không có người ký nhận.

- Thiếu bảng kê hồ sơ quyết toán thuế (liệt kê danh sách hồ sơ đính kèm theo nhằm tránh thất lạc).

- Doanh nghiệp được thụ hưởng chế độ miễn giảm do ưu đãi đầu tư nhưng quên hoặc không biết cách hạch toán và báo cáo quyết toán với cơ quan thuế; hoặc chờ cơ quan thuế đến kiểm tra để xác định số thuế được miễn giảm.

6. Đối với hạch toán kế toán:

- Ngay sau khi lập đề nghị hoàn thuế GTGT, doanh nghiệp đã không hạch toán làm giảm số dư nợ, không hạch toán đồng thời vào tài khoản phải thu phải trã, mà vẫn để số thuế nầy được tiếp tục khấu trừ cho kỳ sau.

Trung tâm kế toán tổng hợp Tại thái bình - Ngay sau khi nhận được quyết định xử lý, xử phạt… của cơ quan thuế, doanh nghiệp không thực hiện hạch toán ngay vào sổ sách kế toán hiện hành, làm số dư các tài khoản thanh toán với ngân sách khác biệt với số liệu của cơ quan thuế.

- Sổ sách kế toán áp dụng máy vi tính : Định kỳ hàng tháng không in ra toàn bộ sổ sách phát sinh; sổ đã in ra không có số trang, không có giám đốc và kế toán trưởng ký; không tự đóng dấu giáp lai.

7. Đối với đăng ký thuế:

- Thay đổi kế toán trưởng, địa chỉ kinh doanh , tài khoản và ngân hàng , điện thoại, fax, e-mail…. không đăng ký với cơ quan thuế.

- Hoàn thuế GTGT

- Hồ sơ chứng minh hàng xuất khẩu :

- Không thuyết minh sự sai biệt giữa hoá đơn và tờ khai Hải quan; giữa hoá đơn và chứng từ thanh toán.

- Thiếu chứng từ thanh toán hợp pháp đối với hàng xuất khẩu .

- Không có xác nhận của Hải quan tại ô 47 của tờ khai Hải quan .

- Văn thư đề nghị hoàn thuế (mẫu 10/GTGT) không xác định mình thuộc đối tượng cụ thể nào được hoàn thuế (xuất khẩu hay âm luỹ kế 3 tháng v.v…).

- Bảng kê khai tổng hợp số thuế phát sinh đề nghị hoàn không khớp với số thuế GTGT đã kê khai hàng tháng (phải điều chỉnh lại số liệu đã kê khai nhầm trước khi lập hồ sơ hoàn thuế).

Trên đây là 7 sai lầm lớn cần tránh trong nghề kế toán. Hy vọng các bạn có thể rút kinh nghiệm cho bản thân và tránh mắc phải những sai lầm này.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại huyện gia lâm Theo Webketoan


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hướng dẫn mới nhất về hoàn thuế Giá trị gia tăng



Vừa qua Bộ Tài chính ban hành Công văn 18832/BTC-TCT sửa đổi Công Văn số: 10492/BTC-TCT và Công văn 13822/BTC-TCT về quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng. Công văn nêu rõ “ Ưu tiên chi hoàn thuế giá trị gia tăng cho doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu có doanh số năm trước liền kề hoặc năm hiện tại chiếm tỷ trọng từ 51% trở lên trong tổng doanh thu bán hàng hóa dịch vụ trên tờ khai thuế gia trị gia tăng”.


Trung tâm đào tạo kế toán tổng hợp Tại minh khai hai bà trưng
Đồng thời, quy định thủ tục kê khai, hoàn thuế giá trị gia tăng như sau:
Đối với doanh nghiệp trụ sở chính:
Lập hồ sơ đề nghị hoàn thuế kèm theo Bảng kê số thuế GTGT còn phải nộp, còn nợ của Trụ sở chính và chi nhánh để thực hiện bù trừ đối với số thuế GTGT đủ điều kiện hoàn thuế.

Đối với chi nhánh thực hiện kê khai:
Nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, đáp ứng đầy đủ các điều kiện về khấu trừ, hoàn thuế GTGT theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng và pháp luật về quản lý thuế;
Phải được doanh nghiệp trụ sở chính ủy quyền bằng văn bản theo quy định của pháp luật.
Gửi kèm Bảng kê số thuế còn phải nộp, còn nợ của Trụ sở chính, các chi nhánh và đề nghị bù trừ giữa các đơn vị với số thuế GTGT đề nghị hoàn.
dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà đông
Về thời hạn giải quyết
Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ đề nghị hoàn thuế, cơ quan Thuế trực tiếp quản lý NNT đề nghị hoàn thuế phải gửi văn bản cho cơ quan Thuế trực tiếp quản lý NNT có số thuế còn phải nộp, còn nợ thuế để đề nghị xác nhận tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghệp. Chậm nhất không quá 2 ngày cơ quan thuế phải thực hiện công việc trên.


Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận hoàn kiếm
MISA


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Những lợi nhuận mà mô hình kế toán nội bộ tập tring đem lại cho Kho bạc nhà nước Đắk Nông



 Mô hình kế toán nội bộ tập trung (KTNBTT) được triển khai tại Kho bạc Nhà nước (KBNN) Đắk Nông đến nay đã được 1 năm, đem lại nhiều thuận lợi trong xử lý công việc cũng như hiệu quả về nguồn nhân lực, tiết kiệm thời gian.


Trung tâm kế toán thực hành Tại vũng tàu Hoạt động nghiệp vụ tại KBNN Đăk Nông.

Chất lượng công tác quản lý tài chính được nâng cao

Báo cáo từ KBNN Đắk Nông cho biết, việc thực hiện KTNBTT đã giúp cho công tác lập dự toán năm 2016 và chấp hành dự toán, lập báo cáo quyết toán quý năm 2015 được tập trung thực hiện tại trụ sở Kho bạc tỉnh một cách nhanh chóng, chính xác, đảm bảo thời gian quy định, tạo thuận lợi trong việc cung cấp thông tin liên quan cho các cấp lãnh đạo cũng như các yêu cầu quản lý khác.

Đặc biệt, việc thực hiện KTNBTT đã giúp cho chất lượng công tác quản lý tài chính được nâng cao. Điều này được thể hiện qua việc hồ sơ chứng từ các khoản thanh toán cá nhân, chi thường xuyên đều được kiểm soát chặt chẽ, thống nhất, đúng quy trình, quy định. Do đó, mọi sai sót đều được phát hiện kịp thời và hạch toán chính xác vào chương trình kế toán nội bộ (chi tiết đến từng nội dung, đơn vị) lưu trữ tại KBNN tỉnh, giúp cho các yêu cầu về thanh tra, kiểm tra luôn được đáp ứng một cách nhanh nhất.

Bên cạnh đó, KTNBTT còn mang lại nhiều hiệu quả về nguồn nhân lực. Đơn cử, tại Phòng Tài vụ KBNN tỉnh, chỉ cần 1 trưởng phòng và 3 kế toán viên nhưng công việc luôn được tổ chức, sắp xếp một cách khoa học, chuyên nghiệp. Tại KBNN các huyện, do đã được KBNN tỉnh hướng dẫn cách thức, quy định thống nhất hồ sơ, thủ tục nên các khoản chi đều được thực hiện khá đơn giản. Ngoài ra, thực hiện KTNBTT, các KBNN huyện không còn quỹ tiền mặt, không phải thực hiện nhiệm vụ của đơn vị dự toán như lập dự toán, chấp hành dự toán, lập báo cáo quyết toán, thực hiện tự kiểm tra, phục vụ công tác thanh kiểm tra… Chính vì vậy, việc bố trí cán bộ kiêm nhiệm công tác tài vụ không đòi hỏi quá cao, từ đó giúp cho công tác phân công, luân phiên cán bộ được linh hoạt, đơn giản hơn.

Đề xuất tháo gỡ vướng mắc

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà đông Cũng theo báo cáo từ KBNN Đắk Nông, mặc dù KTNBTT đã mang lại nhiều kết quả tích cực, nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn gặp một số vướng mắc như: Quá trình khai thác, ứng dụng các phân hệ trên phần mềm KTNBTT còn nhiều giao diện, ứng dụng chưa phù hợp, còn nhầm lẫn và làm mất dữ liệu khi khai thác; hay như việc xử lý nghiệp vụ mới phát sinh trong công tác hạch toán kế toán mà văn bản hướng dẫn chưa thể thực hiện một cách chính xác. Và một vướng mắc nữa là việc phân quyền mua sắm công cụ, dụng cụ lâu bền, sửa chữa tài sản cố định cho các KBNN huyện thực hiện khi nghiệp vụ này phát sinh một cách thường xuyên…

Từ yêu cầu thực tiễn và  kinh nghiệm của các đơn vị đã triển khai trước, KBNN Đắk Nông đã đưa ra đề xuất nên giao cho lãnh đạo KBNN cấp tỉnh và các KBNN huyện thực hiện mua sắm công cụ, dụng cụ lâu bền, sửa chữa tài sản cố định ở mức phát sinh thường xuyên để duy trì tính chủ động cũng như đảm bảo phục vụ kịp thời các yêu cầu hoạt động tại các KBNN huyện trực thuộc, đồng thời tiết kiệm được chi phí vận chuyển tài sản từ tỉnh về các đơn vị.

Bên cạnh đó, nên thực hiện phân công nhiệm vụ cho công chức theo hướng, vừa phân công đảm nhiệm theo lĩnh vực, đồng thời phân công quản lý, kiểm soát theo đơn vị. Sự phân công này tạo điều kiện cho mỗi cá nhân nắm bắt được toàn bộ các nghiệp vụ liên quan theo diện rộng, nhưng vẫn có điều kiện chuyên môn hóa sâu hơn trong lĩnh vực chính mình được phân công.

KBNN Đắk Nông đã nghiên cứu ban hành văn bản thống nhất bộ biểu mẫu về bảng chấm công, đề nghị thanh toán các khoản chi về cá nhân; bộ biểu mẫu về hồ sơ thanh toán từng nội dung chi theo yêu cầu quản lý. Điều này đã hạn chế tối đa sự tùy tiện trong việc cung cấp và tính toán số liệu trong các bảng tính của các đơn vị, tạo sự thống nhất cao, giúp cho việc tổng hợp nhanh, chính xác và hướng đến sự công bằng, khắc phục sự chậm trễ do luân chuyển chứng từ lên xuống nhiều lần.

Dịch vụ làm báo cáo tài chính tại quận ba đình Theo thoibaotaichinhvietnam


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Cần thiết cho cả doanh nghiệp lẫn người hành nghề



Ngày mai 21-4, Hội Kế toán Đồng Nai tổ chức đại hội lần thứ nhất. Phóng viên  đã có cuộc trao đổi với ông Trần Ngọc Hoàng (ảnh), Trưởng ban vận động thành lập Hội Kế toán Đồng Nai.



dịch vụ dọn dẹp sổ sách kế toán
 Ông đánh giá ra sao về tình hình hoạt động trong lĩnh vực kế toán ở Đồng Nai hiện nay?

- Đồng Nai là tỉnh phát triển rất mạnh về công nghiệp, dịch vụ với trên 17 ngàn doanh nghiệp (DN) thuộc mọi thành phần kinh kế, chưa kể các đơn vị hành chính sự nghiệp, từ đó có một lực lượng kế toán rất đông. Tuy nhiên, đội ngũ những người đang làm công tác này chưa được tập hợp lại, còn tản mạn, dẫn đến chất lượng nghiệp vụ cung cấp chưa đồng đều, đôi lúc làm mất uy tín cho cả những đơn vị hoạt động tốt. Hơn nữa, còn gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý nhà nước (thuế) và DN.

 Thời gian qua có nhiều DN “khóc dở mếu dở” vì tình trạng “kế toán dạo” tràn lan, làm nghề nhưng không ràng buộc trách nhiệm khi cần. Theo ông sau khi thành lập, Hội có cải thiện được vấn đề này?

- Đúng là có việc nhiều DN nhỏ đã rơi vào tình trạng bị truy thu thuế đến mức chóng mặt, một trong những nguyên nhân cơ bản là do sử dụng dịch vụ kế toán dạo (kế toán tự do). Thực trạng là ở các DN hành nghề dịch vụ kế toán hợp pháp hàng năm được tổ chức tập huấn cập nhật chính sách mới thường xuyên nên làm khá chắc tay. Còn những người làm kế toán tự do, vì không được cập nhật bài bản, chu đáo dẫn đến rủi ro, sai sót đương nhiên phải có, từ đó dễ rơi vào tình trạng khi cơ quan thuế kiểm tra sẽ bị truy thu, phạt... lúc đó trách nhiệm rơi vào hết chủ DN.

Nhân viên kế toán còn được ví như “bác sĩ”, luôn biết được sức khỏe tài chính thực sự của DN, vì vậy rất cần có nghiệp vụ tốt. Mục đích của Hội khi đi vào hoạt động cũng là để góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán cho các hội viên trong lĩnh vực này.

Trung tâm kế toán tổng hợp Tại minh khai hai bà trưng  Thời điểm này mới vận động thành lập Hội, theo ông có muộn không?

- Theo tôi, đúng ra Hội phải được thành lập cách đây 10 năm trước. Tuy nhiên, phải thấy rằng thời điểm này là rất chín mùi cho sự ra đời của Hội kế toán Đồng Nai. Bởi đội ngũ kế toán hiện rất đông đảo và phong phú, ít nhất cũng đã có trên 20 ngàn kế toán viên, phần lớn họ rất mong có một “sân chơi” thiết thực và hiệu quả để giao lưu, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau về chuyên môn. Đây có thể coi là điều kiện cần.

Mặt khác, thực tế ở tỉnh hiện nay có hơn 10 công ty đang hành nghề hợp pháp thuộc các lĩnh vực về kế toán, kiểm toán và tư vấn thuế với hàng chục chuyên gia đã có bằng kiểm toán viên, kế toán viên và tư vấn thuế. Bên cạnh đó, còn có hàng trăm lao động có trình độ sau đại học thuộc chuyên ngành kế toán tài chính đang công tác tại các trường đại học, cơ quan nhà nước, các tập đoàn, công ty lớn trên địa bàn tỉnh. Đây chính là điều kiện đủ, nếu thành lập Hội Kế toán thì lực lượng này sẽ đóng vai trò trung tâm, hạt nhân trong Hội tạo ra sức hút thuyết phục đối với những người làm công tác kế toán khác. Vì vậy, việc thành lập Hội Kế toán tại thời điểm này là rất cần thiết.

 Xin cảm ơn ông!

Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận hoàng mai Theo Báo Đồng Nai


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Cạnh tranh không lành mạnh sẽ bị phạt đến 200 triệu



Từ ngày 15-9, cá nhân và tổ chức có hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh khác sẽ bị phạt lần lượt là 100 triệu đồng và 200 triệu đồng.

Người tiêu dùng sẽ bị ảnh hưởng quyền lợi nếu thị trường có sự cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp.


Trung tâm kế toán thực hành Tại nam định
Đây là một trong những nội dung được quy định tại Nghị định 71/2014/NĐ-CP ngày 21-7-2014 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.

Theo Nghị định này, doanh nghiệp cũng sẽ bị phạt tiền đến 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc từng doanh nghiệp thuộc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đối với hành vi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh.

Ngoài việc bị phạt tiền theo quy định nêu trên, doanh nghiệp vi phạm các quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: Tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm; buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng hoặc giao dịch kinh doanh liên quan; buộc cơ cấu lại doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường.
dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà đông
Trong lĩnh vực quảng cáo, khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, Nghị định nêu rõ, phạt tiền từ 60-80 triệu đồng đối với hành vi quảng cáo: So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác; bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng.

Hành vi quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong các nội dung: Giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng… sẽ bị phạt tiền từ 80 đến 140 triệu đồng. Hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh cũng sẽ bị phạt tiền từ 60- 80 triệu đồng.

Đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh nêu trên, trong trường hợp quy mô tổ chức khuyến mại thuộc phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên sẽ bị phạt tiền từ 80-100 triệu đồng.

Cũng theo Nghị định, hành vi trả cho người tham gia bán hàng đa cấp tổng giá trị hoa hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế khác trong một năm vượt quá 40% doanh thu bán hàng đa cấp trong năm đó của doanh nghiệp bán hàng đa cấp thì sẽ bị phạt tiền từ 40-60 triệu đồng.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận hoàn kiếm Nguồn Báo Hải Quan


Read More Add your Comment 1 nhận xét


Bàn giải pháp giám sát hàng hóa XNK tại cảng biển TP.HCM



Ngày 3-9, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Vũ Ngọc Anh đã chủ trì cuộc họp với Cục Hải quan TP.HCM và các đơn vị kinh doanh cảng biển TP.HCM về việc thí điểm triển khai công tác giám sát hải quan theo mô hình mới quy định tại Luật Hải quan.


Hàng hóa ra vào cảng Cát Lái TP.HCM.

Tham dự cuộc họp có đại diện một số đơn vị thuộc Tổng cục Hải quan, lãnh đạo Cục Hải quan TP.HCM, lãnh đạo các chi cục hải quan cửa khẩu cảng biển và đại diện một số cảng biển TP.HCM.

Theo Tổng cục Hải quan, thời gian qua, việc thực hiện công tác giám sát hải quan theo quy định tại Thông tư 22/2014/TT-BTC tại các khu vực cửa khẩu cảng biển đã dần ổn định. Để phù hợp với thực tế và và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XNK, đồng thời đảm bảo công tác quản lý hải quan, ngày 29-8, Tổng cục Hải quan đã ban hành Quyết định số 2575/QĐ-TCHQ ngày 29-8-2014 về quy trình giám sát hải quan tại khu vực cảng biển. Đây là tiền đề để chuẩn bị triển khai thực hiện Luật Hải quan vừa được Quốc hội thông qua.

Tuy nhiên, để triển khai Luật Hải quan một cách hiệu quả nhất vào đầu năm 2015, tại buổi làm việc, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Vũ Ngọc Anh mong muốn phối hợp với các công ty kinh doanh, khai thác cảng biển tại TP.HCM để thí điểm triển khai trước một số nội dung, với mục tiêu cùng nhau giảm thủ tục, thời gian giám sát đối với hàng hóa XNK tại cửa khẩu cảng biển, tạo thuận lợi nhất cho hoạt động XNK của doanh nghiệp, nhưng vẫn đảm bảo hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp kinh doanh cảng và công tác quản lý của cơ quan Hải quan.

Trung tâm đào tạo kế toán thực hành Tại bình dương
Theo Phó Tổng cục trưởng Vũ Ngọc Anh, hiện nay các cảng lớn tại phía Nam đều có hệ thống giám sát quản lý khá tốt, trong đó, có một số cảng đã có sự liên kết với cơ quan Hải quan trong công tác khai thác thông tin trong công tác giám sát. Tuy nhiên, việc triển khai ứng dụng còn mạnh ai nấy làm, chính vì thế, trong thời gian này cần cách kết nối như thế nào để có hiệu quả cao nhất khi triển khai Luật Hải quan.

Tại cuộc họp, đại diện các công ty kinh doanh, khai thác cảng biển và các chi cục hải quan cửa khẩu TP.HCM đều nhất trí cao với mục tiêu là thực hiện tốt công tác giám sát hàng hóa XNK, tạo thuận lợi nhất cho doanh nghiệp khi Luật Hải quan có hiệu lực, tuy nhiên phải có lộ trình và sự phối hợp, phân rõ trách nhiệm của từng đơn vị có liên quan.

Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cảng Sài Gòn khu vực 1 Võ Minh Tuấn cho rằng, từ trước đến nay công tác giám sát hàng hóa XNK tại cảng Cát Lái được thực hiện rất hiệu quả nhờ sự phối hợp rất tốt với Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn.

Hiện đơn, đơn vị đang thực hiện giám sát theo chương trình phần TOP X khai thác cùng với Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn. Theo đó, công chức hải quan không phải thực hiện giám sát trực tiếp đối với container hàng XK tại cổng cảng. Tại bộ phận Văn phòng Giám sát hàng XK, tiếp nhận hồ sơ hải quan lô hàng XK do người khai hải quan xuất trình sau khi đã tập kết hàng ở trong cảng, gồm: tờ khai VNACCS, phiếu hạ bãi của doanh nghiệp kinh doanh cảng. Đối với việc giám sát hàng nhập khẩu ra cổng cảng, quy trình bao gồm 2 bước, quy định chi tiết các chứng từ, đối với doanh nghiệp và cơ quan Hải quan, đảm bảo giám sát chặt chẽ hàng hóa ra khỏi cảng.

Điểm nổi trội của chương trình giám sát TOP X, tất cả các thông tin liên quan đến các lô hàng XK, NK ra vào cảng đều được cập nhật trên phần mềm của hệ thống này và được nối mạng giữa cơ quan Hải quan và Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn.

Tuy nhiên, theo Phó Chi cục trưởng Võ Minh Tuấn, từ phần mềm giám sát này cần làm rõ, công việc nào của Hải quan và công việc nào của cơ quan cảng cần làm rõ. Hiện nay đã giảm được công chức giám sát cổng, cần duy trì và phát triển, đồng thời có khai trên tờ khai hải quan về số container sẽ giảm được thời gian giám sát đối với hàng hóa XNK…

Ông Huỳnh Trung Kiên, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cảng Sài Gòn khu vực 2 cho biết, ngoài việc quan tâm đến việc giảm thủ tục hải quan trong khâu giám sát đối với hàng hóa XNK container, đề nghị Tổng cục Hải quan cũng quan tâm đến việc giám sát đối với loại hình đặc thù là hàng hóa XNK dạng xá, bởi thời gian làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu một lô hàng có thể kéo dài rất lâu…

Về phía các doanh nghiệp kinh doanh, khai thác cảng biển rất đồng tình với mục tiêu hiện đại hóa và cải cách thủ tục đối với khâu giám sát hàng hóa XNK của ngành Hải quan. Đại diện cảng Hiệp Phước và Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn cho biết, hiện nay các cảng đã đầu tư trang bị hệ thống phần mềm, máy móc giám sát rất hiện đại, sẵn sàng tham gia các chương trình kết nối của cơ quan Hải quan nhưng phải có lộ trình, thời gian cụ thể, hướng đến mục tiêu là quản lý chặt chẽ hàng hóa bằng công nghệ quản lý hiện đại.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận đống đa
Tổng cục Hải quan đã ghi nhận các ý kiến của các đại biểu tham dự tại cuộc họp, trong tuần tới đoàn công tác của Tổng cục Hải quan sẽ có kế hoạch làm việc với từng chi cục hải quan và doanh nghiệp kinh doanh cảng biển tại TP.HCM để bàn biện pháp cụ thể.

Điều 41 Luật Hải quan 2014 quy định trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi trong hoạt động giám sát hải quan:

1. Bố trí địa điểm để lắp đặt phương tiện, thiết bị kỹ thuật phục vụ giám sát hải quan theo yêu cầu của cơ quan hải quan.

2. Kết nối hệ thống thông tin quản lý hàng hóa của doanh nghiệp với hệ thống thông quan điện tử của cơ quan hải quan để quản lý hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan đưa vào lưu giữ, đưa ra khỏi khu vực cảng, kho, bãi.

3. Thực hiện đầy đủ chế độ quản lý, thống kê, lưu giữ chứng từ, sổ sách, số liệu hàng hóa đưa vào lưu giữ, đưa ra khỏi khu vực cảng, kho, bãi theo quy định của pháp luật và xuất trình, cung cấp cho cơ quan hải quan khi có yêu cầu.

4. Cung cấp thông tin và phối hợp với cơ quan hải quan trong việc theo dõi, kiểm tra, giám sát hàng hóa ra, vào, lưu giữ tại khu vực cảng, kho, bãi.

5. Bảo quản, sắp xếp, lưu giữ nguyên trạng hàng hóa trong khu vực cảng, kho, bãi theo yêu cầu giám sát, quản lý của cơ quan hải quan.

6. Chỉ cho phép vận chuyển hàng hóa ra, vào khu vực cảng, kho, bãi khi có chứng từ của cơ quan hải quan.

7. Thực hiện quyết định của cơ quan có thẩm quyền về xử lý hàng hóa vi phạm.


Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận long biên
Nguồn Báo Hải Quan


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Nguy cơ mất việc khi Luật thuế sửa đổi



Theo dự thảo luật kế toán sửa đổi, các cá nhân sẽ không được làm nghể kế toán độc lập. Theo đại biểu Hoàng Thanh Tùng (Sóc Trăng), quy định này  nhằm loại bỏ số lượng lớn những người làm nghề kế toàn bất hợp pháp.

Trung tâm kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng
Đại biểu Hoàng Thanh Tùng đặt ra lo lắng này khi dự thảo luật kế toán (sửa đổi) đi vào hiện hành

Theo phân tích của ông Tùng, quy định này sẽ tác động tiêu cực đến các doanh nghiệp vì bất cứ doanh nghiệp nào ở Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất cần dịch vụ của những người hoạt động kế toán theo tư cách cá nhân.

Ngoài ra, quy định theo dự thảo buộc những người góp vốn vào các công ty TNHH hai thành viên trở lên để cung cấp dịch vụ kế toán phải có bằng cấp và góp trên 50% vốn, theo ông Tùng cũng là quá khắt khe và không phù hợp.

Theo tin tức trên báo Tuổi trẻ, ông Tùng cảnh báo: “Nghề kế toán chủ yếu dựa vào kỹ năng chứ không phải vốn. Hơn nữa người góp vốn chưa hẳn đã là người trực tiếp làm nghề. Do đó, quy định như vậy khác nào triệt tiêu cơ hội của các doanh nghiệp dịch vụ kế toán trong nước và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài chiếm lĩnh dịch vụ này”.

Hình ảnh Hàng nghìn người có nguy cơ mất việc khi luật kế toán sửa đổi số 1
Đại biểu Hoàng Thanh Tùng đặt ra lo lắng này khi dự thảo luật kế toán (sửa đổi) đi vào hiện hành
Trước đó, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ đã trình bày Tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kế toán vào chiều ngày 22/5.

Theo Bộ trưởng Tài chính, sau 10 năm thực hiện Luật kế toán đã bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế. Một trong số đó là Luật kế toán quy định hạch toán theo giá gốc, nhưng nhiều này không phản ánh được tình hình biến động tài sản và nợ phải trả tại thời điểm lập báo cáo tài chính.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà đông Ngoài ra, theo "tư lệnh" ngành tài chính, các hành vi bị cấm, quy định hóa đơn bán hàng để bảo đảm hạch toán tại đơn vị kế toán, cũng như sử dụng để kê khai, thanh quyết toán thuế với ngân sách Nhà nước.... chưa được quy định rõ trong luật hiện hành.

“Chất lượng công tác kế toán đã được coi trọng, song còn có biểu hiện hạch toán kế toán không trung thực, gian lận, báo cáo tài chính chưa kịp thời và độ tin cậy chưa cao”- Bộ trưởng Bộ Tài chính đánh giá và thay mặt Chính phủ kiến nghị Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kế toán.

Trình bày báo cáo thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kế toán, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, ngân sách của Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho rằng, dự thảo luật đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung quan trọng, nhưng Chính phủ cần tổng kết, đánh giá về quá trình thực thi luật, đề xuất các nội dung sửa đổi căn bản, toàn diện hơn, xác định đầy đủ các nội dung chưa được quy định ở Luật Kế toán hiện hành để bảo đảm tính ổn định và đời sống lâu dài của luật.

Ngoài ra, Luật kế toán là đạo luật mang tính chuyên ngành cao, bao quát nhiều loại hình, lĩnh vực hạch toán. Do đó, không thể chi tiết, cụ thể hóa tất cả các quy định liên quan đến công tác kế toán vào nội dung dự thảo luật.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận đống đa Theo Người đưa tin


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Phát triển báo cáo kế toán quản trị phân tích, tư vấn trong các doanh nghiệp



Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước đi mạnh mẽ trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, trao đổi thương mại giữa Việt Nam với các nước ngày càng được mở rộng. Cơ hội, thách thức, sức ép kinh doanh do tiến trình hội nhập kinh tế đòi hỏi các doanh nghiệp (DN) phải có những chuyển biến mạnh mẽ hơn, đặc biệt trong công tác quản trị và điều hành.



Thực trạng lập báo cáo phân tích tư vấn trong các doanh nghiệp hiện nay.

Theo Luật Kế toán, kế toán trong DN ngoài việc thu nhận, xử lý, hệ thống hoá và cung cấp thông tin còn phải thực hiện chức năng phân tích các thông tin nhằm đánh giá tình hình thực hiện các định mức, kế hoạch, dự toán và tư vấn cho nhà quản trị ra các quyết định kinh tế phù hợp.

Theo khảo sát của tác giả nhận thấy hầu hết các doanh nghiệp không chú trọng đến công tác phân tích kinh doanh nói chung và phân tích dự toán cụ thể nói riêng. Đa phần các doanh nghiệp cũng chỉ thực hiện phân tích định kỳ theo quý, năm và cũng chỉ phân tích một số chỉ tiêu cơ bản để đưa ra nhận xét đánh giá chung chung, chủ yếu là so sánh số liệu thực tế với dự toán, kế hoạch ở một số chỉ tiêu cơ bản, những nội dung mang tính “truyền thống”; chưa đi phân tích sâu sắc, tỉ mỉ và tìm nguyên nhân cho những kết quả đó. Và quan trọng hơn cả, ở hầu hết các DN, việc phân tích nếu được thực hiện thì chỉ thực hiện phân tích sau khi kết thúc quá trình kinh doanh, không phân tích trước và trong quátrình thực hiện dự toán, việc tiến hành phân tích điểm hoà vốn, thực hiện phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận không được chú trọng. Việc lập Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh dạng lãi trên biến phí gần như không có ở các doanh nghiệp hiện nay, đặc biệt là các DN nhỏ và vừa. Do đó, việc lập các báo cáo phân tích nhằm mục đích tổng kết lại, không phản ánh tính linh hoạt trong thông tin kế toán quản trị, giảm khả năng phục vụ cho những quyết định mang tính chất tức thời của nhà quản trị.

Nhằm có cơ sở đầy đủ hơn trong việc đánh giá trách nhiệm quản trị, hiệu quả sử dụng nguồn lực của từng bộ phận trong DN, hiệu quả của từng hoạt động trong DN… Ngoài những báo cáo dự toán, thực hiện, nhà quản trị cần thông tin từ các báo cáo phân tích sự biến động của các chỉ tiêu thực hiện so với kế hoạch, trong mối quan hệ với các yếu tố cấu thành từng chỉ tiêu đó. Để những thông tin kế toán quản trị đến với nhà quản trị các cấp trong DN kịp thời nhất, hiệu quả nhất nhằm cải thiện tối ưu công việc ra quyết định của nhà quản trị, ngoài những thông tin mangtính chất mô tả, ghi chép lại sự kiện (các thông tin chưa được phân tích) còn cần cung cấp những thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh một cách đầy đủ và khoa học. Song, qua kết quả khảo sát thực trạng công tác lập và cung cấp các báo cáo kế toán quản trị phân tích và tư vấn tại các nhiều DN chúng tôi nhận thấy:

- Các DN chưa nhận thức được một cách đầy đủ việc cần phải lập các báo cáo phân tích, tư vấn và hiệu quả mà các báo cáo này mang lại trong việc điều hành từng hoạt động của DN.

- Các DN chưa thực sự chú trọng một cách thích đáng đối với việc phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Các DN chưa quan tâm đến việc phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận cũng như các quy luật cung cầu của thị trường … để lựa chọn phương án tối ưu cho DN.

Phát triển báo cáo kế toán quản trị phân tích tư vấn

Xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau nên đã dẫn đến tình trạng nêu trên tại các DN được khảo sát. Theo chúng tôi,lý do quan trọng và chủ yếu nhất là do trình độ quản lý, cách phân cấp quản trị trong DN chưa thực sự phù hợp, còn nhiều sự chồng chéo… dẫn đến hiệu quả của công tác kế toán quản trị là không cao. Các đề xuất chúng tôi đưa ra chỉ tập trung vào việc hoàn thiện các báo cáo phân tích do kế toán quản trị cung cấp trên cơ sở thu thập và xử lý, phân tích các thông tin mà bộ phận kế toán quản trị tổng hợp được từ việc lập báo cáo quản trị thực hiện và các số liệu định mức, dự toán và kế hoạch như cung cấp các thông tin liên quan đến mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận; thông tin liên quan đến một số chỉ tiêu tài chính cơ bản; thông tin liên quan đến sự tác động của một số nhân tố ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, doanh thu, lợi nhuận. Chúng tôi đề xuất một số báo cáo kế toán quản trị phân tích, tư vấn như sau:

(1) Báo cáo phân tích liên quan đến tình hình thực hiện các dự toán, kế hoạch.

Các báo cáo này nhằm phân tích về hoạt động sản xuất kinh doanh và các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các kế hoạch, dự toán đó phục vụ điều hành quản lý DN; đánh giá hiệu quả của từng hoạt động, từng trung tâm trách nhiệm. Các DN cần thiết phải thực hiện phân tích và báo cáo liên quan đến các vấn đề quan trọng như khối lượng sản xuất và tiêu thụ thực tế; chi phí sản xuất; giá thành sản phẩm; chi phí bán hàng; chi phí quản lý doanh nghiệp; tình hình thanh toán; tình hình sử dụng nguyên vật liệu; tình hình sử dụng tài sản cố định…

Phương pháp được vận dụng ở đây là so sánh số liệu thực tế thực hiện và số liệu dự toán/kế hoạch và so sánh với số liệu cùng kỳ năm trước theo chiều ngang và theo chiều dọc, cả về số tuyệt đối,số tương đối và có nêu rõ nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng đến tình hình thực hiện các chỉ tiêu đã đề ra. Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp thay thế liên hoàn để đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới kết quả thực hiện các chỉ tiêu, từ đó có giải pháp hay phương hướng điều chỉnh kịp thời. Ví dụ như phân tích biến động chi phí dựa trên định mức chi phí và dự toán chi phí được thực hiện với các khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Chúng tôi sẽ minh hoạ bằng việc phân tích biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

Trung tâm đào tạo kế toán Tại bình dương Biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là chênh lệch giữa chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo dự toán đã được điều chỉnh theo khối lượng sản xuất thực tế. Do chi phí này phụ thuộc vào hai nhân tố là lượng tiêu hao NVL và đơn giá NVL nên biến động chi phí NVL trực tiếp được tách thành biến động tiêu hao NVL và biến động giá NVL. Tổng hợp biến động tiêu hao NVL và biến động giá NVL sẽ cho kết quả biến động NVL. Trong đó:

Biến động tiêu hao NVL = (Lượng tiêu hao thực tế - Lượng tiêu hao định mức) * Đơn giá định mức

Kết quả tính toán, nếu biến động lượng tiêu hao NVL dương (+) sẽ là một biến động xấu, phản ánh lượng tiêu hao NVL thực tế sử dụng lớn hơn dự toán, làm tăng chi phí NVL và làm giảm lợi nhuận của DN. Ngược lại, nếu biến động lượng tiêu hao NVL âm (-) sẽ là một biến động tốt, phản ánh lượng tiêu hao NVL thực tế sử dụng nhỏ hơn so với dự toán, điều đó góp phần làm giảmchi phí NVL trực tiếp và làm tăng lợi nhuận của DN. Từ đó, DN tìm ra các nguyên nhân gây nên những biến động về lượng tiêu hao NVL, những nguyên nhân làm tăng lượng NVL tiêu hao có thể do máy móc bị lỗi, NVL chất lượng chưa tốt, trình độ lao động thấp hoặc công tác giám sát chưa chặt chẽ…

Những nguyên nhân có thể làm giảm lượng NVL tiêu hao có thể do máy móc được điều chỉnh và hoạt động tốt hơn; NVL chất lượng tốt; trình độ tay nghề và ý thức của người lao động được nâng cao hoặc công tác kiểm tra giám sát quá trình sản xuất được thực hiện tốt đã góp phần làm giảm mức tiêu hao NVL trực tiếp. Trên cơ sở phân tích, đánh giá và tìm ra nguyên nhân làm biến động mức tiêu hao NVL, nhà quản trị sẽ có các biện pháp phù hợp nhằm góp phần giám sát chặt chẽ lượng tiêu hao NVL trực tiếp, góp phần làm giảm chi phí, tăng lợi nhuận cho DN.

Biến động giá NVL = (Đơn giá thực tế - Đơn giá định mức) * Lượng tiêu hao thực tếNếu kết quả tính toán là biến động giá NVL dương (+) sẽ là biến động xấu, thể hiện giá NVL thực tế cao hơn dự toán, điều đó sẽ làm tăng chi phí NVL trực tiếp và làm giảm lợi nhuận của DN. Nguyên nhân dẫn đến biến động tăng về giá NVL có thể do giá NVL trên thị trường tăng, chất lượng NVL tăng hoặc hoạt động kiểm soát mua và chi phí NVL chưa chặt chẽ. Nếu biến động giá NVL âm (-) sẽ là biến động tốt, thể hiện giá NVL thực tế thấp hơn so với dự toán, giảm chi phí NVL và góp phần làm tăng LN của DN. Nguyên nhân giá NVL giảm cóthể do giá NVL trên thị trường giảm, quá trình mua NVL được giám sát chặt chẽ hơn hoặc DN được hưởng các khoản chiết khấu, giảm giá ngoài dự tính… Từ đó, DN có biện pháp quản lý biến động giá NVL một cách hiệu quả, phát huy những nhân tố tốt và hạn chế, loại bỏ những nguyên nhân tiêu cực ảnh hưởng tới chi phí NVL trực tiếp.

Tương tự với phân tích các khoản chi phí còn lại. Đối với phân tích biến động chi phí nhân công trực tiếp sẽ chịu ảnh hưởng của hai nhân tố: năng suất lao động (thời gian lao động) và đơn giá nhân công. Đối với phân tích biến động chi phí sản xuất chung cần lưu ý vì chi phí sản xuất chung bao gồm nhiều yếu tố chi phí, trong đó bao gồm cả biến phí và định phí. Hai nhóm chi phí này có đặc điểm phát sinh là khác nhau nên phân tích chi phí sản xuất chung cũng được phân tích tách biệt thành phân tích biến động biến phí sản xuất chung và phân tích biến động định phí sản xuất chung. Việc phân tích biến động chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN tương tự như phân tích biến động chi phí sản xuất chung.

(2) Báo cáo phân tích thông tin liên quan đến mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh.

Từ thông tin trên các báo cáo thực hiện về doanh thu, biến phí, định phí, sản lượng tiêu thụ của từng loại sản phẩm, từng mặt hàng có thể dễ dàng xác định các chỉ tiêu được dùng phổ biến trong phương pháp hạch toán chi phí biên (hay còn gọi là phương pháp số dư đảm phí) để xây dựng mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận. Cụ thể là các chỉ tiêu: đơn giá bán, biến phí đơn vị, lãi trên biến phí đơn vị, tổng lãi trên biến phí, tỷ lệ lãi trên biến phí…

Việc vận dụng các chỉ tiêu này giúp ích hiệu quả cho quá trình ra quyết định của nhà quản trị DN liên quan đến tiếp tục sản xuất và tiêu thụ loại sản phẩm nào nữa không? Có nên mở rộng thị trường tiêu thụ hay không? Với năng lực dư thừa có nên thúc đẩy sản xuất sản phẩm nào? Xác định có nên hay không nên tăng (giảm) biến phí, định phí nào đó để tăng khối lượng tiêu thụ, tăng doanh thu…

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà đông Ngoài ra, cũng dựa vào phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận, các DN nhỏ và vừa hoàn toàn có thể xác định điểm hoà vốn của DN, từ đó xây dựng chiến lược, kế hoạch cụ thể để đạt được lợi nhuận mong muốn. Cụ thể, khi phân tích điểm hoà vốn ở trong DN giúp nhà quản trị xác định được mức sản xuất và tiêu thụ bao nhiêu thì hoà vốn; xác định được DN phải hoạt động ở mức độ công suất như thế nào thì đạt điểm hoà vốn; xác định được giá cả tiêu thụ tối thiểu để không bị lỗ và xác định mức an toàn hiện tại của DN trên thị trường cạnh tranh là như thế nào… Từ đó, nhà quản trị có các chính sách và biện pháp tích cực chỉ đạo các hoạt động sản xuất và kinh doanh đạt hiệu quả cao.

(3) Báo cáo phân tích cung cấp các thông tin liên quan đến một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu phục vụ cho việc quản lý, điều hành của các cấp quản trị DN.

Đối với các báo cáo này thì tùy vào từng loại hình doanh nghiệp mà doanh nghiệp thiết kế số lượng và loại báo cáo phù hợp. Ví dụ, với DN thương mại dịch vụ cần quan tâm đến nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng hoạt động của DN như: số vòng quay của hàng tồn kho, số ngày một vòng quay của hàng tồn kho, vòng quay các khoản nợ phải thu, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn… các chỉ tiêu thuộcnhóm này giúp nhà quản trị DN biết được khả năng hoạt động của DN. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của DN thì mọi DN thuộc tất cả các lĩnh vực kinh doanh cần quan tâm. Cụ thể, chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA); tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS); tỷ suất sinh lời trên vốn kinh doanh (ROI)… Các chỉ tiêu này giúp cho nhà quản trị DN có cái nhìn đầy đủ về khả năng sinh lời của DN từ đó họ sẽ đưa ra các quyết định đầu tư, kinh doanh hiệu quả hơn. Ngoài ra, các DN cũng nên xác định và xây dựng nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài chính và cơ cấu tài sản của DN.

Các thông tin về các chỉ tiêu trên cần được tính toán, phân tích và cung cấp cho các cấp quản trị DN, giúp họ có thêm thông tin để quản lý điều hành DN cũng như đưa ra các quyết định kinh doanh phù hợp với điều kiện hiện tại của DN. Các chỉ tiêu này phải được xác định định kỳ có thể là hàng tháng, hàng quý, năm.

Tóm lại, báo cáo kế toán quản trị phân tích, tư vấn là loại báo cáo rất cần thiết và quan trọng trong quá trình quản trị và ra quyết định của nhà quản trị, thể hiện được “sự biết nói” của những số liệu kế toán. Do đó, các doanh nghiệp cần chú trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác lập và phát triển loại báo cáo này để công tác quản trị doanh nghiệp đạt được hiệu quả cao hơn.

Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận hoàng mai Theo Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán 6/2016


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hợp đồng lao động là gì? Quy định về hợp đồng lao động, hợp đồng thử việc



Hợp đồng lao động là văn bản thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, trong đó quy định điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Hợp đồng lao động được ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, phù hợp với các quy định của pháp luật lao động. Trong thời gian thực hiện hợp đồng lao động các bên ký kết có thể thỏa thuận sửa đổi nội dung của hợp đồng lao động. Trong trường hợp có sự thay đổi của một trong những nội dung chủ yếu về điều kiện lao động thì người lao động có quyền ký hợp đồng lao động mới.


Theo quy định của pháp luật, các tổ chức, cá nhân khi sử dụng lao động phải thực hiện giao kết hợp đồng lao động. Hợp đồng lao động được xác lập một cách bình đẳng trong quan hệ song phương và có tính cá nhân (đích danh).

Việc soạn thảo và ký kết hợp đồng lao động phải tuân theo:

- BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2012 - Số hiệu: 10/2012/QH13, Ngày ban hành: 18/06/2012 Ngày hiệu lực: 01/05/2013

- Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH hướng dẫn một số điều về hợp đồng lao động, kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất tại Nghị định 05/2015/NĐ-CP. Ngày ban hành: 16/11/2015 Ngày hiệu lực: 01/01/2016

- Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết một số nội dung của Bộ luật lao động 2012, trong đó có một số nội dung quan trọng về tiền lương, trợ cấp thôi việc, mất việc làm. Ngày ban hành: 12/01/2015 Ngày hiệu lực: 01/03/2015.

Cụ thể:

I. Nghĩa vụ cung cấp thông tin trước khi giao kết hợp đồng lao động

1. Người sử dụng lao động phải cung cấp thông tin cho người lao động về công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động, vệ sinh lao động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người lao động yêu cầu.

2. Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu.

Lưu ý: người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động

1. Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.

2. Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.

(Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng Theo Khoản 4 Điều 1 Nghị định 88/2015/NĐ-CP)

II. Hình thức hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản.

2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói.

III. Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động

1. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.

2. Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.

IV. Loại hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

3. Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.

V. Nội dung hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây:

a) Tên và địa chỉ người sử dụng lao động hoặc của người đại diện hợp pháp;

b) Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, địa chỉ nơi cư trú, số chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp pháp khác của người lao động;

c) Công việc và địa điểm làm việc;

d) Thời hạn của hợp đồng lao động;

đ) Mức lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác;

e) Chế độ nâng bậc, nâng lương;

g) Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;

h) Trang bị bảo hộ lao động cho người lao động;

i) Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế;

k) Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.

2. Khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật, thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với người lao động về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp người lao động vi phạm.

3. Đối với người lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì tùy theo loại công việc mà hai bên có thể giảm một số nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động và thỏa thuận bổ sung nội dung về phương thức giải quyết trong trường hợp thực hiện hợp đồng chịu ảnh hưởng của thiên tai, hoả hoạn, thời tiết.

Điều này được hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị định 05/2015/NĐ-CP

1. Tên và địa chỉ của người sử dụng lao động được quy định như sau:

a) Tên doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc giấy chứng nhận đầu tư hoặc quyết định thành lập cơ quan, tổ chức; trường hợp là cá nhân thuê mướn sử dụng lao động thì ghi họ và tên người sử dụng lao động theo chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu được cấp;

b) Địa chỉ của doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân thuê mướn, sử dụng lao động theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc giấy chứng nhận đầu tư hoặc quyết định thành lập cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật;

c) Họ và tên, ngày tháng năm sinh, số chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, địa chỉ nơi cư trú, chức danh trong doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình thuê mướn, sử dụng lao động của người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định này.

2. Số chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp pháp khác của người lao động được quy định như sau:

a) Số chứng minh nhân dân hoặc số hộ chiếu do cơ quan có thẩm quyền cấp của người lao động;

b) Số giấy phép lao động, ngày tháng năm cấp, nơi cấp giấy phép lao động của cơ quan có thẩm quyền cấp đối với lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam;

c) Văn bản đồng ý việc giao kết hợp đồng lao động của người đại diện theo pháp luật đối với người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi;

d) Họ và tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, địa chỉ nơi cư trú, số chứng minh nhân dân hoặc số hộ chiếu của người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi;

đ) Văn bản của người dưới 15 tuổi đồng ý để người đại diện theo pháp luật của mình giao kết hợp đồng lao động.

3. Công việc và địa điểm làm việc được quy định như sau:

a) Công việc: Công việc mà người lao động phải thực hiện;

b) Địa điểm làm việc của người lao động: Phạm vi, địa điểm người lao động làm công việc đã thỏa thuận; trường hợp người lao động làm việc ở nhiều địa điểm khác nhau thì ghi các địa điểm chính người lao động làm việc.

4. Thời hạn của hợp đồng lao động:

Thời gian thực hiện hợp đồng lao động (số tháng hoặc số ngày), thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc thực hiện hợp đồng lao động (đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định); thời điểm bắt đầu thực hiện hợp đồng lao động (đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn).

5. Mức lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được quy định như sau:

a) Mức lương, phụ cấp lương, các khoản bổ sung khác xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định này;

b) Hình thức trả lương xác định theo quy định tại Điều 94 của Bộ luật Lao động;

c) Kỳ hạn trả lương do hai bên xác định theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật Lao động.

6. Chế độ nâng ngạch, nâng bậc, nâng lương: Điều kiện, thời gian, thời điểm, mức lương sau khi nâng bậc, nâng lương mà hai bên đã thỏa thuận.

7. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được quy định như sau:

a) Thời giờ làm việc trong ngày, trong tuần; ca làm việc; thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của ngày, tuần hoặc ca làm việc; số ngày làm việc trong tuần; làm thêm giờ và các điều khoản liên quan khi làm thêm giờ;

b) Thời gian, thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc nghỉ trong giờ làm việc; thời gian nghỉ hằng tuần, nghỉ hằng năm, nghỉ lễ, tết, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương.

8. Trang bị bảo hộ lao động cho người lao động:

Ghi cụ thể số lượng, chủng loại, chất lượng và thời hạn sử dụng của từng loại trang bị bảo hộ lao động theo quy định của người sử dụng lao động.

9. Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế được quy định như sau:

a) Tỷ lệ % tính trên tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động và của người lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế;

b) Phương thức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế của người sử dụng lao động và của người lao động.

10. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề của người lao động trong quá trình thực hiện hợp đồng: Quyền, nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động trong việc đảm bảo thời gian, kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.

11. Các nội dung khác liên quan đến thực hiện nội dung mà hai bên thỏa thuận.

VI. Phụ lục hợp đồng lao động

1. Phụ lục hợp đồng lao động là một bộ phận của hợp đồng lao động và có hiệu lực như hợp đồng lao động.

2. Phụ lục hợp đồng lao động quy định chi tiết một số điều khoản hoặc để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp phụ lục hợp đồng lao động quy định chi tiết một số điều, khoản của hợp đồng lao động mà dẫn đến cách hiểu khác với hợp đồng lao động thì thực hiện theo nội dung của hợp đồng lao động.

Trường hợp phụ lục hợp đồng lao động dùng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động thì phải ghi rõ nội dung những điều khoản sửa đổi, bổ sung và thời điểm có hiệu lực.

VII.  Hiệu lực của hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động có hiệu lực kể từ ngày các bên giao kết trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

VII. Thử việc

1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thoả thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc.

Nội dung của hợp đồng thử việc gồm các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, g và h khoản 1 Điều 23 của Bộ luật này.
2. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động mùa vụ thì không phải thử việc.

VII. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà nội 1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.

Thông báo Kết quả về việc làm thử được hướng dẫn bởi Điều 7 Nghị định 05/2015/NĐ-CP

1. Trong thời hạn 03 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động.

2. Khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động.

IX. Tiền lương trong thời gian thử việc

Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

X. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.

XI. Sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động

1. Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất 3 ngày làm việc về những nội dung cần sửa đổi, bổ sung.

2. Trong trường hợp hai bên thỏa thuận được thì việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động được tiến hành bằng việc ký kết phụ lục hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới.

Sửa đổi thời hạn hợp đồng lao động được hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị định 05/2015/NĐ-CP

Thời hạn hợp đồng lao động chỉ được sửa đổi một lần bằng phụ lục hợp đồng lao động và không được làm thay đổi loại hợp đồng đã giao kết, trừ trường hợp kéo dài thời hạn hợp đồng lao động với người lao động cao tuổi và người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách quy định tại Khoản 6 Điều 192 của Bộ luật Lao động.

XII. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Điểm c Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Lao động trong các trường hợp bị người sử dụng lao động đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự hoặc cưỡng bức lao động; bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

Trung tâm đào tạo kế toán tổng hợp Tại hải phòng 2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Điểm d Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Phải nghỉ việc để chăm sóc vợ hoặc chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ, mẹ vợ hoặc bố chồng, mẹ chồng, con đẻ, con nuôi bị ốm đau, tai nạn;

b) Khi ra nước ngoài sinh sống hoặc làm việc;

c) Gia đình gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh hoặc chuyển chỗ ở mà người lao động đã tìm mọi biện pháp nhưng không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động.

XIII. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động tại các Điểm a và c Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Lao động được quy định như sau:

1. Người sử dụng lao động phải quy định cụ thể tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của doanh nghiệp, làm cơ sở đánh giá người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ do người sử dụng lao động ban hành sau khi có ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.

2. Lý do bất khả kháng khác thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Do địch họa, dịch bệnh;

b) Di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

* Trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

1. Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật này.

2. Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.

3. Lao động nữ quy định tại khoản 3 Điều 155 của Bộ luật này.

4. Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận hoàn kiếm Tổng hợp


Read More Add your Comment 0 nhận xét