Cách xác định thời điểm hưởng lương hưu



Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (BHXH) vừa có công văn 1683/BHXH-CSXH, hướng dẫn thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội.


Trung tâm đào tạo kế toán tổng hợp Tại long biên
Theo đó, thời điểm hưởng lương hưu được xác định như sau:

- Nghỉ hưu trước ngày 01/12/2012: được tính từ tháng liền kề sau tháng cơ quan, đơn vị, NLĐ nộp đủ hồ sơ hợp lệ cho tổ chức BHXH.

- Nghỉ hưu từ ngày 01/12/2012 trở đi thì:

+ Đối với NLĐ đang đóng BHXH bắt buộc: là thời điểm hưởng lương hưu ghi trong quyết định nghỉ việc do người sử dụng lao động lập khi NLĐ đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định.

+ Đối với NLĐ đang bảo lưu thời gian đóng BHXH: là thời điểm do NLĐ ghi trong đơn đề nghị khi đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà nội
Về việc hủy quyết định hưởng BHXH một lần, trường hợp đã có quyết định hưởng BHXH một lần theo Luật BHXH, tại thời điểm giải quyết đã thực hiện đúng theo quy định của Luật BHXH về hồ sơ, quy trình và thẩm quyền nhưng người lao động chưa nhận khoản trợ cấp BHXH một lần theo quyết định của BHXH cấp tỉnh, BHXH Bộ Quốc phòng, BHXH Công an nhân dân hoặc BHXH cấp huyện (theo phân cấp quản lý) (sau đây viết là cơ quan BHXH) mà có đề nghị cơ quan BHXH hủy quyết định hưởng BHXH một lần để bảo lưu thời gian đóng BHXH hoặc tiếp tục tham gia BHXH thì cơ quan BHXH kiểm tra đối chiếu hồ sơ, sổ sách, chứng từ đã giải quyết, nếu khoản tiền BHXH một lần thật sự chưa được chi từ quỹ BHXH và người lao động thực sự chưa nhận tiền thì ra quyết định hủy quyết định hưởng BHXH một lần để bảo lưu thời gian đóng BHXH hoặc tiếp tục tham gia BHXH đối với người lao động. Thủ tục hồ sơ và quy trình giải quyết thực hiện theo Quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH ban hành kèm theo Quyết định số 01/QĐ-BHXH ngày 03/01/2014 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận long biên
Nguồn Tài Chính Điện Tử



Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hoạt động Cục dự trữ Nhà nước các khu vực trong tháng 5



Theo Cục Dự trữ Nhà nước (DTNN) khu vực Hà Nội, trong tháng 5/2014, ngành DTNN khu vực Hà Nội đã hoàn thành xuất sắc công tác xuất cấp và vận chuyển 4.311,572 tấn gạo để hỗ trợ học sinh các tỉnh Hà Giang, Hòa Bình và Lai Châu theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Trong đó: xuất cấp hỗ trợ cho học sinh tỉnh Hà Giang 3.351,06 tấn gạo; hỗ trợ cho học sinh tỉnh Lai Châu là 548,372 tấn gạo và hỗ trợ cho học sinh tỉnh Hòa Bình 512,14 tấn gạo). Hiện đơn vị đang tiếp tục rà soát, hoàn thiện các hồ sơ tài liệu phục vụ công tác thanh toán cước vận chuyển.


** Cục Dự trữ Nhà nước (DTNN) Khu vực Hà Nội:

Trong tháng 5/2014 Cục DTNN khu vực Hà Nội đã hoàn thành nhập 6.000 tấn gạo theo kế hoạch được Tổng cục Dự trữ Nhà nước giao. Đơn vị cũng đã triển khai công tác xây dựng kế hoạch, phương án giá mua 3.500 tấn thóc trình Tổng cục DTNN phê duyệt và tiếp tục triển khai xuất bán 4.000 tấn thóc theo phương thức bán trực tiếp cho mọi đối tượng (hiện đơn vị đã xuất bán được 3.000 tấn thóc).

Ngoài ra, đơn vị đã tăng cường kiểm tra và đôn đốc các Chi cục trực thuộc thực hiện công tác bảo quản thường xuyên hàng hóa dự trữ trong các hệ thống kho tàng, lấy mẫu kiểm tra chất lượng gạo nhập kho năm 2014. Hoàn thành công tác mua và giao khí CO2 cho các Chi cục phục vụ công tác bảo quản gạo, kiểm tra công tác chuẩn bị nhập thóc vụ đông xuân năm 2014 và kiểm tra chất lượng gạo sau khi nhập kho.

Cục DTNN khu vực Hà Nội luôn tăng cường công tác an ninh bảo vệ, phòng cháy chữa cháy, phòng chống lụt bão; có phương án khắc phục nhanh chóng khi xảy ra sự cố để đảm bảo an toàn về con người và tài sản. Đơn vị luôn sẵn sàng xuất cấp hàng cứu trợ kịp thời khi có quyết định của Tổng cục DTNN, góp phần đảm bảo an sinh và phúc lợi xã hội.

**Cục DTNN Khu vực Bình Trị Thiên:

Theo Cục Dự trữ Nhà nước (DTNN) Khu vực Bình Trị Thiên, trong tháng 5/2014 đơn vị đã hoàn thành công tác xuất bán 164 tấn gạo nhập kho năm 2013. Thực hiện công tác nhập 9.000 phao áo cứu sinh, 10.000 phao tròn và đang triển khai nhập 6.309,25 tấn/7.000 tấn gạo theo kế hoạch được Tổng cục DTNN giao. Trong tháng, đơn vị cũng đã hoàn thành xuất 468,645/468,645 tấn gạo hỗ trợ học sinh học kỳ II năm học 2013 - 2014 theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Ngoài ra, ngành DTNN Khu vực Bình Trị Thiên đã thực hiện có hiệu quả công tác bảo quản, định kỳ thường xuyên hàng hoá, vật tư DTNN, cụ thể: đơn vị đã thực hiện bảo quản 6.000 tấn thóc; 24.600 chiếc phao tròn; 6.309,25tấn gạo; 1.500 chiếc áo phao; 760 bộ nhà bạt; 180 chiếc phao bè; 06 bộ xuồng cứu hộ; 30 bộ thiết bị chữa cháy rừng và 14.662,534 tấn muối ăn dự trữ. Công tác bảo quản vật tư hàng hoá được đơn vị thực hiện đúng quy trình kỹ thuật bảo quản hàng hoá Dự trữ Nhà nước, đảm bảo đủ về số lượng, tốt về chất lượng; thực hiện tốt công tác chuẩn bị kho nhập hàng dự trữ năm 2014; duy trì và đẩy mạnh phong trào xây dựng điểm kho an toàn, xanh, sạch, đẹp năm 2014

Công tác an ninh bảo vệ, phòng cháy chữa cháy, phòng chống bão lụt luôn được Cục DTNN Khu vực Bình Trị Thiên triển khai thực hiện tốt. Hệ thống kho tàng và vật tư, hàng hóa dự trữ Quốc gia luôn được đảm bảo an toàn tuyệt đối.

**Cục DTNN khu vực Đông Bắc:

Theo Báo cáo của Cục Dự trữ Nhà nước (DTNN) Khu vực Đông Bắc, trong tháng 5/2014, ngành DTNN Khu vực đã tổ chức bán đấu giá thành công và xuất bán an toàn đối với 232,662 tấn gạo nhập kho năm 2013 thuộc kế hoạch xuất bán năm 2014 còn lại sau khi đã xuất cứu trợ. Đơn vị đã hoàn thành công tác nhập 7.000 tấn gạo theo kế hoạch năm 2014 và đang tiếp tục xuất bán 2.980 tấn thóc nhập kho năm 2013 cho mọi đối tượng thuộc kế hoạch xuất bán đợt I và đợt II năm 2014

Ngoài ra, Cục DTNN Khu vực Đông Bắc đã tăng cường công tác kiểm tra, theo dõi và hướng dẫn đơn vị cơ sở thực hiện nghiêm túc quy trình, quy chuẩn bảo quản an toàn vật tư, hàng hóa lưu kho; Chỉ đạo các Chi cục trực thuộc kiểm tra chất lượng gạo nhập kho; Quyết toán hao dôi xuất bán đổi hạt, xuất cứu đói cho nhân dân tỉnh Điện Biên và cứu trợ học sinh vùng khó khăn 2 tỉnh Quảng Ninh và Yên Bái. Tăng cường đôn đốc các đơn vị cơ sở duy trì tốt công tác bảo quản, phát hiện và xử lý kịp thời các sự cố kỹ thuật trong quá trình bảo quản

Cũng trong tháng 5/2014, đơn vị duy trì tốt công tác kiểm tra an ninh bảo vệ, phòng chống cháy nổ, phòng chống bão lụt và tìm kiếm cứu nạn; Triển khai có hiệu quả công tác nhập liệu phần mềm kế toán dự trữ Nhà nước, phần mềm quản lý hàng dự trữ, phần mềm mạng lưới kho; duy trì hoạt động ổn định, đảm bảo an toàn bảo mật thông tin. Tham gia ứng dụng các đề tài khoa học kỹ thuật tiên tiến phục vụ công tác chuyên môn, bảo quản an toàn lượng hàng hóa lưu kho trong toàn Cục. Tổ chức phổ biến Luật dự trữ Quốc gia và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn Luật Dự trữ quốc gia đến cán bộ, công chức trong đơn vị.

**Cục DTNN Khu vực Đà Nẵng:

Theo Báo cáo của Cục Dự trữ Nhà nước (DTNN) Khu vực Đà Nẵng, trong tháng 4/2014, đơn vị đã hoàn thành tốt công tác đấu thầu mua 6.000 tấn gạo vụ Đông xuân 2014 và tiến hành ký kết hợp đồng nhập kho 6.000 tấn gạo theo chỉ tiêu kế hoạch giao.

Ngành DTNN Khu vực Đà Nẵng đã triển khai kịp thời công tác xuất cấp và vận chuyển 653,895 tấn gạo để hỗ trợ học sinh tỉnh Quảng Nam năm 2014. Hoàn thành công tác bán đấu giá 1.487,265 tấn gạo và xuất bán trực tiếp 2.000 tấn thóc.

Cũng trong tháng 4/2014, Cục DTNN Khu vực Đà Nẵng đã tăng tường công tác kiểm tra bảo quản thường xuyên ở các Chi cục trực thuộc, đảm bảo an toàn về số lượng, chất lượng hàng lưu kho. Lập phương án kê lót, bố trí kho nhập lương thực năm 2014. Tiến hành hiệu chuẩn máy đo thủy phần phục vụ công tác nhập lương thực trong năm 2014 và hoàn thiện hồ sơ nhập 14.000 chiếc phao áo cứu sinh theo kế hoạch.

Ngoài ra, đơn vị đã thực hiện tốt công tác phối hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn trong công tác an ninh bảo vệ, phòng chống cháy nổ, đảm bảo an toàn về tài sản. Hệ thống kho tàng và hàng hóa DTNN luôn được bảo vệ đảm bảo an toàn tuyệt đối về số lượng, chất lượng. Triển khai thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị 03- CT/TW của Bộ Chính trị và kế hoạch của Ban chỉ đạo thực hiện cuộc Vận động Khối các cơ quan thành phố Đà Nẵng. Cục DTNN Khu vực Đà Nẵng luôn sẵn sàng xuất cấp vật tư hàng hóa dự trữ cứu trợ khi có quyết định của Tổng cục giao.

**Cục DTNN Khu vực Bình Trị Thiên:

Theo Cục Dự trữ Nhà nước (DTNN) Khu vực Bình Trị Thiên, trong tháng 5/2014 đơn vị đã hoàn thành công tác xuất bán 164 tấn gạo nhập kho năm 2013. Thực hiện công tác nhập 9.000 phao áo cứu sinh, 10.000 phao tròn và đang triển khai nhập 6.309,25 tấn/7.000 tấn gạo theo kế hoạch được Tổng cục DTNN giao. Trong tháng, đơn vị cũng đã hoàn thành xuất 468,645/468,645 tấn gạo hỗ trợ học sinh học kỳ II năm học 2013 – 2014 theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Trung tâm đào tạo kế toán thực hành Tại minh khai hai bà trưng Ngoài ra, ngành DTNN Khu vực Bình Trị Thiên đã thực hiện có hiệu quả công tác bảo quản, định kỳ thường xuyên hàng hoá, vật tư DTNN, cụ thể: đơn vị đã thực hiện bảo quản 6.000 tấn thóc; 24.600 chiếc phao tròn; 6.309,25tấn gạo; 1.500 chiếc áo phao; 760 bộ nhà bạt; 180 chiếc phao bè; 06 bộ xuồng cứu hộ; 30 bộ thiết bị chữa cháy rừng và 14.662,534 tấn muối ăn dự trữ. Công tác bảo quản vật tư hàng hoá được đơn vị thực hiện đúng quy trình kỹ thuật bảo quản hàng hoá Dự trữ Nhà nước, đảm bảo đủ về số lượng, tốt về chất lượng; thực hiện tốt công tác chuẩn bị kho nhập hàng dự trữ năm 2014; duy trì và đẩy mạnh phong trào xây dựng điểm kho an toàn, xanh, sạch, đẹp năm 2014

Công tác an ninh bảo vệ, phòng cháy chữa cháy, phòng chống bão lụt luôn được Cục DTNN Khu vực Bình Trị Thiên triển khai thực hiện tốt. Hệ thống kho tàng và vật tư, hàng hóa dự trữ Quốc gia luôn được đảm bảo an toàn tuyệt đối.

**Cục DTNN Khu vực Thái Bình:

Theo Cục Dự trữ Nhà nước (DTNN) Khu vực Thái Bình, tính đến hết ngày 10/5/2014 đơn vị đã hoàn thành công tác nhập 4.000/4.000 tấn gạo dự trữ vụ Đông Xuân năm 2014, hoàn thành 100% kế hoạch được Tổng cục DTNN giao. Ngoài ra, ngành DTNN Khu vực Thái Bình đã thực hiện xuất bán đạt 2.528 tấn thóc.

Cũng trong tháng 5/2014, đơn vị tăng cường kiểm tra và chỉ đạo các Chi cục trực thuộc thực hiện công tác bảo quản hàng dự trữ quốc gia theo quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, cụ thể: Đối với gạo nhập kho: Đã tổ chức triển khai kê lót kho, kiểm tra, giám sát chất lượng gạo nhập kho ở các Chi cục đảm bảo đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng theo quy chuẩn. Đối với thóc: Duy trì công tác bảo quản thường xuyên, cào đảo, vệ sinh, sàng trùng thủ công theo đúng quy chuẩn kỹ thuật hạn chế suy giảm chất lượng thóc. Thóc nhập kho luôn được bảo quản ở chế độ áp suất thấp, định kỳ kiểm tra chất lượng thóc, vệ sinh trong và ngoài kho sạch sẽ theo đúng quy chuẩn kỹ thuật. Các loại vật tư, thiết bị cứu hộ, cứu nạn được bảo quản thường xuyên, định kỳ. Các thiết bị vật tư cứu hộ, cứu nạn đảm bảo chất lượng sẵn sàng phục vụ khi có lệnh điều động.

Cục DTNN Khu vực Thái Bình luôn chủ động và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng trên địa bàn trong công tác phòng chống lụt bão, phòng chống cháy nổ, an ninh bảo vệ, đảm bảo an toàn tuyệt đối về hàng hóa, tài sản trong hệ thống kho dự trữ Quốc gia.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà đông Trong tháng 5/2014, Cục DTNN Khu vực Thái Bình đã hoàn thành các nhiệm vụ theo chương trình công tác đã xây dựng và sự chỉ đạo của Tổng cục Dự trữ Nhà nước. Đơn vị luôn đoàn kết, giữ vững kỷ cương, kỷ luật, tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

**Cục DTNN Khu vực Bắc Thái:

Theo Báo cáo của Cục Dự trữ Nhà nước (DTNN) khu vực Bắc Thái, trong tháng 5/2014, đơn vị đã hoàn thành công tác xuất cấp 291,54 tấn gạo hỗ trợ học sinh Thái Nguyên học kỳ II năm học 2013-2014 đạt 100% kế hoạch được giao.

Ngoài ra, ngành DTNN khu vực Bắc Thái đã tổ chức nhập 4.000 tấn gạo Nam Bộ đợt 1/2014, đến nay đơn vị đã nhập được 3.360 tấn, đạt 90,7% kế hoạch được giao. Đơn vị cũng đang tiếp tục triển khai công tác xuất bán 892 tấn thóc theo phương thức bán rộng rãi cho mọi đối tượng.

Cũng trong tháng 5/2014, đơn vị đã thực hiện tốt công tác bảo quản hàng dự trữ; hướng dẫn các Chi cục trực thuộc thực hiện kiểm tra chất lượng gạo nhập kho. Lập hồ sơ mua khí Nitơ bảo quản gạo nhập kho năm 2014 và lập dự toán mua giá kê hàng theo quyết định của Tổng cục. Thực hiện tốt công tác bảo vệ, phòng chống lụt bão, phòng chống cháy nổ giữ gìn an toàn tuyệt đối hàng hoá và tài sản Nhà nước do đơn vị quản lý.

Trong những tháng tiếp theo, Cục DTNN Khu vực Bắc Thái tiếp tục thực hiện công tác nhập 340 tấn gạo Nam bộ đợt 1/2014 theo hợp đồng đã ký đảm bảo thời gian đúng quy định. Xây dựng kế hoạch mua 2.000 tấn thóc vụ Đông xuân năm 2014 trình Tổng cục phê duyệt. Tiếp tục duy trì công tác bảo quản thường xuyên hàng hóa, tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng trong quá trình nhập; hoàn chỉnh hồ sơ các ngăn kho nhập đầy và nạp khí bảo quản đúng thời gian quy định để đảo bảo an toàn hàng hóa dự trữ. Hoàn chỉnh hồ sơ thủ tục mua giá kê phục vụ công tác bảo quản hàng hóa và vật tư trong kho dự trữ.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận long biên Nguồn Tài Chính Điện Tử



Read More Add your Comment 0 nhận xét


5 tháng, hơn 31.000 DN thành lập mới



Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 5 tháng đầu năm, cả nước có 31.228 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký trên 173.624 tỷ đồng, tăng 0,7% về số doanh nghiệp so với cùng kỳ năm 2013.


Trung tâm đào tạo kế toán tổng hợp Tại hải phòng
So với tháng thống kê trước, tính đến ngày 20-5-2014, cả nước có 5.499 doanh nghiệp được thành lập mới với tổng số vốn đăng kí hơn 30,2 nghìn tỉ đồng, giảm 25,4% về số doanh nghiệp và giảm 33,4% về số vốn đăng kí. Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải ngừng hoạt động hoặc giải thể là 6.713 doanh nghiệp.

Tính chung 5 tháng, vẫn có tới 27.867 doanh nghiệp phải ngừng hoạt động hoặc giải thể, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong số này, có 23.965 doanh nghiệp ngừng hoạt động, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm 2013; 3.902 doanh nghiệp đã hoàn thành các thủ tục giải thế, tăng 7,7%.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại long biên
Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận định trong báo cáo: Qua theo dõi cho thấy, tình hình doanh nghiệp trong nước vẫn còn nhiều khó khăn, số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động chưa có chiều hướng suy giảm.

Theo bà Nguyễn Huyền Dịu, Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), cần xác định thêm quy mô của các doanh nghiệp đã giải thể, tạm ngừng hoạt động để có đánh giá chính xác thực tế tình hình. “Nếu là doanh nghiệp quy mô nhỏ, yếu kém, thì việc họ phải giải thể, ngừng hoạt động cũng không phải quá đáng lo ngại” - bà Dịu nói.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận hoàng mai
Nguồn Báo Hải Quan



Read More Add your Comment 0 nhận xét


Xăng tăng hơn 400 đồng/lít và đứng ở mức cao kỷ lục



Bộ Tài chính vừa phát đi thông báo cho phép các DN kinh doanh xăng dầu đầu mối được điều chỉnh tăng giá bán lẻ đối với mặt hàng xăng dầu. Trong đó, nếu tham chiếu theo giá hiện hành của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam, thì mức tăng tối đa đối với xăng Ron92 là 418 đồng/lít; dầu điêzen 0,05S là 294 đồng/lít; dầu hỏa là 413 đồng/lít; dầu madút là 137 đồng/kg.


Trung tâm đào tạo kế toán tổng hợp Tại long biên Giá xăng đang ở mức cao nhất từ trước đến nay.

Theo tính toán của Bộ Tài chính, giá xăng dầu thế giới từ sau ngày điều hành 23-6-2014 nhìn chung có xu hướng tăng và đứng ở mức cao. Giá xăng, dầu thành phẩm thế giới bình quân 30 ngày từ ngày 7-6-2014 đến 6-7-2014 cụ thể: xăng RON 92: 122,135 USD/thùng; dầu điêzen 0,05S: 121,967 USD/thùng; dầu hỏa: 121,729 USD/thùng, dầu madút 180 cst 3,5S: 618,267 USD/tấn.

Căn cứ nguyên tắc tính toán giá cơ sở theo các quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP, Thông tư số 234/2009/TT-BTC thì chênh lệch giữa giá bán hiện hành và giá cơ sở các mặt hàng xăng dầu cụ thể như sau:

Đơn vị tính: VNĐ/lít,kg.

Mặt hàng

Giá bán hiện hành

Giá cơ sở theo đúng quy định

Chênh lệch giữa giá bán hiện hành với giá cơ sở theo đúng quy định

(1)

(2)

(3) = (1)-(2)

1. Xăng RON 92

25.230

26.148

- 918

2. Dầu điêzen 0,05S

22.530

22.824

- 294

3. Dầu hỏa

22.540

22.953

- 413

4. Dầu madút 180CST 3,5S

18.560

18.997

- 437

 Ghi chú: (+) giá hiện hành cao hơn giá cơ sở; (-) giá hiện hành thấp hơn giá cơ sở; giá bán hiện hành lấy theo giá bán hiện hành của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam.


Trong bối cảnh giá xăng dầu thế giới tiếp tục có xu hướng tăng cao như hiện nay, căn cứ tình hình kinh tế xã hội trong nước và bình quân 30 ngày tính giá cơ sở của giá xăng dầu thế giới; căn cứ văn bản đăng ký giá của doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối; Liên Bộ Tài chính - Công Thương đã thông báo điều hành giá xăng dầu trong nước.
dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà đông
Theo Liên Bộ, trong bối cảnh giá xăng dầu thế giới tiếp tục tăng ở mức cao, số dư Quỹ Bình ổn giá không lớn; do vậy, việc điều hành giá xăng dầu trong nước thực hiện hài hòa giữa việc sử dụng Quỹ Bình ổn giá và điều chỉnh giá bán lẻ ở mức kiềm chế phù hợp với mặt bằng giá cơ sở theo chu kỳ tính giá.

Cụ thể: Sử dụng Quỹ Bình ổn giá đối với các mặt hàng xăng và dầu madút: Đối với xăng, tăng sử dụng Quỹ Bình ổn giá thêm 200 đồng/lít (từ 300 đồng/lít ở mức hiện hành lên mức 500 đồng/lít); Đối với dầu madút: Tiếp tục sử dụng quỹ Bình ổn giá 300 đồng/kg như hiện hành.

Sau khi thực hiện các biện pháp điều hành như trên, các doanh nghiệp kinh doanh xăng, dầu đầu mối rà soát, điều chỉnh tăng giá bán lẻ tương ứng; giá bán sau khi điều chỉnh (đã bao gồm mức sử dụng Quỹ Bình ổn giá) không cao hơn mức giá cơ sở theo quy định (trong đó, giá cơ sở xăng RON 92: 26.148 đồng/lít; dầu điêzen 0,05S: 22.824 đồng/lít; dầu hỏa: 22.953 đồng/lít; dầu madút 180CST 3,5S: 18.997 đồng/kg).

Nếu tham chiếu theo giá hiện hành của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam, thì mức tăng tối đa đối với xăng Ron92 là 418 đồng/lít; dầu điêzen 0,05S là 294 đồng/lít; dầu hỏa là 413 đồng/lít; dầu madút là 137 đồng/kg

Thời điểm thực hiện đối với sử dụng Quỹ Bình ổn giá: Áp dụng từ 20 giờ 00 ngày 7-7-2014.

Đối với điều chỉnh giá bán xăng dầu: Do doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối quy định nhưng không sớm hơn 20 giờ 00 ngày 7-7-2014.

Đây là lần tăng giá thứ 5 đối với mặt hàng giá xăng từ đầu năm đến nay. Trước đó, ngày 23-6, tăng 330 đồng/lít xăng.

Đây cũng là lần tăng giá mạnh nhất kể từ đầu năm tới nay. Các đợt tăng trước lần lượt rơi vào các tháng 2, 3, 4 và 6 với mức tăng cao nhất là 330 đồng và thấp nhất là 180 đồng mỗi lít.

Giá xăng Ron 92 tại vùng 1 của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam hiện ở mức 25.640 đồng/lít và ở vùng 2 là 26.150 đồng/lít.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận ba đình Nguồn Báo Hải Quan



Read More Add your Comment 0 nhận xét


Cách kiểm tra công nợ hiệu quả trên phần mềm MISA SME.NET 2017



Quản lý công nợ là khâu không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp. Để có thể kiểm tra công nợ hiệu quả, chúng ta cần phải biết cách quản lý công nợ phải thu, công nợ phải trả khách hàng. Đối với khách hàng sử dụng phần mềm kế toán MISA SME.NET 2017, trường hợp có sai sót trong hạch toán kế toán công nợ, báo cáo sẽ hiển thị kết quả theo các nội dung sau.

Trung tâm đào tạo kế toán thực hành Tại bình dương
1. Danh sách khách hàng, nhà cung cấp trùng mã số thuế
- Thông thường việc trùng mã số thuế là do cùng 1 khách hàng, nhà cung cấp nhưng khai báo thành nhiều mã khác nhau, công nợ, số thu, số trả có thể hạch toán vào các mã khách hàng dẫn đến sai lệch số liệu công nợ.
Trường hợp này NSD có thể gộp mã khách hàng, nhà cung cấp thành 1 mã duy nhất để đảm bảo công nợ phản ánh đúng bằng cách vào Danh mục\Đối tượng\Khách hàng hoặc Nhà cung cấp, trên danh sách Khách hàng, nhà cung cấp chọn khách hàng\NCC cần gộp mã kích chuột phải chọn chức năng Gộp.
- Trường hợp do nhập sai mã số thuế 1 khách hàng, nhà cung cấp nào đó thì kế toán vào danh mục khách hàng, nhà cung cấp sửa lại mã số thuế đúng.


dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà đông
2. Danh sách chứng từ công nợ, thanh toán chưa đối trừ chứng từ (đối với đơn vị theo dõi công nợ theo hóa đơn, nếu còn tồn tại các chứng từ chưa được đối trừ thì có thể dẫn đến sai công nợ theo hóa đơn).
Trường hợp đơn vị khi thu tiền khách hàng hoặc trả tiền nhà cung cấp hoặc thu tiền, chi trả tiền trước khi xuất hóa đơn hoặc không thực hiện chức năng thu tiền khách hàng, trả tiền nhà cung cấp trên phần mềm thì khi lên báo cáo công nợ theo hóa đơn chưa xác định được số thu, số trả cho hóa đơn nào. Vì vậy chi tiết công nợ theo hóa đơn không chính xác.
Để khắc phục, kế toán vào Nghiệp vụ\Mua hàng hoặc Bán hàng, chọn đối trừ chứng từ, thực hiện đối trừ theo từng đối tượng khách hàng/nhà cung cấp mà báo cáo liệt kê.

Với phần mềm kế toán MISA SME.NET 2017 quản lý công nợ được giải quyết một cách dễ dàng, hiệu quả. Không chỉ giúp doanh nghiệp quản lý công nợ khách hàng hiệu quả mà còn có khả năng phân tích, đánh giá chất lượng từng khách hàng, từng nhà cung cấp trợ giúp ban quản trị trong việc tối ưu chiến lược kinh doanh.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận phú nhuận
MISA


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Ý thức - Mấu chốt để nâng cao chất lượng của báo cáo tài chính



“Để nâng cao chất lượng báo cáo tài chính (BCTC), mấu chốt là ở ý thức của doanh nghiệp. Chỉ khi doanh nghiệp mong muốn trình bày BCTC trung thực, minh bạch, không phục vụ mục đích riêng mà hướng tới sự phát triển bền vững, an toàn tài chính, bảo toàn vốn thì chất lượng BCTC mới được cải thiện căn bản”. Đó là ý kiến của ông Trịnh Đức Vinh - Phó Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, Bộ Tài chính trong cuộc trao đổi với phóng viên Tạp chí Chứng khoán xung quanh chủ đề làm thế nào để nâng cao chất lượng BCTC.


Có ý kiến cho rằng, các bất cập và độ minh bạch trong BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn là “điểm trừ” trong bức tranh chung về thị trường tài chính thời gian gần đây. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại bắc ninh Hiện nay, BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng trở nên trung thực và minh bạch hơn do các quy định của Nhà nước ngày càng rõ ràng và tiếp cận dần tới chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Đặc biệt BCTC của các doanh nghiệp sau khi đã được kiểm toán thì độ rủi ro đã được hạn chế một phần thông qua quá trình soát xét của các doanh nghiệp kiểm toán (DNKT).

Tuy nhiên, không thể nói là BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam đã hoàn hảo và không có vấn đề gì, việc cố tình “bóp méo” BCTC đâu đó vẫn diễn biến phức tạp theo cả 2 xu hướng lãi giả - lỗ thật và lỗ giả - lãi thật, tùy thuộc vào mục đích của lãnh đạo doanh nghiệp.

Đối với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoặc các công ty niêm yết thông thường họ có xu hướng làm đẹp BCTC, nghĩa là họ muốn giấu lỗ. Sở dĩ có câu chuyện này là bởi việc làm đẹp BCTC tại các DNNN sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi và “ghế” của các vị lãnh đạo doanh nghiệp do có sự xếp loại A, B, C.

Khi doanh nghiệp bị lỗ 2 năm liên tục thì “ghế” các vị lãnh đạo DNNN sẽ lung lay, lương, thưởng của ban điều hành bị giảm. Còn đối với các công ty cổ phần, công ty đại chúng đặc biệt là các công ty niêm yết do chịu áp lực từ cổ đông, do muốn nâng đỡ giá cổ phiếu nên BCTC cũng phải “đẹp”.

Mặt khác, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp Việt Nam rất lớn và không ai muốn cho các doanh nghiệp có BCTC xấu vay cả. Các đối tượng này thường có xu hướng muốn giấu lỗ, sẵn sàng hy sinh lợi ích về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), tức là chấp nhận lỗ nhưng vẫn nộp thuế TNDN để đạt được các mục đích khác.

Tương tự, các doanh nghiệp có ý định niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán cũng vậy, do một trong những điều kiện để được niêm yết là phải có lãi 2 năm liên tục trước khi lên sàn nên các doanh nghiệp đó cũng muốn có một BCTC “đẹp”.

Một số những “chiêu” cơ bản của các doanh nghiệp để giấu lỗ là những khoản tổn thất thì họ lại ghi nhận vào mục chi phí trả trước để phân bổ dần, nghĩa là chi phí và những khoản tổn thất thật sự sẽ được “phanh lại” và treo trên Bảng cân đối kế toán thay vì ghi nhận như một khoản lỗ của Báo cáo kết quả kinh doanh, việc không trích lập đủ các khoản dự phòng, việc ghi nhận doanh thu khi chưa đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của Chuẩn mực kế toán…

Tất cả những ví dụ trên đều nhằm mục đích làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp dẫn đến BCTC bị bóp méo theo hướng lãi giả - lỗ thật.

Ngược lại, đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp gia đình, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì mục đích của họ lại khác.

Do các doanh nghiệp này được sở hữu bởi một hoặc một số cá nhân, họ không cần nâng đỡ giá cổ phiếu, không sợ bị “mất ghế” nên mục đích của các doanh nghiệp này là làm sao có thể giảm được thuế nhiều nhất, vậy nên họ lại có xu hướng muốn giấu lãi bằng cách giấu doanh thu.

Ví dụ, nhiều doanh nghiệp bán hàng nhưng cố tình không xuất hóa đơn hoặc khi bị khách hàng yêu cầu xuất hóa đơn thì họ tìm nhiều lý do để trì hoãn làm cho những khách hàng là cá nhân thường không đủ kiên nhẫn rồi bỏ qua việc yêu cầu lấy hóa đơn.

Việc này nếu thực hiện trót lọt sẽ làm giảm thu nhập chịu thuế dẫn đến BCTC bị bóp méo theo xu hướng lỗ giả - lãi thật. Mặc dù ai cũng biết, nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp được xác định dựa trên các báo cáo thuế chứ không dựa trên BCTC, tuy nhiên BCTC lại là một trong những căn cứ quan trọng để lập nên báo cáo thuế nên nếu cơ quan thuế không kiểm tra được sự trung thực của BCTC thì khả năng rất cao là báo cáo thuế cũng bị sai lệch đáng kể.

Theo ông, nguyên nhân của hiện tượng sai lệch BCTC là do đâu và các cơ quan quản lý nhà nước cũng như bản thân các doanh nghiệp cần phải làm gì để nâng cao hơn nữa chất lượng BCTC?

Lý do sai sót trên BCTC thì có nhiều, có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, có thể là do gian lận và cũng có thể do sai sót vô ý.

Như tôi đã nói ở trên, nguyên nhân chủ yếu làm cho BCTC giảm bớt sự trung thực và minh bạch là do ý muốn chủ quan của doanh nghiệp, cố tình gian lận để trình bày BCTC theo mục đích riêng của từng doanh nghiệp, tức là muốn giấu lãi hoặc giấu lỗ.

Mặt khác, nghề kế toán là nghề của những con số nên khó tránh khỏi việc sai sót khi tính toán số liệu và nếu hệ thống kiểm soát nội bộ không làm hết trách nhiệm thì khả năng sai sót số liệu do tính toán là rất cao.

Ngoài ra, do một số quy định về pháp luật còn chưa thật sự rõ ràng, thậm chí có trường hợp còn có sự mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật nên gây khó khăn cho việc áp dụng hoặc có thể dẫn đến hiểu sai quy định của pháp luật.

Để nâng cao chất lượng BCTC, mấu chốt là ở ý thức của doanh nghiệp. Chỉ khi doanh nghiệp mong muốn trình bày BCTC trung thực, minh bạch, không phục vụ mục đích riêng mà hướng tới sự phát triển bền vững, an toàn tài chính, bảo toàn vốn thì chất lượng BCTC mới được cải thiện căn bản.

Điều này lý giải tại sao Chuẩn mực và thông lệ quốc tế luôn nhắc tới BCTC vì mục đích chung, phục vụ người đọc BCTC nói chung, phục vụ công chúng chứ không phải phục vụ mục đích của cá nhân doanh nghiệp. Nói cách khác, chỉ khi ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp được nâng cao thì BCTC mới đảm bảo độ tin cậy.

Vấn đề nguồn nhân lực cũng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong công tác kế toán, lập và trình bày BCTC. Nếu bộ máy kế toán không đủ mạnh về chuyên môn, việc hiểu và diễn giải sai chính sách là điều có thể nhìn thấy trước. Vì vậy, các doanh nghiệp cần tăng cường công tác đào tạo nhân viên để có thể nâng cao năng lực, kịp thời cập nhật các quy định mới của pháp luật trong lĩnh vực tài chính.

Trước đây, các doanh nghiệp có tư duy lập BCTC là để phục vụ cho cơ quan thuế, nhưng nay các doanh nghiệp cần phải thay đổi tư duy nhận thức là BCTC phục vụ nhu cầu quản lý của chính các chủ sở hữu của doanh nghiệp đó.

Trung tâm đào tạo kế toán tổng hợp Tại nguyễn chính thanh đống đa Do có sự khác biệt giữa BCTC và báo cáo thuế nên nếu doanh nghiệp cố “nắn” BCTC theo báo cáo thuế thì trong một số trường hợp sẽ làm sai lệch số liệu kế toán do cơ sở ghi nhận kế toán và cơ sở tính thuế là khác nhau. Hãy coi cơ quan thuế là một đối tác, một người bạn, một chủ nợ của doanh nghiệp như bao chủ nợ khác.

Ngoài ra, chất lượng BCTC còn phụ thuộc vào các cơ quan nhà nước khi hoạch định chính sách. Đó là làm sao để chính sách càng ngày càng minh bạch để khi doanh nghiệp đọc một văn bản, họ không thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và diễn giải theo nhiều ý khác nhau.

Tóm lại, việc nâng cao chất lượng BCTC cũng giống như việc chống tham nhũng, phải làm sao cho doanh nghiệp “không thể, không dám và không muốn” làm sai lệch các BCTC. “Không thể” được nói ở góc độ chính sách minh bạch nên doanh nghiệp không thể tự ý bóp méo.

Doanh nghiệp “không dám” vì nếu bóp méo, xuyên tạc chính sách sẽ phải chịu những chế tài xử phạt nặng nề của pháp luật. “Không muốn” tức là nếu bóp méo BCTC thì danh tiếng của doanh nghiệp sẽ bị tổn hại vì khi đó sẽ làm mất uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.

Như ông đã nói, BCTC cũng đã được hạn chế một phần rủi ro thông qua quá trình soát xét của các DNKT. Vậy ông có thể nói rõ hơn yếu tố nào ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của dịch vụ kiểm toán?

Có nhiều nguyên nhân làm hạn chế chất lượng dịch vụ kiểm toán và hầu hết là các nguyên nhân chủ quan.

Thứ nhất, do sự cạnh tranh gay gắt giữa các DNKT, phí kiểm toán thu được trong một số trường hợp không đủ bù đắp nổi chi phí cho cuộc kiểm toán. Để giảm bớt chi phí, các DNKT thường giảm bớt việc thu thập bằng chứng kiểm toán, không thực hiện đầy đủ các thủ tục kiểm toán, một số DNKT (tất nhiên không phải là quá phổ biến) thậm chí còn bán con dấu lấy tiền, tức là không hề thực hiện kiểm toán mà chỉ đóng dấu thu tiền.

Thứ hai, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam đều lập BCTC theo năm dương lịch, do đó mùa kiểm toán cũng phải chạy theo kỳ BCTC. Vào mùa, các DNKT thường quá tải, hầu hết các kiểm toán viên (KTV) đều phải làm việc đến khuya, lại phải phục vụ nhiều khách hàng làm cho sức khỏe KTV suy giảm, thời gian dành cho việc soát xét BCTC không nhiều, khó phát hiện ra những tình huống gian lận và sai sót trên BCTC.

Thứ ba, trình độ chuyên môn, năng lực của một số KTV chưa thật sự sắc sảo nên có thể bỏ sót một số tình huống mà bản thân các doanh nghiệp cố tình che giấu trên BCTC hoặc cũng có thể do một số quy định của pháp luật chưa thật sự rõ ràng, thậm chí có tình trạng mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật làm cho mỗi người hiểu mỗi khác. Nếu KTV không sắc sảo về chuyên môn có thể dẫn chiếu, vận dụng quy định của pháp luật một cách không phù hợp với hoàn cảnh và tình huống.

Thực tế trong những năm gần đây, hoạt động của các DNKT đã có nhiều tiến bộ. Một số chỉ tiêu chính của ngành kiểm toán đạt được đến nay như: Về số lượng khách hàng đạt khoảng 40.000; có trên 30 DNKT được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận kiểm toán cho đơn vị lợi ích công chúng; Doanh thu toàn ngành đạt xấp xỉ 5.000 tỷ đồng; Nộp ngân sách nhà nước trên 700 tỷ đồng.

Tính đến ngày 31/12/2014, có 10.866 người làm việc trong các DNKT, trong đó có 9.543 nhân viên chuyên nghiệp và 1.323 nhân viên khác. Đến ngày 15/4/2015, tổng số người được cấp chứng chỉ KTV là 3.496 người.

Mặc dù không tăng về số lượng nhưng quy mô doanh nghiệp cũng như năng lực chuyên môn và chất lượng dịch vụ kiểm toán hiện đã được cải thiện đáng kể. Nhiều DNKT có số lượng KTV lớn, KTV dày dạn kinh nghiệm đã tạo lập được vị thế và danh tiếng trên thị trường, được nhiều khách hàng lớn lựa chọn.

Khách hàng, đơn vị được kiểm toán đã thực hiện nghiêm túc hơn các nghĩa vụ trong quá trình cung cấp tài liệu, giải trình, phối kết hợp với KTV và DNKT trong quá trình kiểm toán để góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán.

Thông qua các hoạt động dịch vụ kiểm toán và tư vấn tài chính, kế toán, các DNKT đã góp phần phổ cập cơ chế chính sách kinh tế, tài chính, góp phần thực hiện công khai, minh bạch BCTC của các doanh nghiệp, ngăn ngừa lãng phí, tham nhũng, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý và điều hành kinh tế - tài chính của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

Hoạt động kiểm toán độc lập (KTĐL) ngày càng khẳng định được vị trí trong nền kinh tế thị trường, được các doanh nghiệp, tổ chức và xã hội thừa nhận và đã góp phần quan trọng trong việc làm lành mạnh hóa môi trường đầu tư và nền tài chính quốc gia.

Tất nhiên, ngoài những mặt tích cực, cũng còn một số hạn chế như: Một số hợp đồng kiểm toán BCTC của doanh nghiệp, tổ chức bắt buộc phải kiểm toán BCTC chưa được giao kết theo đúng quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật KTĐL; Chương trình đào tạo tại một số DNKT chưa đầy đủ, phù hợp và chưa được cụ thể cho từng cấp độ nhân viên, dẫn đến tình trạng nhân viên chưa nắm rõ, việc thực hiện qua hồ sơ kiểm toán còn mang tính hình thức, chưa theo đúng quy chế công ty quy định; Báo cáo phát hành ý kiến kiểm toán chưa phù hợp hoặc chưa thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán khi đưa ra ý kiến kiểm toán và còn có các sai sót trên BCTC đính kèm báo cáo kiểm toán (BCKT).

Mặt khác, một số DNKT chưa tiến hành kiểm tra, đánh giá chất lượng hợp đồng dịch vụ, chưa thực hiện việc công khai báo cáo minh bạch theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 16 Thông tư số 183/2013/TT-BTC ngày 04/12/2013 của Bộ Tài chính về KTĐL đối với đơn vị có lợi ích công chúng.

Một số DNKT chưa theo dõi một cách chặt chẽ về việc luân chuyển KTV ký BCKT đối với các khách hàng kiểm toán trên 03 năm; KTV vi phạm quy định về ký BCKT quá 03 năm liên tục cho một đơn vị được kiểm toán. Ngoài ra, có chi nhánh của DNKT không đăng ký kinh doanh dịch vụ kiểm toán và không đăng ký hành nghề kiểm toán với Bộ Tài chính nhưng vẫn ký hợp đồng kiểm toán với đơn vị được kiểm toán và có dấu hiệu các KTV có đăng ký hành nghề nhưng thực sự không hành nghề kiểm toán.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận ba đình Theo Tạp chí Chứng khoán 6/2016



Read More Add your Comment 0 nhận xét


4 nguyên tắc quản lý đơn hàng không thể bỏ qua trong phân phối



Trong hoạt động phân phối việc quản lý đơn hàng là rất quan trọng, để quản lý đơn hàng hiệu quả phải đảm bảo thông tin xuyên suốt, kịp thời, nhanh chóng, chính xác giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng và đáp ứng đầy đủ các nguyên tắc quản lý đơn hàng.


dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty trọn gói giá rẻ tại hà đông 1. Quản lý đơn hàng là gì?
Trong chuỗi cung ứng, quản lý đơn hàng là quá trình duyệt thông tin của khách hàng từ nhà bán lẻ đến nhà phân phối nhằm mục đích phục vụ cho nhà cung cấp và nhà sản xuất. Quá trình này cũng đồng thời duyệt thông tin về ngày giao hàng, sản phẩm thay thế và những đơn hàng thực hiện trước đó của khách hàng. Quá trình này dựa vào điện thọai và các chứng từ có liên quan như đơn hàng, đơn hàng thay đổi, bảng báo giá, hóa đơn bán hàng. . .

Quá trình quản lý đơn hàng theo truyền thống tốn nhiều thời gian và hoạt động chồng chéo. Đó là do sự di chuyển dòng dữ liệu trong chuỗi cung ứng diễn ra chậm. Sự di chuyển chậm này có thể đảm bảo tốt cho chuỗi cung ứng đơn giản, nhưng với chuỗi cung ứng phức tạp thì cần phải yêu cầu mục tiêu hiệu quả và nhanh chóng. Quản lý đơn hàng hiện đại tập trung vào những kỹ thuật có thể giúp dòng dữ liệu liên quan đến đơn hàng diễn ra nhanh hơn và hiệu quả hơn.

4_nguyen_tac_quan_ly_don_hang_khong_the_bo_qua

2. Nguyên tắc quản lý đơn hàng không thể bỏ qua trong phân phối
Nhập dữ liệu cho một đơn hàng: nhập một và chỉ một lần.
Sao chép dữ liệu bằng các ứng dụng công nghệ có liên quan đến nguồn dữ liệu nếu có thể, và tránh nhập lại dữ liệu bằng tay vì dữ liệu này cần chuẩn xác để lưu thông suốt kênh phân phối. Thông thường, cách hữu ích nhất là để nhân viên bán hàng tự nhập các đơn hàng vào hệ thống quản lý của công ty ngay tại điểm bán, sau đó hệ thống này sẽ truyền dữ liệu đến các thành viên khác có liên quan trong kênh phân phối như kế toán, nhân viên kho hàng, nhà cung cấp…
Tự động hóa bán hàng.
Thực tế cho thấy, quá trình đặt và quản lý đơn hàng diễn ra mỗi ngày tại doanh nghiệp cần được tự động hóa để trở nên tối ưu nhưng vẫn phải đảm bảo tính linh hoạt để đối phó với các trường hợp xảy ra lỗi đơn hàng, tránh chồng chéo chức năng và trách nhiệm giữa các bộ phận có vai trò tiếp thị và bán hàng khi xử lý sự cố bất ngờ.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải dương Quá trình xử lý bằng tay nên được tối thiểu hóa nhằm giảm tối đa độ trễ đơn hàng và những sai sót, nhầm lẫn thường gặp khi lên đơn, tiếp nhận và xử lý đơn thủ công.
Bên cạnh đó hệ thống phải có khả năng gửi dữ liệu cần thiết cho các thành viên thuộc những bộ phận liên quan nhằm thuận tiện hơn trong việc kịp thời hỗ trợ xử lý các trường hợp ngoại lệ (lỗi đơn hàng, khách hàng hủy đơn đặt hàng, các yêu cầu đặc thù…)
Theo dõi trạng thái xử lý đơn hàng.
Khi lượng đơn hàng phát sinh mỗi ngày lớn hoặc đơn hàng có quá trình hoàn thành đơn hàng kéo dài, việc theo dõi trạng thái xử lý từng đơn hàng là vô cùng quan trọng. Điều đó giúp kế toán phân loại được trạng thái đơn hàng, phía kho hàng nằm được các đơn đã hoàn thành, các đơn hàng thực hiện, nhằm rút ngắn quy trình bán hàng, tránh tình trạng bỏ xót đơn hàng.
Khi một đơn hàng gặp vấn đề thì doanh nghiệp có thể lấy thông tin đơn hàng đó để làm việc trực tiếp với các thành viên liên quan.
Tích hợp hệ thống đặt hàng với các hệ thống liên quan khác để duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu.
Hệ thống tiếp nhận đơn đặt hàng phải có dữ liệu mô tả về sản phẩm, giá cả và các chương trình khuyến mại để hỗ trợ khách hàng ra quyết định mùa hàng nhanh chóng. Hệ thống này cần đảm bảo các thông tin trên về sản phẩm được tích hợp và đồng nhất với các hệ thống đặt hàng, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp cập nhật và kiểm soát được dữ liệu đặt hàng trong hệ thống, doanh thu, thông tin trạng thái tồn kho, kế hoạch phân phối,… Khi khách hàng tiến hành đặt hàng, dữ liệu này phải được tự động cập nhật vào hệ thống kịp thời và chính xác.
Đồng thời hệ thống đặt hàng cũng cần tích hợp đầy đủ thông tin khách hàng bao gồm lịch sử đặt hàng, các giao dịch đã diễn ra...
3. Hệ thống quản lý đơn hàng phù hợp trong phân phối.
Với 4 nguyên tắc quản lý đơn hàng nêu trên, phương thức quản lý thủ công lúc này trở nên thiếu phù hợp và không thể đáp ứng được. Phần mềm MISA SME.NET 2017 ngoài việc đáp ứng đầy đủ các nghiệp vụ kế toán còn giúp các doanh nghiệp thực hiện công việc quản lý đơn hàng hiệu quả và thuận tiện hơn.
Đăng kí dùng thử phần mềm MISA SME.NET 2017 ngày từ hôm nay

lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại bắc ninh MISA



Read More Add your Comment 0 nhận xét


Lời khuyên đắt giá giúp doanh nghiệp mới chọn công cụ kế toán “chuẩn”



Số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, 9 tháng đầu năm 2016 tổng số doanh nghiệp thành lập mới là hơn 81.000. Tuy nhiên, hơn 53.000 doanh nghiệp khác đã kịp đăng ký tạm dừng kinh doanh, chờ hoặc đã hoàn tất thủ tục giải thể. Làm thế nào để giữa thương trường khắc nghiệt, doanh nghiệp mới thành lập sẽ đứng vững?


dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà đông
Nắm chắc các công cụ tối ưu để hỗ trợ điều hành ngay từ khi mới thành lập sẽ giúp các doanh nghiệp thiết lập những bước đi vững chắc, trong đó có kế toán - “bộ não tài chính” của bất cứ doanh nghiệp nào. Mua phần mềm tốt hỗ trợ thay vì dùng excel, sổ sách giấy tờ thủ công là việc mà ông chủ nào cũng nên làm.

Dưới đây là 5 lời khuyên hữu ích cho chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ khi chọn phần mềm kế toán tốt:

Chọn phần mềm phù hợp lĩnh vực đang kinh doanh

Nếu là doanh nghiệp thương mại, dịch vụ, phần mềm phải theo dõi được các khoản doanh thu, chi phí, công nợ và tự động tính lợi nhuận theo từng bộ phận. Nếu sản xuất hay xây lắp, hãy coi trọng tính năng tính giá thành sản phẩm theo nhiều phương pháp để giúp tiết kiệm thời gian trong việc xác định giá thành sản phẩm.

Chọn phần mềm giúp tăng năng suất bộ phận kế toán

Khi quyết định dùng phần mềm phải đặt mục tiêu giúp tiết kiệm được bao nhiêu % thời gian làm việc của kế toán, thủ quỹ, thủ kho. Khả năng tổng hợp nhanh và chính xác của phần mềm sẽ giúp doanh nghiệp có các báo cáo kế toán tài chính, quản trị để ra quyết định điều hành chuẩn xác.

Trung tâm đào tạo kế toán thực hành Tại cầu giấy
Chọn phần mềm của đơn vị có kinh nghiệm, uy tín

Tìm hiểu nhà cung cấp đã bán phần mềm lâu chưa, số lượng khách hàng mà họ phục vụ, có uy tín trong giới CNTT hay không. Đừng bỏ qua các chứng chỉ về quản lý chất lượng, an ninh thông tin mà đơn vị đó đang áp dụng để đảm bảo được dùng “hàng xịn”.

Giao diện đẹp, đơn giản, dễ sử dụng

Hình thức của phần mềm rất quan trọng, để nhân viên kế toán dễ sử dụng, người đọc báo cáo thấy thuận tiện. Phần mềm cần có giao diện thuần Việt, các nghiệp vụ sắp xếp tuần tự trực quan theo luồng quy trình công việc, dễ hiểu.

Mua dịch vụ tốt bên cạnh phần mềm tốt

Trong thời gian bảo hành phải được sử dụng những tính năng mới nhất, kể cả các tính năng thay đổi do quy định mới của cơ quan Nhà nước. Mua phần mềm là mua dịch vụ, đơn vị cung cấp chăm sóc hậu bán hàng chu đáo như trung tâm tư vấn, giải đáp thắc mắc của khách hàng, tài liệu hướng dẫn tự học,...

Các lời khuyên trên đây sẽ giúp bạn “chấm điểm” phần mềm kế toán một cách chính xác, phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp mình. “Bộ não tài chính” của doanh nghiệp khi có công cụ hỗ trợ hữu hiệu, sẽ phát huy tối đa năng suất, hỗ trợ phát triển bài bản ngay từ giai đoạn mới thành lập.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ  tại quận hoàng mai
Theo Trí Thức Trẻ


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Phương pháp hạch toán hàng thiếu, hàng thừa




Trong quá trình kinh doanh không thể tránh khỏi trường hợp phát sinh hàng thừa, hàng thiếu ví dụ như: nhầm lẫn, cân, đo, đong, đếm, do quên ghi sổ, nhận giữ hộ, gia công... Vậy phương pháp hạch toán hàng thiếu, hàng thừa như thế nào?


1. Cách xử lý hàng thiếu - hạch toán hàng thiếu:

Khi phát hiện hàng về nhập kho thiếu so với hóa đơn. Kế toán hạch toán:

Nợ 156: số hàng thực tế nhập kho
Nợ 1381: Hàng thiếu chờ xử lý.
Nợ 1331: số thuế GTGT đươc khấu trừ theo hóa đơn ( số đủ)
Có 111/112/331…

Kế toán Kho sẽ phải liên hệ với bên bán để tìm nguyên nhân. Các nguyên nhân có thể gây ra hàng thiếu bao gồm:hạch toán xử lý hàng thiếu thừa

+ Do bên bán.
+ Do vận chuyển.
+ Do bên mua.

Do bên bán:

Nếu do bên bán xuất kho thiếu hàng thì bên mua yêu cầu xuất nốt chỗ hàng còn thiếu:

Căn cứ vào phiếu nhập kho, kế toán hạch toán nốt số hàng còn thiếu:

Nợ 156: số hàng thiếu
Có 1381: số hàng thiếu

Nếu bên bán không còn hàng để chuyển thì họ có thể trả lại tiền cho bên mua, hoặc đối trừ công nợ.

Nợ 111, 112, 331… ( Vì khi mua chúng ta trả tiền cho nhà cung cấp có thuế, nên số tiền này cũng sẽ phải bao gồm cả thuế)
Có 1381: Số hàng thiếu
Có 1331: Thuế suất của hàng thiếu X số hàng thiếu

Do vận chuyển (Có thể do bên bán thuế hoặc bên mua thuê)

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hải phòng - Nếu bên vận chuyển mua hàng bồi thường:
Nợ 156: số hàng nhập kho nốt.
Có 1381: số hàng thiếu

- Nếu mặt hàng khan hiếm, không mua được hoặc muốn bồi thường bằng tiền thì hạch toán:

Nợ 111, 112, 1388 ( cũng phải có thuế)
Có 1381: số hàng thiếu
Có 1331: Thuế suất của hàng thiếu X số hàng thiếu

- Nếu doanh nghiệp yêu cầu bồi thường cao hơn mức giá trị của hàng mua thì hạch toán tiếp:

Nợ 111, 112, 1388 :
Có 711: phần giá trị cao hơn so với gia trị của hàng thiếu

- Nếu phần bồi thường thấp hơn giá trị của hàng thiếu, phần còn lại doanh nghiệp tính vào chi phí:

Nợ 632/642/811: Phần giá trị không được bồi thường ( có thuế)
Có  1831: Phần giá trị hàng thiếu không được bồi thường
Có 1331: Thuế suất của hàng thiếu X Phần giá trị hàng thiếu không được bồi thường

Do bên mua: (Bao gồm cả trường hợp hàng thiếu khi kiểm kê).

- Trừ vào lương nhân viên vẩn chuyển, trông coi, bốc dỡ hàng hoặc yêu cầu bồi thường bằng tiền:

Nợ 334, 111, 112
Có 1381: Số hàng thiếu
Có 1331: Thuế GTGT đã khấu trừ của số hàng thiếu.

- Đền hàng:

Nợ 156: số hàng thiếu
Có 1381: số hàng thiếu

- Doanh nghiệp không trừ vào lương, hay bắt nhân viên bồi thường mà tính vào chi phí của doanh nghiệp:

Nợ 632/642/811: Phần giá trị không được bồi thường ( có thuế)
Có  1831: Phần giá trị hàng thiếu không được bồi thường
Có 1331: Thuế suất của hàng thiếu X Phần giá trị hàng thiếu không được bồi thường

Chú ý:

- Đối với các trường hợp không yêu cầu người làm mất bồi thường mà tính vào chi phí của doanh nghiệp thì chi phí này sẽ KHÔNG ĐƯỢC TRỪ khi tính thuế TNDN.

- Ai là người tiêu dùng cuối cùng sẽ phải chịu thuế GTGT do đó người làm mất coi như là người tiêu dùng nên khi bồi thường họ sẽ phải bồi thường giá có thuế, và doanh nghiệp mua sẽ phải hạch toán giảm thuế GTGT được khấu trừ. (vì đã được bồi thường giá có thuế).

- Các trường hợp tổn thất không được bồi thường được khấu trừ thuế GTGT đầu vào gồm: thiên tai, hỏa hoạn, các trường hợp tổn thất không được bảo hiểm bồi thường, hàng hóa mất phẩm chất, quá hạn sử dụng phải tiêu hủy. Cơ sở kinh doanh phải có đầy đủ hồ sơ, tài liệu chứng minh các trường hợp tổn thất không được bồi thường để khấu trừ thuế.

Theo khoản 1 điều 14 của thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn về thuế GTGT.

Trung tâm đào tạo kế toán thực hành Tại long biên 2. Cách xử lý hàng thừa:

Khi phát hiện hàng thừa, kế toán phải lập biên bản và tìm nguyên nhân:

- Nếu do nhầm lẫn, cân, đo, do quên ghi sổ hay ghi sổ thiếu... thì điều chỉnh lại sổ kế toán.
- Nếu chưa xác định được nguyên nhân chờ xử lý thì hạch toán:

Nợ 156: số hàng thừa
Có 3381: tài sản thừa chờ giải quyết
.
Xử lý hàng thừa:

- Nếu trả lại người bán, người mua:

Nợ 3381: số hàng thừa phải trả.
Có 156: số hàng thừa.
- Nếu không tìm được nguyên nhân:

Nợ 3381: số hàng thừa chờ xử lý.
Có 711: số hàng thừa.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận long biên Tổng hợp


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hoàn thiện môi trường pháp lý, tăng tính cạnh tranh cho hoạt động dịch vụ kế toán



Việt Nam đã cam kết mở cửa toàn diện thị trường dịch vụ kế toán khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và Hiệp định đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP). Đây là cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán và hành nghề kế toán, song cũng là thách thức đặt ra đối với thị trường dịch vụ kế toán Việt Nam còn non trẻ bởi các quy định luật pháp về kế toán mới được hình thành và các yếu tố của thị trường chưa đầy đủ, đội ngũ kế toán viên có chứng chỉ theo quy chuẩn quốc tế còn ít về số lượng và hạn chế về chất lượng…



Cơ hội và thách thức của thị trường dịch vụ kế toán Việt Nam

Thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay là thực hiện những cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ kế toán. Việt Nam đã cam kết mở cửa toàn diện thị trường này khi gia nhập WTO, AEC và Hiệp định TPP. Trong đó, có cam kết về đảm bảo sự di chuyển về thể nhân của những người hành nghề kế toán, những người có chứng chỉ kế toán viên, được thừa nhận. Đây là cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp (DN) kinh doanh dịch vụ kế toán và hành nghề kế toán, song cũng là thách thức đặt ra đối với thị trường dịch vụ kế toán Việt Nam mới được hình thành và thừa nhận, còn rất non trẻ và đầy tiềm năng.

Các quy định luật pháp về kế toán của nước ta mới được hình thành và các yếu tố của thị trường chưa được kiện toàn. Phạm vi hoạt động của thị trường còn hẹp và chưa thực sự được xã hội quan tâm đúng mức. Đội ngũ kế toán viên có chứng chỉ theo đúng nghĩa và quy chuẩn quốc tế còn ít về số lượng và hạn chế về chất lượng.

Thống kê của Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam cũng cho thấy, ngoài sự góp mặt của 4 công ty 100% vốn nước ngoài (gồm Công ty KPMG, Công ty PwC, Công ty Grant Thornton và Công ty Ernst & Young), thị trường còn hiện diện 160 công ty tư vấn tài chính, kế toán và kiểm toán hoạt động trên thị trường với hơn 9.000 kế toán viên và kiểm toán viên, chỉ chiếm 5,44% so với các nước trong AEC.

Nhìn chung, hoạt động dịch vụ kế toán là một thị trường dịch vụ cao cấp đòi hỏi thật sự chuẩn hóa về quy trình cung cấp dịch vụ, sự minh bạch và tin cậy, sự hữu ích của dịch vụ và đặc biệt là chất lượng dịch vụ, năng lực, trình độ và tính chuyên nghiệp của các thể nhân, các pháp nhân hành nghề kế toán và kiểm toán. Do vậy, cần hoàn thiện một số vấn đề sau:

Thứ nhất, tích cực chuẩn bị khẩn trương về nhận thức, tạo lập các khuôn khổ pháp lý và đẩy mạnh việc tạo dựng môi trường, xây dựng đội ngũ các DN cung cấp dịch vụ, đội ngũ kế toán, kiểm toán viên hành nghề…

Thứ hai, tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi hỗ trợ các DN kinh doanh dịch vụ kế toán hoạt động trên thị trường.

Thứ ba, gấp rút xây dựng và vận hành chương trình đào tạo huấn luyện, chính thức hóa và chuẩn hóa chứng chỉ kế toán viên; tổ chức lại quy trình đào tạo, thi và cấp chứng chỉ kế toán viên, quy trình quản lý hành nghề, kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán phù hợp và theo thông lệ quốc tế.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hải phòng Thứ tư, kế toán là một nghề như bao nhiêu nghề khác, vậy nên cần phân loại các chức danh của nghề kế toán giống như nghề kiểm toán được quy định trong Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2014.

Những đổi mới đáp ứng nhu cầu hội nhập

Nhằm phù hợp với điều kiện kinh tế mới, Luật Kế toán năm 2015 (có hiệu lực từ 1/1/2017), đã quy định cụ thể về nội dung công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán, người làm kế toán, hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán, quản lý nhà nước về kế toán và tổ chức nghề nghiệp về kế toán. Theo đó, so với Luật Kế toán 2003, Luật Kế toán 2015 đã bổ sung thêm một số điểm mới sau:

- Chứng chỉ kế toán viên: Người được cấp chứng chỉ kế toán viên phải có 3 tiêu chuẩn: Có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp hành pháp luật; Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc chuyên ngành tài chính, kế toán, kiểm toán hoặc chuyên ngành khác theo quy định của Bộ Tài chính; Đạt kết quả kỳ thi lấy chứng chỉ kế toán viên qua kỳ thi do Bộ Tài chính tổ chức và cấp bằng.

- Đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán: Quy định các điều kiện người có Chứng chỉ kế toán viên hoặc Chứng chỉ kiểm toán viên đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán qua DN kinh doanh dịch vụ kế toán  hoặc Hộ kinh doanh dịch vụ kế toán có 3 điều kiện: Có năng lực hành vi dân sự; có thời gian công tác thực tế về tài chính, kế toán và kiểm toán là 36 tháng và tham gia chương trình cập nhật kiến thức theo quy định; quy định những người không được hành nghề dịch vụ kế toán.

- DN kinh doanh dịch vụ kế toán: Công ty TNHH hai thành viên trở lên; Công ty hợp danh và DN tư nhân phải đủ điều kiện về chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán; quy định DN nước ngoài thực hiện kinh doanh dịch vụ kế toán  tại Việt Nam.

- Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán đối với từng loại hình DN cụ thể: Công ty TNHH hai thành viên trở lên được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán khi có đủ 4 điều kiện; Công ty hợp danh được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán  khi có đủ 3 điều kiện; DN tư nhân được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán khi có đủ 3 điều kiện và chi nhánh DN kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài tại Việt Nam được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán khi có đủ 4 điều kiện.

- Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán: Bao gồm 7 loại giấy tờ.

- Thời hạn cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán: Trong thời hạn 15 ngày làm việc, trường hợp cần làm rõ vấn đề liên quan đến hồ sơ cần giải trình thì thời hạn tính từ khi hồ sơ hoàn chỉnh.

- Cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán: Quy định rõ các trường hợp được cấp lại Giấy chứng nhận, hồ sơ xin cấp lại và thời gian hoàn trả.

- Phí cấp, cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán: Theo quy định của Chính phủ.

- Hộ kinh doanh dịch vụ kế toán: Hộ kinh doanh được phép kinh doanh dịch vụ kế toán khi đáp ứng được 2 điều kiện: Có Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh và cá nhân, đại diện nhóm cá nhân thành lập hộ kinh doanh phải là kế toán viên. Hộ kinh doanh dịch vụ kế toán không cần có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán.

- Những thay đổi phải thông báo cho Bộ Tài chính: Quy định những thay đổi DN kinh doanh dịch vụ kế toán phải thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính trong thời hạn 10 ngày.

-Trách nhiệm của kế toán viên hành nghề, DN kinh doanh dịch vụ kế toán, hộ kinh doanh dịch vụ kế toán, trong đó có quy định mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo quy định của Chính phủ.

- Trường hợp không được cung cấp dịch vụ kế toán: Có 6 trường hợp không được cung cấp dịch vụ kế toán.

Trung tâm đào tạo kế toán thực hành Tại long biên Hành lang pháp lý về kế toán, kiểm toán của Việt Nam được đổi mới căn bản, từng bước, thừa nhận, áp dụng các Chuẩn mực kế toán, Chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Từ đó, giúp cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán và người làm kế toán hoạt động, phát triển và cạnh tranh lành mạnh trên thị trường dịch vụ kế toán trong nước và quốc tế.
Ngoài ra, Luật Kế toán mới cũng quy định các trường hợp mà DN kinh doanh dịch vụ kế toán bị đình chỉ kinh doanh dịch vụ kế toán; bị thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán; bị thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán phải chấm dứt việc kinh doanh dịch vụ kế toán; Các hộ kinh kinh doanh dịch vụ kế toán bị đình chỉ hoặc chấm dứt kinh doanh dịch vụ kế toán; Các trường hợp mà Kế toán viên hành nghề bị đình chỉ hành nghề dịch vụ kế toán và bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán.

- Tổ chức nghề nghiệp về kế toán: Quy định việc thành lập, hoạt động và trách nhiệm của tổ chức nghề nghiệp về kế toán.

Như vậy, hành lang pháp lý về kế toán, kiểm toán của Việt Nam đã được đổi mới căn bản, từng bước, thừa nhận, áp dụng các Chuẩn mực kế toán, Chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Thế giới đã biết đến và thừa nhận khuôn khổ pháp lý về kế toán, kiểm toán của Việt Nam. Từ đó, giúp cho các DN kinh doanh dịch vụ kế toán và người làm kế toán hoạt động, phát triển và cạnh tranh lành mạnh trên thị trường dịch vụ kế toán trong nước và quốc tế.

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội, Luật Kế toán số 03/2003/QH11; Luật Kế toán số 88/2015/QH13;

2. Quốc hội, Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014;

3. Chính phủ, Nghị định số 129/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004;

4. Chính phủ, Nghị định số 185/2004/NĐ-CP ngày 4/11/2004 của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính về lĩnh vực kế toán; 

5. Thông tư  số 72/2007/TT-BTC ngày 27/6/2007 của Bộ Tài chính về hướng dẫn đăng ký và quản lý hành nghề kế toán...
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại huyện gia lâm Theo tạp chí Tài chính kỳ II tháng 11/2016


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Ý thức - Mấu chốt để nâng cao chất lượng của báo cáo tài chính



“Để nâng cao chất lượng báo cáo tài chính (BCTC), mấu chốt là ở ý thức của doanh nghiệp. Chỉ khi doanh nghiệp mong muốn trình bày BCTC trung thực, minh bạch, không phục vụ mục đích riêng mà hướng tới sự phát triển bền vững, an toàn tài chính, bảo toàn vốn thì chất lượng BCTC mới được cải thiện căn bản”. Đó là ý kiến của ông Trịnh Đức Vinh - Phó Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, Bộ Tài chính trong cuộc trao đổi với phóng viên Tạp chí Chứng khoán xung quanh chủ đề làm thế nào để nâng cao chất lượng BCTC.


Có ý kiến cho rằng, các bất cập và độ minh bạch trong BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn là “điểm trừ” trong bức tranh chung về thị trường tài chính thời gian gần đây. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Hiện nay, BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng trở nên trung thực và minh bạch hơn do các quy định của Nhà nước ngày càng rõ ràng và tiếp cận dần tới chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Đặc biệt BCTC của các doanh nghiệp sau khi đã được kiểm toán thì độ rủi ro đã được hạn chế một phần thông qua quá trình soát xét của các doanh nghiệp kiểm toán (DNKT).

Tuy nhiên, không thể nói là BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam đã hoàn hảo và không có vấn đề gì, việc cố tình “bóp méo” BCTC đâu đó vẫn diễn biến phức tạp theo cả 2 xu hướng lãi giả - lỗ thật và lỗ giả - lãi thật, tùy thuộc vào mục đích của lãnh đạo doanh nghiệp.

Đối với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoặc các công ty niêm yết thông thường họ có xu hướng làm đẹp BCTC, nghĩa là họ muốn giấu lỗ. Sở dĩ có câu chuyện này là bởi việc làm đẹp BCTC tại các DNNN sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi và “ghế” của các vị lãnh đạo doanh nghiệp do có sự xếp loại A, B, C.

Khi doanh nghiệp bị lỗ 2 năm liên tục thì “ghế” các vị lãnh đạo DNNN sẽ lung lay, lương, thưởng của ban điều hành bị giảm. Còn đối với các công ty cổ phần, công ty đại chúng đặc biệt là các công ty niêm yết do chịu áp lực từ cổ đông, do muốn nâng đỡ giá cổ phiếu nên BCTC cũng phải “đẹp”.

Mặt khác, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp Việt Nam rất lớn và không ai muốn cho các doanh nghiệp có BCTC xấu vay cả. Các đối tượng này thường có xu hướng muốn giấu lỗ, sẵn sàng hy sinh lợi ích về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), tức là chấp nhận lỗ nhưng vẫn nộp thuế TNDN để đạt được các mục đích khác.

Tương tự, các doanh nghiệp có ý định niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán cũng vậy, do một trong những điều kiện để được niêm yết là phải có lãi 2 năm liên tục trước khi lên sàn nên các doanh nghiệp đó cũng muốn có một BCTC “đẹp”.

Một số những “chiêu” cơ bản của các doanh nghiệp để giấu lỗ là những khoản tổn thất thì họ lại ghi nhận vào mục chi phí trả trước để phân bổ dần, nghĩa là chi phí và những khoản tổn thất thật sự sẽ được “phanh lại” và treo trên Bảng cân đối kế toán thay vì ghi nhận như một khoản lỗ của Báo cáo kết quả kinh doanh, việc không trích lập đủ các khoản dự phòng, việc ghi nhận doanh thu khi chưa đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của Chuẩn mực kế toán…

Tất cả những ví dụ trên đều nhằm mục đích làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp dẫn đến BCTC bị bóp méo theo hướng lãi giả - lỗ thật.

Ngược lại, đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp gia đình, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì mục đích của họ lại khác.

Do các doanh nghiệp này được sở hữu bởi một hoặc một số cá nhân, họ không cần nâng đỡ giá cổ phiếu, không sợ bị “mất ghế” nên mục đích của các doanh nghiệp này là làm sao có thể giảm được thuế nhiều nhất, vậy nên họ lại có xu hướng muốn giấu lãi bằng cách giấu doanh thu.

Ví dụ, nhiều doanh nghiệp bán hàng nhưng cố tình không xuất hóa đơn hoặc khi bị khách hàng yêu cầu xuất hóa đơn thì họ tìm nhiều lý do để trì hoãn làm cho những khách hàng là cá nhân thường không đủ kiên nhẫn rồi bỏ qua việc yêu cầu lấy hóa đơn.

Việc này nếu thực hiện trót lọt sẽ làm giảm thu nhập chịu thuế dẫn đến BCTC bị bóp méo theo xu hướng lỗ giả - lãi thật. Mặc dù ai cũng biết, nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp được xác định dựa trên các báo cáo thuế chứ không dựa trên BCTC, tuy nhiên BCTC lại là một trong những căn cứ quan trọng để lập nên báo cáo thuế nên nếu cơ quan thuế không kiểm tra được sự trung thực của BCTC thì khả năng rất cao là báo cáo thuế cũng bị sai lệch đáng kể.

Theo ông, nguyên nhân của hiện tượng sai lệch BCTC là do đâu và các cơ quan quản lý nhà nước cũng như bản thân các doanh nghiệp cần phải làm gì để nâng cao hơn nữa chất lượng BCTC?

Lý do sai sót trên BCTC thì có nhiều, có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, có thể là do gian lận và cũng có thể do sai sót vô ý.

Như tôi đã nói ở trên, nguyên nhân chủ yếu làm cho BCTC giảm bớt sự trung thực và minh bạch là do ý muốn chủ quan của doanh nghiệp, cố tình gian lận để trình bày BCTC theo mục đích riêng của từng doanh nghiệp, tức là muốn giấu lãi hoặc giấu lỗ.

Mặt khác, nghề kế toán là nghề của những con số nên khó tránh khỏi việc sai sót khi tính toán số liệu và nếu hệ thống kiểm soát nội bộ không làm hết trách nhiệm thì khả năng sai sót số liệu do tính toán là rất cao.

Ngoài ra, do một số quy định về pháp luật còn chưa thật sự rõ ràng, thậm chí có trường hợp còn có sự mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật nên gây khó khăn cho việc áp dụng hoặc có thể dẫn đến hiểu sai quy định của pháp luật.

Để nâng cao chất lượng BCTC, mấu chốt là ở ý thức của doanh nghiệp. Chỉ khi doanh nghiệp mong muốn trình bày BCTC trung thực, minh bạch, không phục vụ mục đích riêng mà hướng tới sự phát triển bền vững, an toàn tài chính, bảo toàn vốn thì chất lượng BCTC mới được cải thiện căn bản.

Điều này lý giải tại sao Chuẩn mực và thông lệ quốc tế luôn nhắc tới BCTC vì mục đích chung, phục vụ người đọc BCTC nói chung, phục vụ công chúng chứ không phải phục vụ mục đích của cá nhân doanh nghiệp. Nói cách khác, chỉ khi ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp được nâng cao thì BCTC mới đảm bảo độ tin cậy.

Vấn đề nguồn nhân lực cũng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong công tác kế toán, lập và trình bày BCTC. Nếu bộ máy kế toán không đủ mạnh về chuyên môn, việc hiểu và diễn giải sai chính sách là điều có thể nhìn thấy trước. Vì vậy, các doanh nghiệp cần tăng cường công tác đào tạo nhân viên để có thể nâng cao năng lực, kịp thời cập nhật các quy định mới của pháp luật trong lĩnh vực tài chính.

Trung tâm đào tạo kế toán thực hành Tại vũng tàu Trước đây, các doanh nghiệp có tư duy lập BCTC là để phục vụ cho cơ quan thuế, nhưng nay các doanh nghiệp cần phải thay đổi tư duy nhận thức là BCTC phục vụ nhu cầu quản lý của chính các chủ sở hữu của doanh nghiệp đó.

Do có sự khác biệt giữa BCTC và báo cáo thuế nên nếu doanh nghiệp cố “nắn” BCTC theo báo cáo thuế thì trong một số trường hợp sẽ làm sai lệch số liệu kế toán do cơ sở ghi nhận kế toán và cơ sở tính thuế là khác nhau. Hãy coi cơ quan thuế là một đối tác, một người bạn, một chủ nợ của doanh nghiệp như bao chủ nợ khác.

Ngoài ra, chất lượng BCTC còn phụ thuộc vào các cơ quan nhà nước khi hoạch định chính sách. Đó là làm sao để chính sách càng ngày càng minh bạch để khi doanh nghiệp đọc một văn bản, họ không thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và diễn giải theo nhiều ý khác nhau.

Tóm lại, việc nâng cao chất lượng BCTC cũng giống như việc chống tham nhũng, phải làm sao cho doanh nghiệp “không thể, không dám và không muốn” làm sai lệch các BCTC. “Không thể” được nói ở góc độ chính sách minh bạch nên doanh nghiệp không thể tự ý bóp méo.

Doanh nghiệp “không dám” vì nếu bóp méo, xuyên tạc chính sách sẽ phải chịu những chế tài xử phạt nặng nề của pháp luật. “Không muốn” tức là nếu bóp méo BCTC thì danh tiếng của doanh nghiệp sẽ bị tổn hại vì khi đó sẽ làm mất uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.

Như ông đã nói, BCTC cũng đã được hạn chế một phần rủi ro thông qua quá trình soát xét của các DNKT. Vậy ông có thể nói rõ hơn yếu tố nào ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của dịch vụ kiểm toán?

Có nhiều nguyên nhân làm hạn chế chất lượng dịch vụ kiểm toán và hầu hết là các nguyên nhân chủ quan.

Thứ nhất, do sự cạnh tranh gay gắt giữa các DNKT, phí kiểm toán thu được trong một số trường hợp không đủ bù đắp nổi chi phí cho cuộc kiểm toán. Để giảm bớt chi phí, các DNKT thường giảm bớt việc thu thập bằng chứng kiểm toán, không thực hiện đầy đủ các thủ tục kiểm toán, một số DNKT (tất nhiên không phải là quá phổ biến) thậm chí còn bán con dấu lấy tiền, tức là không hề thực hiện kiểm toán mà chỉ đóng dấu thu tiền.

Thứ hai, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam đều lập BCTC theo năm dương lịch, do đó mùa kiểm toán cũng phải chạy theo kỳ BCTC. Vào mùa, các DNKT thường quá tải, hầu hết các kiểm toán viên (KTV) đều phải làm việc đến khuya, lại phải phục vụ nhiều khách hàng làm cho sức khỏe KTV suy giảm, thời gian dành cho việc soát xét BCTC không nhiều, khó phát hiện ra những tình huống gian lận và sai sót trên BCTC.

Thứ ba, trình độ chuyên môn, năng lực của một số KTV chưa thật sự sắc sảo nên có thể bỏ sót một số tình huống mà bản thân các doanh nghiệp cố tình che giấu trên BCTC hoặc cũng có thể do một số quy định của pháp luật chưa thật sự rõ ràng, thậm chí có tình trạng mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật làm cho mỗi người hiểu mỗi khác. Nếu KTV không sắc sảo về chuyên môn có thể dẫn chiếu, vận dụng quy định của pháp luật một cách không phù hợp với hoàn cảnh và tình huống.

Thực tế trong những năm gần đây, hoạt động của các DNKT đã có nhiều tiến bộ. Một số chỉ tiêu chính của ngành kiểm toán đạt được đến nay như: Về số lượng khách hàng đạt khoảng 40.000; có trên 30 DNKT được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận kiểm toán cho đơn vị lợi ích công chúng; Doanh thu toàn ngành đạt xấp xỉ 5.000 tỷ đồng; Nộp ngân sách nhà nước trên 700 tỷ đồng.

Tính đến ngày 31/12/2014, có 10.866 người làm việc trong các DNKT, trong đó có 9.543 nhân viên chuyên nghiệp và 1.323 nhân viên khác. Đến ngày 15/4/2015, tổng số người được cấp chứng chỉ KTV là 3.496 người.

Mặc dù không tăng về số lượng nhưng quy mô doanh nghiệp cũng như năng lực chuyên môn và chất lượng dịch vụ kiểm toán hiện đã được cải thiện đáng kể. Nhiều DNKT có số lượng KTV lớn, KTV dày dạn kinh nghiệm đã tạo lập được vị thế và danh tiếng trên thị trường, được nhiều khách hàng lớn lựa chọn.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại tphcm Khách hàng, đơn vị được kiểm toán đã thực hiện nghiêm túc hơn các nghĩa vụ trong quá trình cung cấp tài liệu, giải trình, phối kết hợp với KTV và DNKT trong quá trình kiểm toán để góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán.

Thông qua các hoạt động dịch vụ kiểm toán và tư vấn tài chính, kế toán, các DNKT đã góp phần phổ cập cơ chế chính sách kinh tế, tài chính, góp phần thực hiện công khai, minh bạch BCTC của các doanh nghiệp, ngăn ngừa lãng phí, tham nhũng, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý và điều hành kinh tế - tài chính của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

Hoạt động kiểm toán độc lập (KTĐL) ngày càng khẳng định được vị trí trong nền kinh tế thị trường, được các doanh nghiệp, tổ chức và xã hội thừa nhận và đã góp phần quan trọng trong việc làm lành mạnh hóa môi trường đầu tư và nền tài chính quốc gia.

Tất nhiên, ngoài những mặt tích cực, cũng còn một số hạn chế như: Một số hợp đồng kiểm toán BCTC của doanh nghiệp, tổ chức bắt buộc phải kiểm toán BCTC chưa được giao kết theo đúng quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật KTĐL; Chương trình đào tạo tại một số DNKT chưa đầy đủ, phù hợp và chưa được cụ thể cho từng cấp độ nhân viên, dẫn đến tình trạng nhân viên chưa nắm rõ, việc thực hiện qua hồ sơ kiểm toán còn mang tính hình thức, chưa theo đúng quy chế công ty quy định; Báo cáo phát hành ý kiến kiểm toán chưa phù hợp hoặc chưa thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán khi đưa ra ý kiến kiểm toán và còn có các sai sót trên BCTC đính kèm báo cáo kiểm toán (BCKT).

Mặt khác, một số DNKT chưa tiến hành kiểm tra, đánh giá chất lượng hợp đồng dịch vụ, chưa thực hiện việc công khai báo cáo minh bạch theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 16 Thông tư số 183/2013/TT-BTC ngày 04/12/2013 của Bộ Tài chính về KTĐL đối với đơn vị có lợi ích công chúng.

Một số DNKT chưa theo dõi một cách chặt chẽ về việc luân chuyển KTV ký BCKT đối với các khách hàng kiểm toán trên 03 năm; KTV vi phạm quy định về ký BCKT quá 03 năm liên tục cho một đơn vị được kiểm toán. Ngoài ra, có chi nhánh của DNKT không đăng ký kinh doanh dịch vụ kiểm toán và không đăng ký hành nghề kiểm toán với Bộ Tài chính nhưng vẫn ký hợp đồng kiểm toán với đơn vị được kiểm toán và có dấu hiệu các KTV có đăng ký hành nghề nhưng thực sự không hành nghề kiểm toán.

Xin trân trọng cảm ơn ông!
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại thanh trì
Theo Tạp chí Chứng khoán 6/2016


Read More Add your Comment 0 nhận xét


5 thách thức lớn nhất của bộ phận kế toán hiện nay



Nhân viên kế toán được ví là “Tay hòm chìa khóa của doanh nghiệp”, giữ một vai trò rất quan trọng trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, kể từ khi Việt Nam mở cửa hội nhập với thế giới, những cơ hội và thách thức đối với bộ phận kế toán không hề nhỏ. Trong khuôn khổ bài viết này xin được đề cập đến 5 thách thức lớn nhất với bộ phận kế toán ở mỗi doanh nghiệp.


1. Kiểm soát dữ liệu kế toán
Kế toán là một trong các lĩnh vực dẫn đầu về ứng dụng công nghệ thông tin. Quy trình kế toán đã và sẽ có sự thay đổi căn bản khi hầu hết các phần hành kế toán đều ứng dụng công nghệ thông tin kể cả hoạt động ghi sổ, lập báo cáo tài chính.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất mà ngành kế toán, kiểm toán gặp phải là yêu cầu về lao động có trình độ công nghệ thông tin; sự đầu tư tài chính lớn; việc kiểm soát các dữ liệu kế toán khó hơn trước, trong khi sự cạnh tranh làm giảm thị phần diễn ra ngày càng gay gắt.

Do đó, việc cần đổi mới và thiết lập mới các quy trình kế toán, từ việc thu thập, xử lý và nhập dữ liệu chứng từ kế toán đến quy trình xử lý và kết xuất thông tin là hết sức cần thiết. Các phần mềm và hệ thống thông minh sẽ dần được thay thế công việc thủ công, tự động hóa các quy trình phức tạp và đa diện (như hoàn tất các thỏa thuận tài chính), hỗ trợ các xu hướng dịch vụ thuê ngoài và tái sử dụng nội bộ một số dịch vụ khác.
Trung tâm đào tạo kế toán thực hành Tại long biên
thách thức kế toán

>> Xem thêm:
Phần mềm kế toán MISA SME.NET 2017 – Giải pháp công nghệ của sự kết nối thông minh
2. Tuân thủ chuẩn mực và quy định mới của Pháp luật
Các chuẩn mực, quy định Kế toán luôn thay đổi nhanh chóng, đặc biệt trong môi trường hội nhập. Chính vì vậy những kế toán viên cần liên tục cập nhật những thông báo mới nhất và nâng cao các phần mềm liên quan đến chuyên ngành.

Không chỉ hoàn thành tốt chuyên môn mà bộ phận kế toán còn là bộ phận tiên phong cập nhật quy định mới, bắt kịp với công nghệ mới.

Ví dụ mới đây nhất là Nghị định Nghị định số 119/2018/NĐ-CP quy định về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ đã thay đổi hoàn toàn cách làm việc cũ, quy trình cũ ở các doanh nghiệp và buộc bộ phận kế toán phải thay đổi nếu không muốn bị phạt.
Nếu doanh nghiệp sử dụng các phần mềm kế toán sẽ thường xuyên được tự động cập nhật các chính sách, quy định mới nhất của Nhà nước để giúp doanh nghiệp không phải đối mặt với những phiền phức khi các chính sách, quy định liên quan đến kế toán mới ra đời hay điều chỉnh.

>> Xem thêm:
Nghị định số 119/2018/NĐ-CP quy định về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ có hiệu lực từ ngày 01/11/2018
3. Giảm chi phí, tăng năng suất
Nền kinh tế biến động khiến hầu hết các doanh nghiệp đều thực hiện chính sách cắt giảm ngân sách, hay tái cơ cấu để giảm chi phí, tăng lợi nhuận. Sự thay đổi này ít nhiều cũng có tác động đến bộ phận kế toán của doanh nghiệp.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hải phòng Cách làm cũ là mỗi người phụ trách một đầu việc, nhập liệu thủ công, gửi báo cáo qua email hoặc báo cáo giấy đã không còn phù hợp ở thời điểm này vì ngốn quá nhiều chi phí của công ty. Việc sử dụng phần mềm trong doanh nghiệp là giải pháp tốt nhất cho công ty của bạn, nó sẽ giúp giải quyết công việc nhanh chóng mà bạn không tốn quá nhiều thời gian như thế thống kế toán, thống kê thủ công trên giấy tờ trước đây.

Phần mềm kế toán giúp kế toán tự động hóa rất nhiều thao tác thủ công thông thường, là công cụ để xây dựng rất nhiều loại danh mục đối tượng, danh mục nhóm đối tượng danh mục vật tư hàng hóa, danh mục hạng mục/ công trình, danh mục công việc, danh mục nhóm công việc, danh mục loại thuế, danh mục tiền tệ… một khi kế toán đã xây dựng bạn có thể dùng lại mà không phải mất công nhập lại nhiều lần.

Thêm vào đó việc tự động sinh ra các báo cáo, sổ sách, tờ khai…sẽ giúp bộ phận kế toán giảm rất nhiều thao tác công sức để xây dựng những báo cáo sổ sách này. Không những thế việc tự động tính giá thành, tồn kho tức thời…. giúp giảm đáng kể các thao tác thủ công khó nhọc của kế toán và cấp quản lý.

 NHẬN DEMO MIỄN PHÍ PHẦN MỀM
4. Giữ chân nhân tài
Xây dựng môi trường làm việc minh bạch, cởi mở là điều kiện tiên quyết để thu hút và giữ chân các nhân viên tài năng.
Bộ phận kế toán dù ở công ty nào đều rất quan trọng, là người giữ tay hòm chìa khóa, quản lý dòng tiền của doanh nghiệp nên cần được tuyển chọn kỹ lưỡng: không chỉ giỏi chuyên môn nghiệp vụ mà cần thích ứng nhanh với sự thay đổi.

5. Phòng tránh gian lận
>> Xem thêm
Các doanh nghiệp nên quản lý thu chi thế nào cho hiệu quả?
Theo báo cáo của Hiệp hội Điều tra Gian lận Hoa Kỳ (ACFE), trung bình mỗi doanh nghiệp mất khoảng 5% doanh thu vì các hoạt động gian lận.Tuy nhiên, chỉ có 35% doanh nghiệp áp dụng các cách thức quản trị doanh nghiệp chủ động để ngăn chặn việc gian lận.
Phần mềm kế toán giúp doanh nghiệp tránh được việc gian lận hay trộm cắp tiền, tài sản của doanh nghiệp. Với số liệu, thông tin từ phần mềm, bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ có thể theo dõi thường xuyên vật tư, hàng hóa, thành phẩm, phế liệu, cũng như hiệu suất lao động của các bộ phận khác nhau, từ đó có thể xây dựng kế hoạch kiểm tra giám sát ngẫu nhiên, định kỳ hay thường xuyên để giảm thiểu những gian lận hay trộm cắp có thể xảy ra.

Phần mềm kế toán MISA có báo cáo phân tích chi phí của doanh nghiệp theo khoản mục chi phí, theo đơn vị, phòng ban. Từ đó, kế toán dễ dàng kiểm soát, biết chi phí nào phát sinh quá nhiều để tham mưu BLĐ cắt giảm.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận ba đình
MISA


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Tìm hiểu kế toán môi trường tại các doanh nghiệp



Cùng với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường và đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, Việt Nam cần khẩn trương bổ sung và hoàn thiện pháp luật liên quan đến kế toán môi trường nhằm mục tiêu phát triển bền vững. Bài viết đánh giá những nguyên nhân cơ bản khiến kế toán môi trường chưa được áp dụng nhiều ở Việt Nam, khảo sát kinh nghiệm của một số quốc gia và hàm ý về cho Việt Nam nhằm đẩy mạnh áp dụng kế toán môi trường thời gian tới.


“Khoảng trống” kế toán môi trường

Trong những năm qua, Việt Nam rất chú trọng đến vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế nhằm mục tiêu phát triển bền vững. Việt Nam hiện đã ban hành Luật Môi trường lần đầu vào năm 1993 và Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi vào năm 2005; Luật Thuế Bảo vệ môi trường (Luật số 57/2010/QH12); Nghị định 67/2011/NĐ-CP ngày 08/08/2011 của Chính phủ quy định về đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế, khai thuế, tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ môi trường...

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng đã ban hành một số thông tư liên quan đến thuế môi trường như: Thông tư 152/2011/TT-BTC (hướng dẫn thi hành Nghị định 67/2011/NĐ-CP của Chính phủ); Thông tư 159/2012/TT-BTC (sửa đổi, bổ sung Thông tư 152/2011/TT-BTC)…

Tuy nhiên, dù Việt Nam đã quan tâm, chú trọng đến vấn đề bảo vệ môi trường, trách nhiệm của doanh nghiệp (DN) đối với bảo vệ môi trường bằng việc xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp quy về lĩnh vực môi trường song cho đến nay vẫn thiếu vắng những văn bản pháp quy về kế toán môi trường và nhiều DN vẫn còn khá xa lạ với khái niệm kế toán môi trường.

Dù phổ biến tại nhiều quốc gia trong khu vực và thế giới, song đến nay phần lớn DN tại Việt Nam chưa áp dụng kế toán môi trường, chỉ một số ít các DN là công ty liên doanh và công ty có 100% vốn đầu tư nước ngoài (Ford Việt Nam, Panasonic AVC Việt Nam, Unilever Việt Nam, Pepsico Việt Nam…) theo quy định của các quốc gia này phải tổ chức kế toán môi trường, phải báo cáo những thông tin về môi trường cho các đối tượng sử dụng. Theo các chuyên gia tài chính, có thể chỉ ra một số nguyên nhân chính khiến kế toán môi trường vẫn chưa được chú trọng ở Việt Nam:

Một là, hệ thống văn bản pháp quy chưa hoàn thiện. Cụ thể, hiện nay Việt Nam chưa quy định trong những chuẩn mực kế toán hiện hành về tài sản môi trường, nợ phải trả về chi phí môi trường vô hình, chi phí môi trường bên ngoài, thu nhập môi trường...; Chưa quy định trong chế độ kế toán hiện hành về chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, báo cáo tài chính để phản ảnh những thông tin về môi trường; Chưa có những quy định hướng dẫn cụ thể vế cách hạch toán những thông tin về môi trường phát sinh trong DN...

Hai là, nội dung của kế toán môi trường không được phổ biến, truyền thông đến các nhà quản trị, những người làm công tác kế toán trong DN, phần lớn các DN đều chưa biết kế toán môi trường. Nội dung của kế toán môi trường chưa được đưa vào trong chương trình đào tạo ngành kế toán của hầu hết các trường đại học tại Việt Nam. Điều này tạo nên “khoảng trống” về nguồn nhân lực thực hiện kế toán môi trường tại Việt Nam và là nguyên nhân quan trọng làm cho các DN tại Việt Nam chưa tổ chức công tác kế toán môi trường.

Ba là, các nhà quản trị DN chỉ chú trọng đến lợi ích cục bộ và nghĩ rằng thực hiện công tác bảo vệ môi trường, thực hiện công tác kế toán môi trường làm tăng chi phí, ảnh hưởng đến lợi nhuận DN. Sự nhận thức chưa rõ về lợi ích, hiệu quả của việc áp dụng kế toán môi trường của nhà quản trị có thể coi nguyên nhân chính làm cho các DN tại Việt Namchưa áp dụng kế toán môi trường.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận đống đa Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Kế toán môi trường ở nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển có thể coi là những kinh nghiệm đáng quý cho các nước đi sau như Việt Nam. Theo kinh nghiệm của các DN Hoa Kỳ, việc áp dụng những biện pháp bảo vệ môi trường và áp dụng kế toán môi trường sẽ làm tăng chi phí nói chung và chi phí về môi trường nói riêng, song cũng sẽ giúp DN thu lợi ích lớn hơn từ những hoạt động bảo vệ môi trường như: Thu nhập tăng lên từ tiết kiệm nước, năng lượng, nguyên liệu sử dụng, giảm chất thải, giảm chi phí xử lý chất thải.

Hiện nay, việc áp dụng kế toán môi trường tại nước này chủ yếu tập trung vào vấn đề chi phí môi trường phục vụ cho quá trình ra quyết định của nhà quản trị, tập trung vào cung cấp thông tin về môi trường theo yêu cầu của cơ quan quản lý và các thông tin kế toán này được thể hiện trong Báo cáo sáng kiến toàn cầu (GRI).

Kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc... cho thấy, việc áp dụng kế toán môi trường trong doanh nghiệp tuy làm gia tăng chi phí về môi trường, song cũng giúp cho doanh nghiệp gia tăng lợi ích từ thu nhập về sản phẩm thân thiện với môi trường; tiết kiệm chi phí nguyên liệu, chi phí xử lý chất thải, chi phí bị xử phạt do gây ô nhiễm...
Tại Đức, các DN áp dụng kế toán môi trường giúp đưa ra quyết định thay đổi về kỹ thuật, về hệ thống tổ chức quản lý, về chiến lược sản phẩm theo hướng sản phẩm xanh, về sử dụng nguyên liệu thân thiện với môi trường… Sự thay đổi này dẫn đến tiết kiệm chi phí nguyên liệu, năng lượng, nước, tiết kiệm chi phí xử lý chất thải, nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động... Kinh nghiệm của các DN Đức cũng cho thấy, việc áp dụng kế toán môi trường chủ yếu tập trung vào hạch toán dòng vật liệu, phân tích Bảng đầu vào - đầu ra, xác định lượng nguyên liệu, năng lượng, nước sử dụng hàng năm, xác định lượng khí thải, nước thải, chất thải rắn hàng năm.
Ở châu Á, Nhật Bản là quốc gia mà các DN luôn đi đầu trong việc nghiên cứu và ứng dụng kế toán môi trường. Thực tế tại các DN quốc gia này cho thấy, việc áp dụng những biện pháp bảo vệ môi trường và áp dụng kế toán môi trường sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế của DN và hiệu quả bảo vệ môi trường.

Việc áp dụng kế toán môi trường tập trung vào hạch toán dòng vật liệu, kế toán chi phí và thu nhập về môi trường, phân tích bảng cân bằng sinh thái, phân tích chu kỳ sống sản phẩm, xác định lượng nguyên liệu, năng lượng, nước sử dụng hàng năm, xác định lượng khí thải nước thải, chất thải rắn hàng năm, kế toán chi phí và thu nhập về môi trường. Kế toán môi trường của Nhật Bản chú trọng đến việc sử dụng cả thước đo hiện vật và thước đo giá trị trong quá trình hạch toán và thông tin về môi trường được trình bày trong Báo cáo thường niên về môi trường, xã hội và tài chính. 

Về cơ bản, để áp dụng kế toán môi trường đòi hỏi phải có hệ thống các chính sách, pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phải có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan của Chính phủ liên quan đến vấn đề môi trường và kế toán, các tổ chức bảo vệ môi trường, các hội nghề nghiệp về kế toán trong, ngoài nước và đặc biệt đối tượng chính là cộng đồng DN.

Việc áp dụng kế toán môi trường trong DN của các quốc gia ban đầu thường mang tính tự nguyện, nên trong giai đoạn đầu, các cơ quan quản lý chỉ ban hành những hướng dẫn DN thực hiện kế toán môi trường. Thực tiễn cho thấy, các DN thực hiện kế toán môi trường thì hiệu quả kinh doanh ngày càng tăng, tạo động lực cho tất cả các DN khác áp dụng kế toán môi trường. Vì vậy, các cơ quan quản lý nên ban hành những chuẩn mực về kế toán môi trường, quy định những thông tin môi trường trình bày trong báo cáo cung cấp cho bên ngoài DN, nhằm đảm bảo sự thống nhất quản lý về môi trường.
Trung tâm đào tạo kế toán thực hành Tại vũng tàu
Theo các chuyên gia kế toán, các DN của mỗi quốc gia, tùy theo cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực và trình độ quản lý ở mỗi giai đoạn có thể nhấn mạnh một hoặc nhiều nội dung của kế toán môi trường nhưng về cơ bản nội dung của kế toán môi trường là: Hạch toán dòng vật liệu; Phân tích chu kỳ sống sản phẩm; Kế toán chi phí và thu nhập về môi trường; Đánh giá trách nhiệm trong quản lý môi trường; Trình bày thông tin về môi trường trong báo cáo của DN…

Trong bối cảnh hiện nay, DN Việt Nam có thể lựa chọn vận dụng từ kinh nghiệm kế toán quản trị môi trường từ các nước Mỹ, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc cho phù hợp với điều kiện hoạt động của DN mình. Thực tế cũng cho thấy, kế toán môi trường thường được áp dụng tại các DN có quy mô lớn có nguồn tài chính dồi dào và chính sách hoạt động nghiêm ngặt. Do vậy, đối với các DN Việt Nam, trong giai đoạn đầu, có thể kế toán môi trường nên được thử nghiệm tại một dây chuyền hoặc một bộ phận trước khi tiến hành đại trà toàn DN.

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội, (2010), Luật Thuế Bảo vệ môi trường (Luật số 57/2010/QH12) ngày 15/11/2010;

2. Chính phủ, (2011), Nghị định 67/2011/NĐ-CP ngày 8/8/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế Bảo vệ môi trường;

3. PGS., TS. Phạm Đức Hiếu, PGS., TS. Nguyễn Thị Kim Thái, Kế toán môi trường trong DN, NXB Giáo dục, 2012;

4. PGS., TS. Phạm Đức Hiếu - PGS., TS. Nguyễn Thị Kim Thái, Kế toán môi trường trong DN, NXB Giáo dục, 2012.

Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại bắc ninh Theo tạp chí Tài chính kỳ I tháng 9/2016


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Các chính sách Tài chính - Kế toán mới nổi bật của Nhà nước (cập nhật tháng 03/2016)



Hiện nay MISA đã tiến hành tổng hợp các chính sách pháp luật có liên quan và thay đổi trong tháng 03. Quý khách hàng có thể tham khảo các chính sách thay đổi như sau:

1. Nâng cấp iHTKK 3.1.8, HTKK 3.3.7 và QTTNCN 3.2.4

Ngày 16/3/2016, Tổng cục Thuế Thông báo về việc nâng cấp ứng dụng iHTKK 3.1.8, HTKK 3.3.7, QTTNCN 3.2.4. Cụ thể như sau:

- Nâng cấp các chức năng lập báo cáo tài chính theo Thông tư 200/2014/TT-BTC trên ứng dụng HTKK, iHTKK nhằm:
Đáp ứng đối với trường hợp các doanh nghiệp mới thành lập;
Đáp ứng một số yêu cầu phát sinh của người sử dụng về việc cho phép khai một số chỉ tiêu trong bộ báo cáo tài chính dưới dạng số nguyên (âm hoặc dương).
- Nâng cấp chức năng kê khai tờ khai 05/KK-TNCN trên ứng dụng HTKK, iHTKK, QTTNCN đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ quyết toán thuế TNCN năm 2015 theo Công văn 1002/TCT-TNCN ngày 15/3/2016 của Tổng cục Thuế.

Bắt đầu từ ngày 17/3/2016, khi lập báo cáo tài chính, tờ khai quyết toán thuế TNCN mẫu 05/KK-TNCN có liên quan đến nội dung nâng cấp nêu trên, tổ chức cá nhân nộp thuế sẽ sử dụng các mẫu biểu kê khai tại ứng dụng HTKK 3.3.7, iHTKK 3.1.8, QTTNCN 3.2.4 thay cho các phiên bản trước đây.



2. Hướng dẫn mới về khai thuế giá trị gia tăng

Ngày 16/3/2016, Tổng Cục Thuế ban hành Công văn 1047/TCT-CS giới thiệu nội dung Thông tư 21/2016/TT-BTC.

Theo đó, các tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ (SPCNHT) thuộc Danh mục SPCNHT ưu tiên phát triển trên lãnh thổ Việt Nam thực hiện khai thuế GTGT như sau:

Đối với người nộp thuế (NNT) là tổ chức:
+ Trường hợp có doanh thu của SPCNHT thuộc Danh mục nêu trên (không phân biệt có doanh thu trên hay dưới 50 tỷ đồng/năm) thì khai thuế theo quý.
+ Trường hợp vừa có doanh thu của SPCNHT thuộc Danh mục nêu trên vừa có doanh thu từ các hoạt động sản xuất kinh doanh khác thì khai thuế theo quý. Nếu không khai thuế theo quý, NNT có thể lựa chọn khai thuế theo tháng và thông báo với cơ quan thuế.

Đối với NNT là cá nhân:
+ Nếu có phát sinh doanh thu của SPCNHT thuộc Danh mục nêu trên thì khai thuế theo năm và nộp thuế theo quý.
+ Nếu nộp thuế theo từng lần phát sinh, có phát sinh doanh thu của SPCNHT thuộc Danh mục nêu trên thì khai thuế, nộp thuế theo từng lần phát sinh hoặc có thể lựa chọn khai thuế, nộp thuế theo tháng.

Xem thêm tại Công văn 1047/TCT-CS ngày 16/3/2016.

3. Điểm đáng chú ý trong hoàn thuế giá trị gia tăng

Ngày 14/3/2016, Bộ Tài chính ban hành Công văn 3357/BTC-TCT về quản lý chi hoàn thuế giá trị gia tăng theo đúng quy định của pháp luật.

Theo đó, trong quá trình giải quyết hồ sơ, cơ quan thuế chuyển hình thức phân loại hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước kiểm tra sau sang kiểm tra trước hoàn thuế sau nếu phát hiện người nộp thuế:
- Có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế, pháp luật hải quan;
- Hoặc không giải trình, bổ sung hồ sơ hoàn thuế;
- Hoặc có giải trình, bổ sung nhưng không chứng minh được số thuế đã khai là đúng.

Việc phê duyệt thay đổi áp dụng hình thức phân loại phải được cập nhật vào hệ thống thông tin nghiệp vụ và phải được thông báo cho doanh nghiệp.

Công văn 3357/BTC-TCT bãi bỏ các điểm 1, 2, 4, 5 của Công văn 18832/BTC-TCT ngày 17/12/2015 và điểm 3 (khổ thứ hai), 4, 5, 6 của Công văn 13822/BTC-TCT ngày 02/10/2015.

4. Hướng dẫn ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo Thông tư 21/2016/TT-BTC có hiệu lực từ 01/4/2016, ưu đãi thuế TNDN đối với công nghiệp hỗ trợ (CNHT) được hướng dẫn như sau:
Ưu đãi thuế TNDN được áp dụng đối với thu nhập của DN từ thực hiện dự án sản xuất sản phẩm (SXSP) CNHT từ 01/01/2015 đáp ứng các điều kiện tại Luật sửa đổi các Luật về thuế 2014 và các văn bản hướng dẫn, được cấp Giấy xác nhận (GXN) ưu đãi SXSP CNHT.
Trình tự, thủ tục xác nhận ưu đãi và hậu kiểm ưu đãi đối với dự án SXSP CNHT thuộc Danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển thực hiện theo Thông tư 55/2015/TT-BCT.
GXN ưu đãi SXSP CNHT ưu tiên phát triển là cơ sở để áp dụng ưu đãi thuế TNDN.
Về mức ưu đãi, thời điểm bắt đầu áp dụng ưu đãi, việc chuyển tiếp ưu đãi thực hiện theo quy định pháp luật về thuế TNDN.
Trong thời gian đang được hưởng ưu đãi thuế TNDN nếu DN thực hiện nhiều hoạt động SXKD thì DN xác định riêng thu nhập từ dự án SXSP CNHT ưu tiên phát triển để hưởng ưu đãi thuế TNDN theo quy định.
Ưu đãi thuế TNDN quy định tại Thông tư 21/2016/TT-BTC áp dụng cho kỳ tính thuế TNDN từ năm 2015.



Trung tâm đào tạo kế toán tổng hợp Tại hà nam 5. Hướng dẫn mới về hóa đơn điện tử

Ngày 23/02/2016, Bộ Tài chính vừa ban hành Công văn 2402/BTC-TCT hướng dẫn về chữ ký của người mua trên hóa đơn điện tử.

Theo đó, những trường hợp hóa đơn điện tử không nhất thiết phải có chữ ký điện tử của người mua gồm:

- Người mua không phải là đơn vị kế toán.

- Người mua là đơn vị kế toán thì phải có các hồ sơ, chứng từ chứng minh việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ giữa người bán với người mua như:
Hợp đồng kinh tế.
Phiếu xuất kho.
Biên bản giao nhận hàng hóa.
Biên nhận thanh toán.
Phiếu thu
6. Quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2015

Ngày 02/03/2016, Tổng cục thuế đã ban hành Công văn 801/TCT-TNCN hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2015 và cấp mã số thuế người phụ thuộc.Theo đó, hướng dẫn rõ các nội dung sau:
Đối tượng phải quyết toán thuế thu nhập cá nhân.
Hình thức quyết toán thuế thu nhập cá nhân (cá nhân ủy quyền quyết toán thuế qua tổ chức trả thu nhập, cá nhân quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế, trường hợp Điều chỉnh sau khi đã ủy quyền quyết toán thuế).
Một số nội dung khác, như là: Thu nhập chịu thuế, thu nhập tính thuế bình quân tháng, Các Khoản giảm trừ…
7. Hướng dẫn lập tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân

Ngày 15/3/2016, Tổng cục Thuế ban hành Công văn 1022/TCT-TNCN hướng dẫn khai tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân (QTT TNCN) đối với tổ chức chi trả thu nhập từ tiền lương, tiền công (TLTC).

Theo đó, tổ chức chi trả thu nhập từ TLTC thuộc trường hợp quyết toán ủy quyền cho người lao động (NLĐ) trong trường hợp này, khi khai QTT TNCN và quyết toán ủy quyền cho NLĐ thực hiện như sau:
Tại chỉ tiêu [36] Tờ khai QTT TNCN 05/KK-TNCN: khai tổng số thuế TNCN đã khấu trừ đối với toàn bộ thu nhập từ TLTC được chi trả tại đơn vị, không bao gồm thuế TNCN đã khấu trừ tại các đơn vị khác của NLĐ được điều chuyển.
Tại chỉ tiêu [19] Phụ lục 05-1/BK-TNCN: khai tổng số thuế TNCN đã khấu trừ trong năm của NLĐ, bao gồm thuế TNCN đã khấu trừ tại đơn vị và thuế TNCN theo chứng từ khấu trừ thuế tại các đơn vị khác của NLĐ được điều chuyển.
Đồng thời Công văn 1022/TCT-TNCN hướng dẫn rõ về vấn đề này đối với trường hợp tổ chức sử dụng ứng dụng khai thuế của ngành thuế.

8. Tiền công tác phí, điện thoại được trừ khi tính thuế TNCN

Tổng cục Thuế vừa ban hành Công văn 1166/TCT-TNCN hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với tiền công tác phí, tiền điện thoại. Theo đó:

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại bắc ninh Khoản thanh toán tiền công tác phí (tiền vé máy bay, tiền lưu trú, tiền taxi và tiền ăn của cá nhân đi công tác) được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là khoản thu nhập được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNCN.

Khoản chi tiền điện thoại cho cá nhân được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN là thu nhập được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNCN nếu được ghi cụ thể điều kiện được hưởng và mức hưởng tại một trong các hồ sơ sau:
Hợp đồng lao động.
Thỏa ước lao động tập thể.
Quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty, Tập đoàn.
Quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc quy định.
Ngoài ra, nếu đơn vị chi tiền điện thoại cho người lao động cao hơn mức khoán chi quy định thì phần chi cao hơn mức khoán quy định phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Công văn 1166/TCT-TNCN được ban hành vào ngày 21/3/2016.



Dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại quận 4 MISA


Read More Add your Comment 0 nhận xét