Hạch toán chuyên sâu tài khoản 461 - Nguồn kinh phí sự nghiệp



TÀI KHOẢN 461 - NGUỒN KINH PHÍ SỰ NGHIỆP


Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình tiếp nhận, sử dụng và quyết toán số kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án của đơn vị. Tài khoản này chỉ sử dụng ở các đơn vị được Nhà nước hoặc đơn vị cấp trên cấp phát kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án.

Nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án là khoản kinh phí do Ngân sách Nhà nước hoặc cấp trên cấp cho đơn vị, hoặc được Chính phủ, các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài viện trợ, tài trợ trực tiếp thực hiện các chương trình mục tiêu, dự án đã được phê duyệt, để thực hiện những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội do Nhà nước hoặc cấp trên giao không vì mục đích lợi nhuận. Việc sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án phải theo đúng dự toán được duyệt và phải quyết toán với cơ quan cấp kinh phí. Nguồn kinh phí sự nghiệp cũng có thể được hình thành từ các khoản thu sự nghiệp phát sinh tại đơn vị, như thu viện phí của công nhân viên chức trong ngành nằm điều trị, điều dưỡng tại bệnh viện của đơn vị, thu học phí, thu lệ phí,. . .

HẠCH TOÁN TÀI KHOẢN NÀY CẦN TÔN TRỌNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH SAU

1. Nguồn kinh phí sự nghiệp, nguồn kinh phí dự án phải được hạch toán chi tiết theo từng nguồn hình thành: Ngân sách Nhà nước cấp, đơn vị cấp trên cấp, nhận viện trợ, tài trợ của tổ chức, cá nhân, từ thu sự nghiệp của đơn vị. Đồng thời, phải hạch toán chi tiết, tách bạch nguồn kinh phí sự nghiệp năm nay và kinh phí sự nghiệp năm trước.

2. Nguồn kinh phí sự nghiệp, nguồn kinh phí dự án phải được sử dụng đúng mục đích, nội dung hoạt động, đúng tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước và trong phạm vi dự toán đã được duyệt.

3. Trường hợp nguồn kinh phí được NSNN cấp thì tuỳ theo từng phương thức cấp phát kinh phí sự nghiệp của Ngân sách Nhà nước để ghi sổ kế toán:

- Nếu Ngân sách Nhà nước cấp kinh phí bằng lệnh chi tiền, khi nhận được giấy báo Có, số tiền đã vào tài khoản của đơn vị, kế toán đồng thời ghi tăng tiền gửi và ghi tăng nguồn kinh phí sự nghiệp;

- Nếu Ngân sách Nhà nước cấp kinh phí bằng hình thức giao dự toán chi sự nghiệp, dự án, khi nhận được thông báo ghi đơn vào bên Nợ TK 008 “Dự toán chi sự nghiệp, dự án” (Tài khoản ngoài Bảng Cân đối kế toán). Khi rút dự toán chi sự nghiệp, dự án để chi, ghi đơn vào bên Có TK 008 “Dự toán chi sự nghiệp, dự án”, đồng thời ghi Có TK 461 “Nguồn kinh phí sự nghiệp” đối ứng với các TK có liên quan.

4. Cuối mỗi năm tài chính, đơn vị phải làm thủ tục quyết toán tình hình tiếp nhận và sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp với cơ quan tài chính, cơ quan chủ quản và với từng cơ quan, tổ chức cấp phát kinh phí theo chính sách tài chính hiện hành. Số kinh phí sử dụng chưa hết được xử lý theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Đơn vị chỉ được chuyển sang năm sau số kinh phí sự nghiệp, dự án chưa sử dụng hết khi được cơ quan hoặc cấp có thẩm quyền chấp thuận.

5. Cuối năm tài chính, nếu số chi hoạt động bằng nguồn kinh phí sự nghiệp chưa được duyệt, thì kế toán kết chuyển nguồn kinh phí sự nghiệp năm nay sang nguồn kinh phí sự nghiệp năm trước.



KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG PHẢN ÁNH CỦA TÀI KHOẢN 461 - NGUỒN KINH PHÍ SỰ NGHIỆP

Bên Nợ:

- Số chi bằng nguồn kinh phí sự nghiệp, nguồn kinh phí dự án đã được duyệt quyết toán với nguồn kinh phí sự nghiệp, nguồn kinh phí dự án;

- Số kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án sử dụng không hết hoàn lại cho NSNN hoặc nộp trả cấp trên.

Bên Có:

- Số kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án đã thực nhận của Ngân sách hoặc cấp trên;

- Các khoản thu sự nghiệp phát sinh tại đơn vị được bổ sung nguồn kinh phí sự nghiệp.

Số dư bên Có:

Số kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án đã nhận của Ngân sách hoặc cấp trên cấp nhưng chưa sử dụng hoặc đã sử dụng nhưng chưa được quyết toán.

Tài khoản 461 - Nguồn kinh phí sự nghiệp, có 2 tài khoản cấp 2:

- Tài khoản 4611 - Nguồn kinh phí sự nghiệp năm trước: Phản ánh số kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án thuộc năm trước đã sử dụng nhưng báo cáo quyết toán năm trước chưa được duyệt và số kinh phí sự nghiệp năm trước chưa sử dụng hết. Khi báo cáo quyết toán năm trước được duyệt, số chi bằng nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án năm trước sẽ được chuyển trừ vào Tài khoản 461 “Dự toán chi sự nghiệp, dự án” (TK 4611 - Nguồn kinh phí sự nghiệp năm trước). Còn số kinh phí sự nghiệp năm trước chưa sử dụng hết, tuỳ theo quyết định của cơ quan tài chính hoặc cấp có thẩm quyền, phải nộp lại ngân sách hoặc chuyển thành kinh phí năm nay.

- Tài khoản 4612 - Nguồn kinh phí sự nghiệp năm nay: Phản ánh nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án đã được Ngân sách hoặc cấp trên cấp trong năm nay, kể cả các khoản kinh phí sự nghiệp năm trước chưa sử dụng hết khi xét duyệt báo cáo quyết toán được chuyển thành khoản kinh phí của năm nay. Hết niên độ kế toán, sang đầu năm sau số kinh phí thuộc năm nay, nếu chưa được quyết toán sẽ được chuyển từ Tài khoản 4612 “Nguồn kinh phí sự nghiệp năm nay” sang Tài khoản 4611 “Nguồn kinh phí sự nghiệp năm trước” để theo dõi cho điện khi báo cáo quyết toán năm trước được duyệt.


PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN KẾ TOÁN MỘT SỐ NGHIỆP VỤ KINH TẾ CHỦ YẾU

1. Nhận kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án do Ngân sách Nhà nước cấp bằng lệnh chi tiền hoặc kinh phí sự nghiệp do cấp trên cấp bằng tiền, ghi:

Nợ các TK111, 112,. . .

Có TK 461 - Nguồn kinh phí sự nghiệp (4612).

2. Khi được cơ quan có thẩm quyền giao dự toán chi hoạt động, chi dự án ghi đơn bên Nợ TK 008 “Dự toán chi sự nghiệp, dự án” (Tài khoản ngoài Bảng Cân đối kế toán).

3. Khi rút dự toán chi sự nghiệp, dự án về nhập quỹ hoặc mua vật tư, dụng cụ hoặc thanh toán trực tiếp cho người bán hàng, hoặc chi trực tiếp, ghi:

Nợ TK 111 - Tiền mặt

Nợ TK 331 - Phải trả cho người bán

Nợ TK 161 - Chi sự nghiệp (1612)

Nợ các TK 152, 153,. . .

Có TK 461 - Nguồn kinh phí sự nghiệp (4612).

Đồng thời ghi đơn bên Có TK 008 “Dự toán chi sự nghiệp, dự án” (Tài khoản ngoài Bảng Cân đối kế toán).

4. Các khoản thu sự nghiệp phát sinh tại đơn vị (nếu có), ghi:

Nợ các TK 111, 112,. . .

Có TK 461 - Nguồn kinh phí sự nghiệp (4612)

5. Nhận kinh phí sự nghiệp bằng TSCĐ do Ngân sách cấp, đơn vị cấp trên cấp hoặc hoặc được viện trợ không hoàn lại bằng TSCĐ dùng cho hoạt động sự nghiệp, hoạt động dự án, ghi:

Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình

Nợ TK 213 - TSCĐ vô hình

Có TK 461 - Nguồn kinh phí sự nghiệp.

Đồng thời, ghi:

Nợ TK 161 - Chi sự nghiệp

Có TK 466 - Nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ.

6. Cuối niên độ kế toán, đơn vị còn có số dư tiền mặt, tiền thuộc nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án nếu phải nộp trả số kinh phí sự nghiệp sử dụng không hết cho Ngân sách Nhà nước hoặc cấp trên, khi nộp trả, ghi:

Nợ TK 461 - Nguồn kinh phí sự nghiệp

Có các TK 111, 112,. . .

Nếu số kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án sử dụng không hết được giữ lại để chuyển thành nguồn kinh phí năm sau thi không thực hiện bút toán trên.

7. Khi báo cáo quyết toán chi sự nghiệp, chi dự án được duyệt ngay trong năm, ghi:

Nợ TK 461 - Nguồn kinh phí sự nghiệp (4612)

Có TK 161 - Chi sự nghiệp (1612) (Số chi được duyệt).

8. Nếu đến cuối năm, báo cáo quyết toán chi sự nghiệp, dự án chưa được duyệt:

- Kết chuyển chi sự nghiệp, chi dự án năm nay thành chi sự nghiệp, chi dự án năm trước, ghi:

Trung tâm kế toán thực hành Tại bắc giang Nợ TK 161 - Chi sự nghiệp (1611 - Chi sự nghiệp năm trước)

Có TK 161 - Chi sự nghiệp (1612 - Chi sự nghiệp năm nay).

- Đồng thời kết chuyển nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án năm nay thành nguồn kinh phí sự nghiệp năm trước, kinh phí dự án năm trước, ghi:

Nợ TK 461 - Nguồn kinh phí sự nghiệp (4612 - Nguồn kinh phí sự nghiệp năm nay)

Có TK 461 - Nguồn kinh phí sự nghiệp (4611 - Nguồn kinh phí sự nghiệp năm trước).

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà đông 9. Khi báo cáo quyết toán chi sự nghiệp, chi dự án năm trước được duyệt, ghi:

Nợ TK 461 - Nguồn kinh phí sự nghiệp (4611)

Có TK 161 - Chi sự nghiệp (1611)

10. Nguồn kinh phí sự nghiệp của năm trước được xác định còn thừa khi xét duyệt báo cáo quyết toán năm, được chuyển thành nguồn kinh phí sự nghiệp năm nay, ghi:

Nợ TK 461 - Nguồn kinh phí sự nghiệp (4611 - Nguồn kinh phí sự nghiệp năm trước)

Có TK 461 - Nguồn kinh phí sự nghiệp (4612 - Nguồn kinh phí sự nghiệp năm nay).
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại huyện gia lâm Theo Nice Accounting


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hạch toán chuyên sâu tài khoản 635 - Chi phí tài chính



TÀI KHOẢN 635 CHI PHÍ TÀI CHÍNH


Tài khoản này phản ánh những khoản chi phí hoạt động tài chính bao gồm các khoản chi phí hoặc các khoản lỗ liên quan đến các hoạt động đầu tư tài chính, chi phí cho vay và đi vay vốn, chi phí góp vốn liên doanh, liên kết, lỗ chuyển nhượng chứng khoán ngắn hạn, chi phí giao dịch bán chứng khoán. . .; Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán, khoản lỗ phát sinh khi bán ngoại tệ, lỗ tỷ giá hối đoái. . .

Tài khoản 635 phải được hạch toán chi tiết cho từng nội dung chi phí.

Không hạch toán vào Tài khoản 635 những nội dung chi phí sau đây:

- Chi phí phục vụ cho việc sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ;

- Chi phí bán hàng;

- Chi phí quản lý doanh nghiệp;

- Chi phí kinh doanh bất động sản;

- Chi phí đầu tư xây dựng cơ bản;

- Các khoản chi phí được trang trải bằng nguồn kinh phí khác;

- Chi phí tài chính khác.

KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG PHẢN ÁNH CỦA TÀI KHOẢN 635 - CHI PHÍ TÀI CHÍNH

Bên Nợ:

- Chi phí lãi tiền vay, lãi mua hàng trả chậm, lãi thuê tài sản thuê tài chính;

- Lỗ bán ngoại tệ;

- Chiết khấu thanh toán cho người mua;

- Các khoản lỗ do thanh lý, nhượng bán các khoản đầu tư;

- Lỗ tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ của hoạt động kinh doanh (Lỗ tỷ giá hối đoái đã thực hiện);

- Lỗ tỷ giá hối đoái do đánh giá lại cuối năm tài chính các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ của hoạt động kinh doanh (Lỗ tỷ giá hối đoái chưa thực hiện);

- Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán (Chênh lệch giữa số dự phòng phải lập năm nay lớn hơn số dự phòng đã trích lập năm trước chưa sử dụng hết);

- Kết chuyển hoặc phân bổ chênh lệch tỷ giá hối đoái của hoạt động đầu tư XDCB (Lỗ tỷ giá - giai đoạn trước hoạt động) đã hoàn thành đầu tư vào chi phí tài chính;

- Các khoản chi phí của hoạt động đầu tư tài chính khác.

Bên Có:

- Hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán (Chênh lệch giữa số dự phòng phải lập kỳ này nhỏ hơn số dự phòng đã trích lập năm trước chưa sử dụng hết);

- Cuối kỳ kế toán, kết chuyển toàn bộ chi phí tài chính phát sinh trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh.

Tài khoản 635 không có số dư cuối kỳ.

PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN KẾ TOÁN MỘT SỐ NGHIỆP VỤ KINH TẾ CHỦ YẾU

1. Khi phát sinh chi phí liên quan đến hoạt động bán chứng khoán, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính

Có các TK 111, 112, 141,. . .

2. Khi bán vốn góp liên doanh, bán vốn đầu tư vào công ty con, công ty liên kết mà giá bán nhỏ hơn giá trị vốn góp (lỗ), ghi:

Nợ các TK 111, 112,. . . (Giá bán)

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính

Có TK 221 - Đầu tư vào công ty con

Có TK 222 - Vốn góp liên doanh

Có TK 223 - Đầu tư vào công ty liên kết.

3. Khi nhận lại vốn góp liên doanh vào cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát, nhận lại vốn góp vào công ty con, công ty liên kết mà giá bán nhỏ hơn giá trị vốn góp, ghi:

Nợ các TK 111, 112, 152, 156, 211,. . . (Giá trị tài sản được chia)

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính

Có TK 221 - Đầu tư vào công ty con

Có TK 222 - Vốn góp liên doanh

Có TK 223 - Đầu tư vào công ty liên kết.

4. Các chi phí phát sinh cho hoạt động cho vay vốn, mua bán ngoại tệ, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính

Có các TK 111, 112, 141,. . .

5. Cuối kỳ kế toán, doanh nghiệp căn cứ vào tình hình giảm giá đầu tư ngắn hạn, đầu tư dài hạn của các loại chứng khoán, các khoản đầu tư ngắn hạn, dài hạn hiện có, tính toán khoản phải lập dự phòng giảm giá cho các khoản đầu tư ngắn hạn, dài hạn:

- Trường hợp số dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ngắn hạn, dài hạn phải lập năm nay lớn hơn số dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ngắn hạn, dài hạn đã lập năm trước chưa sử dụng hết, thì số chênh lệch lớn hơn, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính

Có TK 129 - Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn

Có TK 229 - Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn.

- Trường hợp số dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ngắn hạn, dài hạn phải lập năm nay nhỏ hơn số dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ngắn hạn, dài hạn đã lập năm trước chưa sử dụng hết, thì số chênh lệch phải được hoàn nhập, ghi giảm chi phí tài chính:

Nợ TK 229 - Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn.

Nợ TK 129 - Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn

Có TK 635 - Chi phí tài chính

6. Khoản chiết khấu thanh toán cho người mua hàng hoá, dịch vụ được hưởng do thanh toán trước hạn phải thanh toán theo thoả thuận khi mua, bán hàng, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính

Có các TK 131, 111, 112,. . .

7. Khoản lỗ phát sinh khi bán ngoại tệ của hoạt động kinh doanh, ghi:

Nợ các TK 111 (1111), 112 (1121) (Theo tỷ giá bán)

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Khoản lỗ - Nếu có)

Có các TK 111(1112), 112 (1122) (Theo tỷ giá trên sổ kế toán).

8. Trường hợp đơn vị phải thanh toán định kỳ lãi tiền vay cho bên cho vay, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính

Có TK các TK 111, 112,. . .

9. Trường hợp đơn vị trả trước lãi tiền vay cho bên cho vay, ghi:

Nợ TK 142 - Chi phí trả trước ngắn hạn (Nếu trả trước ngắn hạn lãi tiền vay)

Nợ TK 242 - Chi phí trả trước dài hạn (Nếu trả trước dài hạn lãi tiền vay)

Có các TK 111, 112,. . .

Định kỳ, khi phân bổ lãi tiền vay theo số phải trả từng kỳ vào chi phí tài chính, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính

Có TK 142 - Chi phí trả trước ngắn hạn

Có TK 242 - Chi phí trả trước dài hạn.

10. Trường hợp vay trả lãi sau, định kỳ, khi tính lãi tiền vay phải trả từng kỳ, nếu được tính vào chi phí tài chính, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính

Có TK 335 - Chi phí phải trả.

- Hết thời hạn vay, khi đơn vị trả gốc vay và lãi tiền vay dài hạn, ghi:

Nợ TK 341 - Vay dài hạn (Gốc vay dài hạn còn phải trả)

Nợ TK 335 - Chi phí phải trả (Lãi tiền vay)

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Lãi tiền vay của kỳ đáo hạn)

Có các TK 111, 112,. . .

11. Trường hợp doanh nghiệp thanh toán định ký tiền lãi thuê của TSCĐ thuê tài chính, khi bên thuê nhận được hoá đơn thanh toán của bên cho thuê, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Tiền lãi thuê trả từng kỳ)

Có các TK 111, 112 (Nếu trả tiền ngay)

Có TK 315 - Nợ dài hạn đến hạn trả (Nếu nhận nợ).

12. Khi mua TSCĐ theo phương thức trả chậm, trả góp về sử dụng ngay cho hoạt động SXKD, ghi:

Nợ các TK 211, 213 (Nguyên giá - ghi theo giá mua trả tiền ngay)

Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có)

Nợ TK 242 - Chi phí trả trước dài hạn {Phần lãi trả chậm là số chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán trừ (-) Giá mua trả tiền ngay trừ (-) Thuế GTGT (Nếu được khấu trừ)}

Có TK 331 - Phải trả cho người bán (Tổng giá thanh toán).

Định kỳ, tính vào chi phí tài chính theo số lãi mua hàng trả chậm, trả góp phải trả, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính

Có TK 242 - Chi phí trả trước dài hạn.

13. Khi trả lãi trái phiếu định kỳ tính vào chi phí SXKD, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính

Có các TK 111, 112,. . . (Số tiền trả lãi trái phiếu trong kỳ).

14. Nếu trả lãi trái phiếu sau (Khi trái phiếu đáo hạn), từng kỳ doanh nghiệp phải tính trước chi phí lãi vay phải trả trong kỳ vào chi phí tài chính, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính

Có TK 335 - Chi phí phải trả (Phần lãi trái phiếu phải trả trong kỳ).

Cuối thời hạn của trái phiếu, doanh nghiệp thanh toán gốc và lãi trái phiếu cho người mua trái phiếu, ghi:

Nợ TK 335 - Chi phí phải trả (Tổng số tiền lãi trái phiếu)

Nợ TK 3431 - Mệnh giá trái phiếu

Có các TK 111, 112,. . .

15. Định kỳ, phân bổ lãi trái phiếu trả trước vào chi phí đi vay từng kỳ, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính

Có TK 242 - Chi phí trả trước dài hạn (Chi tiết lãi trái phiếu trả trước) (Số lãi trái phiếu phân bổ trong kỳ).

16. Khi phát sinh chi phí phát hành trái phiếu có giá trị nhỏ, tính ngay vào chi phí trong kỳ, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính

Có các TK 111, 112,. . .

17. Khi phát sinh chi phí phát hành trái phiếu có giá trị lớn, phải phân bổ dần, ghi:

Nợ TK 242 - Chi phí trả trước dài hạn (Chi tiết chi phí phát hành trái phiếu)

Có các TK 111, 112,. . .

Định kỳ, phân bổ chi phí phát hành trái phiếu, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Phần phân bổ chi phí phát hành trái phiếu trong kỳ)

Có TK 242 - Chi phí trả trước dài hạn (Chi tiết chi phí phát hành trái phiếu).

18. Trường hợp doanh nghiệp phát hành trái phiếu có chiết khấu hoặc phụ trội để huy động vốn vay dùng vào hoạt động SXKD, định kỳ khi tính chi phí lãi vay vào chi phí SXKD trong kỳ, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính

Có các TK 111, 112,. . . (Nếu trả lãi vay định kỳ)

Có TK 242 - Chi phí trả trước dài hạn (Phân bổ chi phí đi vay phải trả trong kỳ - nếu trả trước dài hạn chi phí đi vay)

Có TK 335 - Chi phí trả trước (Trích trước chi phí đi vay phải trả trong kỳ - nếu chi phí đi vay trả sau).

- Nếu phát hành trái phiếu có chiết khấu, định kỳ, khi phân bổ chiết khấu trái phiếu từng kỳ ghi vào chi phí đi vay, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính

Có TK 3432 - Chiết khấu trái phiếu (Số phân bổ chiết khấu trái phiếu từng kỳ).

- Nếu phát hành trái phiếu có phụ trội, định kỳ, khi phân bổ phụ trội trái phiếu từng kỳ ghi giảm chi phí đi vay, ghi:

Nợ TK 3433 - Phụ trội trái phiếu

Có TK 635 - Chi phí tài chính.

19. Đối với doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh khi mua hàng hoá, dịch vụ thanh toán bằng ngoại tệ nếu tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng hoặc tỷ giá giao dịch thực tế nhỏ hơn tỷ giá trên sổ kế toán của TK 111, 112, ghi:

Nợ các TK 151, 152, 153, 156, 157, 211, 213, 241, 623, 627, 641, 642, 133,. . . (Theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng hoặc tỷ giá giao dịch thực tế)

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Lỗ tỷ giá hối đoái)

Có các TK 111 (1112), 112 (1122) (Theo tỷ giá trên sổ kế toán TK 111, 112).

20. Khi thanh toán nợ phải trả (Nợ phải trả người bán, nợ vay ngắn hạn, vay dài hạn, nợ dài hạn, nợ nội bộ,. . .) bằng ngoại tệ, nếu tỷ giá trên sổ kế toán các tài khoản nợ phải trả nhỏ hơn tỷ giá trên sổ kế toán TK 111, 112, ghi:

Nợ các TK 311, 315, 331, 336, 341, 342,. . . (Tỷ giá ghi sổ kế toán)

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Lỗ tỷ giá hối đoái)

Có các TK 111 (1112), 112 (1122) (Theo tỷ giá trên sổ kế toán TK 111, 112).

21. Khi thu được tiền Nợ phải thu bằng ngoại tệ (Phải thu khách hàng, phải thu nội bộ,. . .), nếu tỷ giá trên sổ kế toán của các TK Nợ phải thu lớn hơn tỷ giá giao dịch thực tế hoặc tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng, ghi:

Nợ các TK 111 (1112), 112 (l122) (Tỷ giá bình quân liên ngân hàng hoặc tỷ giá giao dịch thực tế)

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Lỗ tỷ giá hối đoái)

Có các TK 131, 136, 138 (Tỷ giá trên sổ kế toán TK 131, 136, 138).

22. Xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái đánh giá lại số dư ngoại tệ cuối năm tài chính của các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ của hoạt động kinh doanh, kế toán kết chuyển toàn bộ khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái đánh giá lại cuối năm tài chính của hoạt động kinh doanh vào chi phí tài chính (Nếu sau khi bù trừ số phát sinh bên Nợ, bên Có TK 4131 nếu TK 4131 có số dư Nợ) để xác định kết quả hoạt động kinh doanh:

Kết chuyển lỗ tỷ giá hối đoái đánh giá lại cuối năm tài chính vào chi phí tài chính, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Nếu lỗ tỷ giá hối đoái)

Có TK 413 - Chênh lệch tỷ giá hối đoái (4131).

23. Đối với doanh nghiệp mới thành lập, chưa đi vào sản xuất, kinh doanh, khi kết thúc giai đoạn đầu tư xây dựng (Giai đoạn trước hoạt động), kết chuyển số dư bên Nợ TK 4132 (Nếu lỗ tỷ giá hối đoái) của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản (Giai đoạn trước hoạt động) tính ngay vào chi phí tài chính hoặc kết chuyển sang TK 242 “Chi phí trả trước dài hạn” (Số lỗ tỷ giá) để phân bổ trong thời gian tối đa là 5 năm, ghi:

Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Nếu lỗ tỷ giá hối đoái) (Nếu ghi ngay vào chi phí tài chính)

Nợ TK 242 - Chi phí trả trước dài hạn (Lỗ tỷ giá hối đoái)(Nếu phân bổ dần)

Có TK 413 - Chênh lệch tỷ giá hối đoái (4132).

- Định kỳ, khi phân bổ dần lỗ tỷ giá hối đoái của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản (Giai đoạn trước hoạt động), ghi:
Trung tâm kế toán thực hành Tại nam định
Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Lỗ tỷ giá hối đoái)

Có TK 242 - Chi phí trả trước dài hạn.

24. Khi bán các chứng khoán ngắn hạn, dài hạn, mà giá bán nhỏ hơn giá vốn, ghi:

Nợ các TK 111, 112,. . . (Giá bán)

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại long biên Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Số chênh lệch giữa giá vốn lớn hơn giá gốc)

Có các TK 121, 228.

25. Cuối kỳ, kết chuyển toàn bộ chi phí tài chính phát sinh trong kỳ sang Tài khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh”, ghi:

Nợ TK 911 - Xác định kết quả kinh doanh

Có TK 635 - Chi phí tài chính.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận đống đa Theo Nice Accounting


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Giới thiệu hệ thống tài khoản loại 2 - Tài sản dài hạn



LOẠI TÀI KHOẢN 2 - TÀI SẢN DÀI HẠN


Tài sản dài hạn của doanh nghiệp gồm: Tài sản cố định (TSCĐ) hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính, bất động sản đầu tư, đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư góp vốn liên doanh, đầu tư dài hạn khác và đầu tư XDCB ở doanh nghiệp, chi phí trả trước dài hạn, tài sản thuế thu nhập hoãn lại.

HẠCH TOÁN LOẠI TÀI KHOẢN NÀY CẦN TÔN TRỌNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH SAU

1. Trong mọi trường hợp, kế toán TSCĐ phải tôn trọng nguyên tắc đánh giá theo nguyên giá (Giá thực tế hình thành TSCĐ) và giá trị còn lại của TSCĐ.

2. Kế toán TSCĐ phải phản ánh được 3 chỉ tiêu giá trị của TSCĐ: Nguyên giá, giá trị hao mòn và giá trị còn lại của TSCĐ.

Giá trị còn lại = Nguyên giá - Giá trị đã hao mòn của TSCĐ.

3. Kế toán phải phân loại TSCĐ theo đúng phương pháp phân loại đã được quy định trong các báo cáo kế toán, thống kê và phục vụ cho công tác quản lý, tổng hợp chỉ tiêu của Nhà nước.

4. Đối với các khoản đầu tư tài chính dài hạn như: Đầu tư chứng khoán dài hạn, đầu tư góp vốn liên doanh, đầu tư kinh doanh bất động sản,. . . kế toán phải phản ánh số hiện có và tình hình tăng, giảm theo giá thực tế (đối với các loại chứng khoán, bất động sản,. . . các khoản vốn góp liên doanh). Đồng thời phải mở sổ kế toán chi tiết để theo dõi từng khoản đầu tư tài chính dài hạn và các khoản chi phí (nếu có), lãi phát sinh từ hoạt động đầu tư tài chính dài hạn.

Loại Tài khoản Tài sản dài hạn có 14 tài khoản, chia thành 3 nhóm:

Nhóm Tài khoản 21 - Tài sản cố định, có 5 tài khoản:

- Tài khoản 211 - Tài sản cố định hữu hình;

- Tài khoản 212 - Tài sản cố định thuê tài chính;

- Tài khoản 213 - Tài sản cố định vô hình;

- Tài khoản 214 - Hao mòn tài sản cố định;

- Tài khoản 217 - Bất động sản đầu tư.

Nhóm Tài khoản 22 - Đầu tư dài hạn, có 5 tài khoản:

- Tài khoản 221 - Đầu tư vào công ty con;

Trung tâm kế toán thực hành Tại nam định - Tài khoản 222 - Vốn góp liên doanh;

- Tài khoản 223 - Đầu tư vào công ty liên kết;

- Tài khoản 228 - Đầu tư dài hạn khác;

- Tài khoản 229 - Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn;

Nhóm Tài khoản 24 - Các tài sản dài hạn khác, có 4 tài khoản:

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại long biên - Tài khoản 241 - Xây dựng cơ bản dỡ dang;

- Tài khoản 242 - Chi phí trả trước dài hạn;

- Tài khoản 243 - Tài sản thuế thu nhập hoãn lại;

- Tài khoản 244 - Ký quỹ, ký cược dài hạn;

Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận ba đình Theo Nice Accounting


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Nghiên cứu về Nghị định số 109/2007/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước



Thực hiện chủ trương đẩy mạnh đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước, trọng tâm là đẩy mạnh và mở rộng diện tích cổ phần hoá doanh nghiệp kể cả các Tổng Công ty theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và các cam kết trong tiến trình hội nhập, ngày 26/06/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2007/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần thay thế Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004. Những nội dung đổi mới cơ bản của Nghị định số 199/2007/NĐ-CP bao gồm:


Về đối tượng và điều kiện cố phần hoá, ngoài đối tượng qui định trong Nghị định 187, Nghị định mới mở rộng đối tượng cổ phần hoá bao gồm: Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, Công ty mẹ, Công ty TNHH do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Điều kiện cổ phần hoá cũng được qui định rõ theo hướng doanh nghiệp phải còn vốn Nhà nước sau khi xử lý tài chính và đánh giá lại giá trị doanh nghiệp. trường hợp sau khi xử lý tài chính và xác định lại giá trị doanh nghiệp mà giá trị thực tế doanh nghiệp thấp hơn các khoản phải trả thì chuyển sang thực hiện việc bán hoặc giải thể, phá sản.

Về phương thức bán vốn cổ phần lần đầu, Nghị định 109 đưa ra các phương thức bán cổ phần như đấu giá, bảo lãnh phát hành, bán thoả thuận; đồng thời qui định các nguyên tắc cần tuân thủ đối với từng phương thức bán cổ phần để đảm bảo gắn với thị trường, tránh thất thoát vốn Nhà nước.

Về đối tượng mua cổ phần, Nghị định mới đã xác định rõ hơn về tiêu chí đối với cổ đông chiến lược (trong nước cũng như ngoài nước). Theo đó, các cổ đông chiến lược phải cam kết đầu tư lâu dài, cam kết đầu tư công nghệ, hỗ trợ quản lý. Nghị định mới cũng xoá bỏ qui định nhà đầu tư chiến lược trong nước được giảm giá 20% để tạo sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư trọng việc phát hành cổ phiếu lần đầu. Nghị định mới bổ sung qui định cho phép tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp cổ phần hoá đươc sử dụng nguồn quĩ hợp pháp để mua cổ phần theo giá ưu đãi như đối với người lao động trong doanh nghiệp, mức mua tối đa bằng 3% vốn điều lệ.

Đồng thời, Nghị định 109 cũng qui định rõ đối với thành viên Ban chỉ đạo cổ phần hoá doanh nghiệp (trừ các thành viên là đại diện của doanh nghiệp), các tổ chức tài chính trung gian, các cá nhân thực hiện tư vấn, định giá, đấu giá bán cổ phần của doanh nghiệp cổ phần hoá không được tham gia đấu giá mua cổ phần phát hành lần đầu của doanh nghiệp đó.

Về xử lý tài chính của doanh nghiệp cổ phần hoá, Nghị định mới bổ sung thêm trách nhiệm của các Tập đoàn, Tổng công ty (Công ty mẹ) trong việc xử lý các tồn tại tài chính với tư cách là cơ quan chủ sở hữu vốn, cụ thể: Theo qui định của Nghị định 187, tài sản không cần dùng, nợ phải thu khó đòi loại ra khỏi giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá, bàn giao về Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng; trách nhiệm xử lý những tài sản này thuộc về Tổng công ty, Tập đoàn.

Theo qui định tài Luật quản lý thuế có hiệu lực từ 01/07/2007, thì các doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi sở hữu không thuộc đối tượng được xoá nợ thuế (Điều 55 và Điều 65). Để phù hợp với qui định của Luật Quản lý thuế, Nghị định mới đã qui định: Doanh nghiệp cổ phần hoá có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ thuế trước khi chuyển đổi; trường hợp doanh nghiệp chuyển đổi chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì công ty cổ phần sau này có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.

Nghị định mới qui định việc xử lý đối với tài sản đầu tư bằng nguồn Quĩ khen thưởng, Quĩ phúc lợi được công ty cổ phần tiếp tục sử dụng trong sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cổ phần hoá có trách nhiệm hoàn trả Quĩ khen thưởng, Quĩ phúc lợi để chia cho người lao động đang làm việc ở doanh nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp để mua cổ phần.

Đối với vốn đầu tư dài hạn vào doanh nghiệp khác (góp vốn liên doanh, liên kết, góp vốn cố phần, góp vốn thành lập công ty TNHH và các hình thức đầu tư dài hạn khác) qui định chỉ chuyển giao cho DNNN nắm giữ 100% vốn khác làm đối tác, nếu không được thì doanh nghiệp cổ phần hoá phải tiếp tục kế thừa để tính vào giá trị doanh nghiệp.

Đối với khoản chênh lệch giảm giữa giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại thời điểm doanh nghiệp chuyển sang công ty cổ phần với giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp được qui định rõ nguyên nhân. Nếu do nguyên nhân khách quan (do thiên tai, địch hoạ, do Nhà nước thay đổi chính sách, hoặc do biến động của thị trường quốc tế và các nguyên nhân bất khả kháng khác) thì sử dụng tiền thu tu từ bán cổ phần để bù đắp tổn thất sau khi trừ đi bồi thường của bảo hiểm (nếu có). Trường hợp tiền thu từ bán cổ phần không đủ bù đắp, cơ quan quyết định cổ phần hoá xem xét, điều chỉnh giảm qui mô, cơ cấu vốn điều lệ của công ty cổ phần. Nếu lỗ do việc không xử lý dứt điểm các tồn tại về tài chính theo qui định hiện hành của Nhà nước khi xác định giá trị doanh nghiệp thì phải xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan có liên quan: doanh nghiệp, tổ chức tư vấn định giá và cơ quan quyết định cổ phần hoá để xử lý bồi thường vật chất. Nếu lỗ do điều hành sản xuất, kinh doanh thì cán bộ quản lý doanh nghiệp có trách nhiệm bồi thường toàn bộ tổn thất do chủ quan gây ra theo qui định hiện hành. Sau khi xử lý theo các qui định trên mà vẫn không đủ bù chênh lệch giảm thì công ty cổ phần có trách nhiệm kế thừa khoản lỗ này.

Về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp, Nghị định mới đã bổ sung các qui định nhằm hoàn thiện phương pháp định giá, trong đó qui định đối với việc xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp dòng tiền chiết khấu (các tổ chức ngân hàng, tài chính thường dùng) được sử dụng kết quả kiểm toán để làm thông số tính giá trị doanh nghiệp, song cần phải kiểm kê, đánh giá lại giá trị quyền sử dụng đất theo Luật đât đai.

Tuy nhiên, để tránh khả năng gây thất thoát cho nhà nước trong hoạt động định giá, Nghị định đã qui định việc xác định giá trị doanh nghiệp có thể áp dụng bằng nhiều phương pháp, giá trị doanh nghiệp được xác định và công bố không được thấp hơn giá trị doanh nghiệp được xác định theo phương pháp tài sản. Nghị định mới bổ sung thêm những doanh nghiệp cổ phần hoá phải thực hiện thuê tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp ngoài những doanh nghiệp không có tổng trị giá tài sản theo sổ kế toán từ 30 tỷ đồng trở lên còn bao gồm cả doanh nghiệp có giá trị vốn Nhà nước theo sổ kế toán từ 10 tỷ đồng trở lên hoặc có vị trí địa lý thuận lợi. Trường hợp có từ 2 tổ chức tư vấn định giá đăng ký tham gia cung cấp dịch vụ tư vấn định giá trở lên thì phải tổ chức đấu thầu lựa chọn đơn vị thực hiện tư vấn định giá theo qui định hiện hành.

Về việc xác định giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp, Nghị định 109 đưa ra nguyên tắc xác định giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường và rtách nhiệm của UBND tỉnh, thành phố trong việc qui định và công bố giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị của doanh nghiệp trong trường hợp được giao đất. Ngoài ra, đối với trường hợp doanh nghiệp trả tiền thuê đất một lần thì tính tiền thuê đất vào giá trị doanh nghiệp. Giá thuê đất được lấy theo giá tại thời điểm định giá.

Về cơ chế bán cổ phần lần đầu, Nghị định mới qui định tỷ lệ bán cho nhà đầu tư chiến lược theo phương thức thoả thuận và các nhà đầu tư thường theo phương pháp đấu giá không thấp hợp 25% vốn điều lệ, trong đó cổ phần bán đấu giá cho các nhà đầu tư thông thường không thấp hơn 50% số cổ phần nêu trên. Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp qui mô lớn, mức bán ra công chúng do cơ quan quyết định phương án cổ phần hoá xác định.

Về phương thức lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, phương thức bán, giá bán cho nhà đầu tư chiến lược, Nghị định mới đã qui định cụ thể phương thức bán thoả thuận trực tiếp. Đối với các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước (bao gồm cả các ngân hàng thương mại Nhà nước) nếu nhất thiết phải chọn nhà đầu tư chiến lược thì cơ quan quyết định cổ phần hoá báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định việc tổ chức đấu thầu riêng giữa các nhà đầu tư chiến lược. Giá bán không thấp hơn giá đấu thành công bình quân.

Mặt khác, để giảm thiểu sự lợi dụng trong việc đấu giá, dự thảo qui định nếu nhà đầu tư từ chối mua trên 30% số lượng cổ phiếu bán ra thì tổ chức đấu giá tiếp phần từ chối đó; không áp dụng cơ chế chọn thầu cho những nhà đầu tư trả giá thấp hơn như trước.

Để tăng cường công khai minh bạch trong quá trình bán cổ phần lần đầu, nghị định mới bổ sung thêm qui định về công bố thông tin, về thực hiện phát hành ra công chúng để niêm yết trên thị trường chứng khoán. Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hoá đồng thời niêm yết ngay trên thị trường chứng khoán thì phương án cổ phần hoá có thể qui định khối lượng cổ phần đặt mua tối đa, tối thiểu đối với phần bán ra công chúng trong phương án phát hành cổ phần lần đầu để doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá có đủ điều kiện niêm yết. Quy định mức đặt mua tối đa, tối thiểu trong phương án phát hành cổ phần lần đầu không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.

Về quản lý, xử dụng số tiền thu được từ bán cổ phần, Nghị định 109 đã cho phép doanh nghiệp sử dụng tiền thu từ cổ phần hoá để giải quyết chế độ cho người lao động dôi dư khi cổ phần hoá (kể cả người lao động nghỉ việc theo Luật lao động cũng như người lao động thuộc đối tượng áp dụng chính sách dôi dư do sắp xếp lại DNNN theo qui định của Chính phủ).

Nghị định lần này đã qui định thành lập các Quĩ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước, đặc biệt là Quĩ hỗ trợ, sắp xếp doanh nghiệp tại Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước để tiếp nhận tiền thu từ cổ phần hoá còn lại sau khi trừ đi chi phí cổ phần hoá doanh nghiệp sắp xếp lao động dôi dư. Cụ thể:

- Quĩ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty (đối với doanh nghiệp do tập đoàn, Tổng công ty làm chủ sở hữu) sử dụng để: hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, chuyển đổi sở hữu; giải quyết chính sách đối với người lao động dôi dư và xử lý các vấn đề tài chính theo quy định của pháp luật; bổ sung vốn điều lệ theo phê duyệt của cấp có thẩm quyền, phần còn lại được đầu tư phát triển doanh nghiệp theo qui định của pháp luật.

- Tập trung nguồn thu từ cổ phần hoá các doanh nghiệp độc lập thuộc Bộ, UBND các tỉnh, thành phố; toàn bộ Tổng công ty Nhà nước; toàn bộ Tập đoàn kinh tế, công ty mẹ được tổ chức hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con và công ty TNHH do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc các Bộ, UBND các tỉnh, thành phố về Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước. Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước sư dụng để: hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, chuyển đổi sở hữu; giải quyế chính sách đối với lao động dôi dư và xử lý các vấn đề về tài chính theo qui định của pháp luật; bổ sung vốn điều lệ của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước hoặc đầu tư vào các dự án theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

- Thủ tướng chính phue xem xét, quyết định điều hoà nguồn Quỹ trên giữa các Tập đoàn, Tổng công ty (gồm cả Quỹ tại Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước) để phục vụ cho việc đầu tư phát triển của đất nước trong từng thời kỳ theo đề nghị của Bộ Tài chính.

Về quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp, Nghị định mới bỏ cơ chế ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp cổ phần hoá, bãi bỏ việc hỗ trợ các công ty cổ phần trong việc xử lý lao động dôi dư sau khi đã chuyển thành công ty cổ phần. người lao động trong doanh nghiệp vẫn tiếp tục được hưởng cơ chế mua cổ phần ưu đãi giảm giá 40% so với giá đấu thành công bình quân như trước đây, nhưng quyền mua cổ phần sẽ được Nhà nước đảm bảo tối đa theo số năm làm việc trong khu vực Nhà nước (100 cổ phần cho mỗi năm làm việc). tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp cổ phần hoá cũng được mua cổ phần theo giá ưu đãi như người lao động trong doanh nghiệp.

Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận hà đông Về trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan liên quan, Nghị định bổ sung qui định về trách nhiệm của tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) trong việc tham gia vào quá trình cổ phần hoá đối với những doanh nghiệp cổ phần hoá thuộc đối tượng chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước về SCIC như: Thành phần Ban chỉ đạo cổ phần hoá doanh nghiệp có đại diện của SCIC; phối hợp với Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức triển khai thực hiện cổ phần hoá; lựa chọn người đại diện phần vốn Nhà nước góp tại công ty cổ phần.

Trung tâm kế toán thực hành Tại vĩnh phúc Nghị định 109 qui định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan trong việc cổ phần hóa, đẩy mạnh phân cấp đồng thời bổ xung qui định về xử lý vi phạm và qui định về giải quyết khiếu nai, tố cáo. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt phương án cổ phần hoá đối với các Tập đoàn, các Tổng công ty đặc biệt (theo phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 86/2006/NĐ-CP ngày 21/8/2006 của Chính phủ), các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng (như Ngân hàng thương mại Nhà nước), viễn thông... Hội đồng quản trị các Tập đoàn, các Tổng công ty được uỷ quyền quyết định phương án cổ phần hoá, công bố giá trị doanh nghiệp đối với các công ty trực thuộc.

Với những nội dung đổi mới cơ bản nêu trên của Nghị định số 109/2007/NĐ-CP, quá trình cổ phần hoá theo cơ chế mới này sẽ góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước trong thời gian tới đạt được mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đề ra.■
dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại long biên Theo Tài chính doanh nghiệp


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Vấn đề định giá tài sản trong doanh nghiệp



Thông tin về giá trị tài sản của doanh nghiệp trình bày trên báo cáo tài chính hiện nay trên thế giới đang có nhiều thay đổi cơ bản. Sự thay đổi này xuất phát từ nhu cầu thông tin thích hợp và đầy đủ của các đối tượng sử dụng thông tin.


Trong nền kinh tế thị trường, thông tin trên báo cáo tài chính là cơ sở nền tảng để đưa ra các quyết định về quản lý, đầu tư và vay nợ. Để có thể cung cấp thông tin thích hợp với các quyết định kinh doanh, việc xác định giá trị tài sản trên báo cáo tài chính cần hướng đến nhu cầu thông tin các đối tượng sử dụng.

1. Định giá tài sản trên báo cáo tài chính

Định giá tài sản trên báo cáo tài chính là một tiến trình xác định giá trị tiền tệ của tài sản được ghi nhận và trình bày trên báo cáo tài chính.

Cơ sở định giá tài sản là phương pháp xác định giá trị tài sản được lựa chọn ghi nhận trên các báo cáo tài chính. Cơ sở định giá tài sản được xác định căn cứ vào giá trị đo lường tài sản và đơn vị đo lường là đơn vị tiền tệ không đổi hay mức giá chung.

- Theo khuôn mẫu lý thuyết của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế, các giá trị có thể sử dụng để đo lường tài sản là:

+ Giá gốc: Tài sản được ghi nhận theo số tiền hoặc các khoản tương đương tiền đã trả hoặc ghi theo giá trị thực tế của tài sản đó vào thời điểm có được tài sản.

+ Giá trị thuần có thể thực hiện được (giá đầu ra hiện tại): Tài sản được ghi nhận theo số tiền hoặc các khoản tương đương tiền hiện tại có thể thu được nếu bán các tài sản đó.

+ Giá hiện hành (Giá thay thế hay giá đầu vào hiện tại): Tài sản được ghi nhận theo số tiền hoặc các khoản tương đương tiền sẽ phải trả nếu như tài sản đó có được tại thời điểm hiện tại.

+ Giá hiện tại chiết khấu (Hiện giá): Tài sản được ghi nhận theo giá trị hiện tại của các luồng tiền dự định thu vào trong tương lai từ việc sử dụng tài sản.

Thông tin cung cấp thông qua giá trị tài sản có thể tóm lược theo bảng 1.

Bảng 1: Giá trị tài sản và thông tin cung cấp



Qua đối chiếu các chuẩn mực kế toán VN và hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế đang được áp dụng cho thấy các loại tài sản khác nhau được áp dụng các cơ sở định giá khác biệt. Bảng 2 cung cấp thông tin tổng quát về sự khác biệt về cơ sở định giá áp dụng đối với các tài sản trình bày trên báo cáo tài chính.

Bảng 2: Cơ sở định giá các loại tài sản trên báo cáo tài chính



Mục tiêu chủ yếu của báo cáo tài chính là nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng. Nhìn từ góc độ này, báo cáo tài chính cần cung cấp các thông tin về quá khứ, hiện tại và tương lai. Vì vậy, sự kết hợp giữa các loại giá sử dụng trên báo cáo tài chính như quy định trong các chuẩn mực kế toán quốc tế cũng như chuẩn mực kế toán VN là nhằm mục tiêu cung cấp thông tin đầy đủ, và đa dạng đáp ứng yêu cầu thông tin của người sử dụng.

Tuy nhiên, sự kết hợp các cơ sở định giá khác nhau để xác định giá trị tài sản trình bày trên báo cáo tài chính lại tạo nên thông tin khó hiểu và đôi khi không thích hợp đối với người sử dụng báo cáo tài chính. Sự khác biệt về giá trị của các loại tài sản trình bày trên báo cáo tài chính dẫn đến kết quả là giá trị của tổng tài sản trên báo cáo tài chính không phản ánh tổng giá trị tài sản theo giá gốc, cũng không phản ánh tổng giá trị tài sản theo giá thị trường.

2. Nhu cầu thông tin

Các nhóm đối tượng sử dụng thông tin kế toán với các nhu cầu thông tin khác nhau làm nảy sinh tính đa dạng và phức tạp đối với nhu cầu thông tin cần cung cấp.

Trong nền kinh tế thị trường, các thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính chịu ảnh hưởng của 2 nhóm đối tượng chính là nội bộ doanh nghiệp (những nhà quản lý của doanh nghiệp theo từng cấp độ), và những người sử dụng bên ngoài doanh nghiệp (chủ yếu là các nhà nhà đầu tư và những người cho vay).

Phần lớn các báo cáo tài chính hiện nay tại các quốc gia chủ yếu hướng đến mục tiêu cung cấp thông tin cho người sử dụng bên ngoài doanh nghiệp. Các báo cáo tài chính này thường gọi là các báo cáo tài chính theo mục đích chung, và không nhằm ý định đáp ứng nhu cầu của những người sử dụng đòi hỏi những thông tin cụ thể.

Mục tiêu của những báo cáo tài chính theo mục đích chung là nhằm thể hiện những tác động về mặt kinh tế của các nghiệp vụ cũng như các sự kiện đã xảy ra đối với tình trạng tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị. Mặc dù có nhiều cách khác nhau trong việc thể hiện thông tin tài chính, tuy nhiên những báo cáo tài chính cho mục đích chung thường trình bày những thông tin tài chính phù hợp với những quyết định về đầu tư (đối với nhà đầu tư), và tín dụng (đối với những người cho vay).

Đối với các nhà đầu tư, họ cần biết các thông tin tài chính về khả năng sinh lợi và rủi ro tiềm tàng liên quan đến vốn đầu tư. Họ cần những thông tin để xác định xem khi nào thì nên mua, giữ lại hay nên bán các khoản đầu tư cũng như các thông tin về khả năng thanh toán các khoản cổ tức của doanh nghiệp. Đối với những người cho vay, họ cần những thông tin tài chính về giá trị của tài sản thế chấp nợ vay, nguồn trả nợ vay và khả năng thanh toán của doanh nghiệp khi các khoản nợ gốc và lãi vay đến hạn.

Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển vượt bậc, môi trường kinh doanh luôn thay đổi và vấn đề lạm phát là tất yếu như hiện nay, thông tin về giá trị tài sản trên báo cáo tài chính nếu chỉ trình bày theo giá gốc thì sẽ không thích hợp với các đối tượng sử dụng thông tin để đưa ra quyết định kinh tế.

3. Định giá tài sản theo nhu cầu thông tin

Tính thích hợp của thông tin kế toán trong tiến trình ra quyết định được đánh giá thông qua sự tác động của các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính đến quyết định kinh tế của các đối tượng sử dụng thông tin.

Một trong những thông tin quan trọng nhất để đánh giá hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là khả năng thích ứng của doanh nghiệp với sự thay đổi của môi trường kinh doanh và khả năng tồn tại của doanh nghiệp. Sự tồn tại của doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng cung cấp hàng hoá hay dịch vụ liên quan đến các tài sản hiện hữu.

Khi so sánh các giá trị sử dụng để đo lường tài sản, thì giá gốc và giá hiện hành đều thể hiện giá trị đầu vào của tài sản, riêng giá trị thuần có thể thực hiện thể hiện giá trị đầu ra của tài sản. Xét dưới góc độ này, giá trị thuần có thể thực hiện của các tài sản là thông tin quan trọng về giá trị hiện tại của các nguồn lực sẵn có tại doanh nghiệp, thông tin này sẽ hổ trợ cho các nhà đầu tư, những người cho vay cũng như bản thân nhà quản lý trong việc đánh giá khả năng tồn tại của doanh nghiệp. Đối với những người cho vay, giá trị thuần có thể thực hiện phản ánh giá trị thị trường của các tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay còn là thông tin thích hợp cho các quyết định vay nợ.

Bên cạnh đó, giá trị thuần có thể thực hiện được còn phản ánh khoản lợi ích kinh tế tăng lên hay giảm đi trong quá trình sử dụng tài sản, thông tin này phù hợp với khái niệm lợi nhuận kinh tế liên quan đến việc xác định lợi nhuận có lưu ý đến sự bảo toàn vốn. Lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp có tính đến bảo toàn vốn sẽ bao gồm cả các khoản thu nhập hay lỗ phát sinh từ sự thay đổi giá trị của tài sản như:

Trung tâm kế toán thực hành Tại bắc giang - Thu nhập (lỗ) đã thực hiện phát sinh từ các giao dịch bán tài sản trong kỳ kế toán (chênh lệch giữa giá bán tài sản và giá trị thuần có thể thực hiện của tài sản ước tính vào đầu kỳ).

- Thu nhập (lỗ) chưa thực hiện phát sinh từ sự thay đổi giá trị tài sản (chênh lệch giữa giá trị thuần có thể thực hiện của tài sản ước tính cuối kỳ và đầu kỳ).

Nhìn từ góc độ lý thuyết kế toán, khi tất cả các tài sản được đo lường với cùng một cơ sở định giá, giá gốc hay giá thị trường, thì điều này sẽ đáp ứng nhu cầu thông tin dễ hiểu hơn cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính. Bên cạnh đó, việc áp dụng các cơ sở định giá tài sản theo giá thị trường thay thế dần nguyên tắc giá gốc tại nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy xu thế định giá tài sản trên báo cáo tài chính đang hướng đến giá thị trường nhằm đáp ứng đầy đủ hơn yêu cầu thông tin của người sử dụng.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà đông Vì vậy, việc chọn lựa cơ sở định giá cho tất cả các tài sản là giá trị thuần có thể thực hiện kết hợp với việc trình bày giá gốc trong thuyết minh báo cáo tài chính sẽ nâng cao tính dễ hiểu của thông tin kế toán trên báo cáo tài chính đối với người sử dụng, đồng thời thông tin kế toán cung cấp sẽ thích hợp và đầy đủ hơn nhằm hổ trợ cho các quyết định kinh tế của các đối tượng sử dụng thông tin, chủ yếu là các nhà đầu tư và những người cho vay, trong nền kinh tế thị trường.

Chức năng quan trọng nhất của kế toán là cung cấp thông tin, các cơ sở định giá chỉ là công cụ để xác định giá trị tài sản-loại thông tin cần cung cấp. Vì vậy, yếu tố quyết định để chọn lựa cơ sở đo lường nào để định giá tài sản giữa các cơ sở đo lường khác nhau cần phải dựa trên nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận ba đình Theo Tạp chí kế toán


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Báo cáo tài chính hợp nhất - nhìn nhận dưới góc độ chuyên gia



Cơ sở pháp lý


Trước tiên, Điều 29 Luật Kế toán ban hành ngày 17/6/2003 quy định các DN phải lập Báo cáo tài chính tuân thủ chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam. Theo đó, cùng với việc Bộ Tài chính ban hành Chuẩn mực số 25 – Báo cáo tài chính hợp nhất và các khoản đầu tư vào công ty con, ngày 30/12/2003, quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp lập và trình bày Báo cáo tài chính hợp nhất của một tập đoàn gồm nhiều công ty chịu sự kiểm soát hoặc chi phối của công ty mẹ, lập Báo cáo tài chính hợp nhất trở thành một yêu cầu bắt buộc đối với các tập đoàn, bao gồm cả tổng công ty nhà nước hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Điều 16 Luật Chứng khoán ban hành ngày 29/6/2006 một lần nữa nhấn mạnh, các công ty cổ phần niêm yết, cổ phần đại chúng thuộc đối tượng phải lập Báo cáo tài chính hợp nhất phải công bố Báo cáo tài chính hợp nhất định kỳ. Quy định này cũng áp dụng trong trường hợp các công ty này công bố thông tin cho mục đích niêm yết chứng khoán ra công chúng. Như vậy, đối với các công ty, tập đoàn có sở hữu cổ phần chi phối hoặc kiểm soát các công ty khác thì việc lập Báo cáo tài chính hợp nhất là yêu cầu bắt buộc.
Nhu cầu sử dụng
Báo cáo tài chính của DN là công cụ hữu hiệu nhất cung cấp thông tin tài chính cho nhiều đối tượng quan tâm, bao gồm nhà quản lý, nhà đầu tư, cơ quan nhà nước cũng như các đối tượng khác. Giả sử một DN (được gọi là công ty mẹ) sở hữu cổ phần kiểm soát hoặc chi phối các công ty khác (công ty con và công ty liên kết), dẫn tới sự hình thành một “thực thể kinh tế” mới với quy mô và tiềm lực lớn hơn. Dựa trên quyền kiểm soát và chi phối của mình, công ty mẹ có thể gây ảnh hưởng, thậm chí quyết định các giao dịch phát sinh tại các công ty con và công ty liên kết, bao gồm cả giao dịch giữa các công ty này, qua đó ảnh hưởng đến tình hình tài chính của từng công ty. Trong bối cảnh như vậy, Báo cáo tài chính của các đơn vị một cách riêng lẻ sẽ không có nhiều ý nghĩa, do các giao dịch kinh tế phát sinh được phân tích, đánh giá và thực hiện không chỉ bó hẹp trong từng DN, mà theo khuôn khổ “thực thể kinh tế” nói trên, thường được gọi là tập đoàn. Điều này cũng giải thích cho sự ra đời và ý nghĩa kinh tế của Báo cáo tài chính hợp nhất của các tập đoàn.
Dưới góc độ của nhà quản lý, việc nắm bắt tổng thể tình hình tài chính của tập đoàn là rất quan trọng trong việc quản lý hoạt động, định hướng phát triển và phân bổ nguồn lực. Do đó, tình hình tài chính của DN không đơn thuần chỉ là các số liệu, thông tin được phản ánh trên Báo cáo tài chính riêng của chính DN đó, mà phải là các thông tin tài chính trên Báo cáo tài chính hợp nhất của “thực thể kinh tế” nói trên.
Đối với nhà đầu tư, họ cũng cần nắm được tổng thể tình hình tài chính, nguồn vốn đầu tư được thực hiện và phân bổ như thế nào trong cả tập đoàn. Đồng thời, kết quả kinh doanh của tập đoàn cũng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các cổ đông, chứ không đơn thuần chỉ là kết quả kinh doanh của công ty mẹ. Trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là đối với các DNNN, các tập đoàn kinh tế của nhà nước thực hiện quá trình cổ phần hóa gắn liền với việc niêm yết cổ phiếu và chào bán chứng khoán ra công chúng thì nhu cầu sử dụng Báo cáo tài chính hợp nhất của nhà đầu tư càng trở nên cần thiết hơn.
Ngoài ra, một thực tế đáng quan tâm hiện nay là vấn đề huy động vốn của các DN, trong cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân. Nguồn vốn trong nước huy động ngày càng khó trong bối cảnh Chính phủ chủ trương thắt chặt tín dụng, kiềm chế lạm phát. Không những nguồn vốn đầu tư bị giảm sút, mà chi phí huy động cao đã trở thành rào cản cho quá trình tăng trưởng, phát triển của các DN. Vấn đề minh bạch thông tin tài chính càng trở nên cấp thiết hơn đối với nhà quản lý nhằm tạo sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư không chỉ ở thị trường trong nước mà còn vươn ra các thị trường lớn trên thế giới, nơi có nguồn vốn huy động với chi phí thấp hơn. Vấn đề lập Báo cáo tài chính hợp nhất tuân thủ theo cả chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế ngày càng trở nên cần thiết và là điều kiện bắt buộc để có thể tiếp cận với các nguồn vốn này.
Thực trạng và giải pháp
Quy trình và hệ thống kế toán tại mỗi DN được xây dựng trên cơ sở đặc thù mô hình sở hữu và quản lý của mỗi DN. Vài năm trở lại đây, quá trình thay đổi về sở hữu, thay đổi về mô hình, cơ cấu tổ chức quản lý tại các DN đã và đang diễn ra. Tuy nhiên, việc thay đổi về cơ cấu tổ chức và vận hành của bộ máy kế toán có thể chưa được tiến hành đồng thời và phù hợp với sự thay đổi của cơ cấu quản lý, sở hữu. Điều này có thể thấy rõ khi trong thời gian gần đây, các tập đoàn kinh tế nhà nước thành lập nhiều công ty con, công ty thành viên và công ty liên kết. Tuy nhiên, công tác kế toán tại các công ty con này được tổ chức và vận hành ra sao cho phù hợp với mô hình chung của tập đoàn cũng như đáp ứng được yêu cầu thông tin cho quá trình lập Báo cáo tài chính hợp nhất của cả tập đoàn thì không phải lúc nào cũng có câu trả lời thích đáng. Qua tìm hiểu, khó khăn của các DN trong việc lập Báo cáo tài chính hợp nhất có thể thấy ở các khía cạnh sau:
- Thông tin lập Báo cáo tài chính được cung cấp không đầy đủ, đôi khi chưa phù hợp. Tại nhiều đơn vị, việc các công ty con, công ty thành viên nộp Báo cáo tài chính lên công ty mẹ một cách định kỳ cho mục đích quản lý nhiều hơn là cho mục tiêu hợp nhất Báo cáo tài chính. Do đó, các thông tin này không được thiết kế cho mục tiêu hợp nhất, dẫn đến không cung cấp đầy đủ thông tin phù hợp cho quá trình hợp nhất Báo cáo tài chính. Hơn thế, trong cùng một tập đoàn, một tổng công ty thì đôi khi số liệu báo cáo của các đơn vị thành viên không nhất quán với nhau về chính sách, mẫu biểu… làm cho quá trình hợp nhất gặp nhiều khó khăn.
- Thông tin lập Báo cáo tài chính không được cung cấp kịp thời.
- Kinh nghiệm, trình độ của một bộ phận đội ngũ nhân sự kế toán thực hiện công tác lập Báo cáo tài chính hợp nhất chưa cao.
Có thể khái quát rằng, công tác lập Báo cáo tài chính hợp nhất của một số DN không được lập kế hoạch chi tiết một cách đầy đủ. Do đó, đến cuối năm tài chính, khi đặt ra vấn đề lập Báo cáo tài chính hợp nhất thì các khó khăn mới được đề cập. Ngoài khó khăn về nhân sự, các thông tin phục vụ cho quá trình hợp nhất thường là không đầy đủ, không kịp thời và không đủ chất lượng đáp ứng yêu cầu hợp nhất. Lý do đơn giản là các thông tin này đã không được theo dõi đầy đủ và theo một mẫu biểu thống nhất từ khi nó phát sinh.
Chúng tôi cho rằng, để việc lập Báo cáo tài chính hợp nhất được đơn giản, thuận tiện, đi vào thực tế và đáp ứng đòi hỏi về chất lượng cũng như tiến độ thì công tác kế toán cần được tổ chức trên phạm vi toàn bộ tập đoàn, toàn bộ hệ thống các công ty mẹ, công ty con, công ty liên kết và không có sự tách biệt đáng kể giữa kế toán công ty mẹ, công ty con hay kế toán hợp nhất Báo cáo tài chính. Trong quá trình tổ chức công tác kế toán tại các công ty con, công ty liên kết thì mục tiêu phục vụ cho quá trình hợp nhất cũng là mục tiêu bắt buộc. các gợi ý sau đây của chúng tôi về quá trình tổ chức công tác kế toán trên phạm vi toàn bộ tập đoàn được đưa ra dựa trên kinh nghiệm thực tế, các khảo sát và đánh giá của chúng tôi trong quá trình cung cấp dịch vụ cho các DN thuộc đối tượng yêu cầu phải lập Báo cáo tài chính hợp nhất.
Thứ nhất, đồng nhất quy trình khóa sổ và lập Báo cáo tài chính hợp nhất.
Quy trình khóa sổ kế toán và lập Báo cáo tài chính cần được xây dựng và triển khai áp dụng đồng bộ cho tất cả các đơn vị trong tập đoàn. Quy trình đồng nhất này phải đảm bảo một số yêu cầu tối thiểu sau:
- Đồng nhất về chính sách kế toán áp dụng: các hoạt động kinh doanh tương tự nhau trên phạm vi toàn bộ tập đoàn cần được ghi nhận và xử lý theo cùng một chính sách, một phương pháp thống nhất. Điều này đảm bảo số liệu ghi nhận giữa các đơn vị có sự tương đồng và thể hiện đầy đủ hoạt động của toàn bộ tập đoàn. Quá trình này không chỉ bao gồm đồng bộ các chính sách ghi nhận nghiệp vụ kinh tế phát sinh, mà còn đồng bộ về quá trình lập Báo cáo tài chính, đồng bộ các thủ tục kiểm soát được thiết lập trong các quá trình như thực hiện các bút toán điều chỉnh cuối kỳ, quá trình soát xét, kiểm tra và phê duyệt Báo cáo tài chính.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại quảng ninh - Đồng nhất hệ thống mẫu biểu báo cáo: các mẫu biểu báo cáo, bao gồm cả báo cáo tổng hợp và báo cáo chi tiết cần được quy định đầy đủ, đồng nhất và thống nhất áp dụng giữa tất cả các đơn vị thành viên.
- Quy định về thời hạn hoàn thành báo cáo tại các đơn vị: để đáp ứng yêu cầu về thời gian hoàn thành Báo cáo tài chính hợp nhất thì Báo cáo tài chính tại các công ty con, công ty liên kết trong tập đoàn cũng cần phải được hoàn thành trong thời gian phù hợp.
Thứ hai, hướng dẫn và giám sát thực hiện.
Các hệ thống chính sách, thủ tục, mẫu biểu đã được thiết lập cần được phổ biến đầy đủ tới các đơn vị thành viên, tới những người trực tiếp làm nhiệm vụ ghi chép kế toán phục vụ cho quá trình hợp nhất. Việc đào tạo, phổ biến kiến thức cần được làm thường xuyên, nhằm đảm bảo hệ thống nhân sự kế toán nắm bắt, cập nhật đầy đủ những yêu cầu mới, những khó khăn phát sinh. Quá trình này cũng nhằm đảm bảo trong trường hợp có sự thay đổi về nhân sự kế toán thì những người mới đảm trách công việc có thể đáp ứng yêu cầu. Việc lập thử nghiệm Báo cáo tài chính hợp nhất có thể được tiến hành để xác định trước các vấn đề phát sinh và có thời gian xử lý kịp thời.
dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty trọn gói giá rẻ tại hà đông Trong quá trình lập Báo cáo tài chính hợp nhất, các DN cũng nên có một bộ phận hoặc cán bộ giám sát quá trình hợp nhất. Quá trình giám sát có thể đối với việc thực hiện ghi chép ban đầu tại các đơn vị thành viên, việc tuân thủ các quy định về mẫu biểu, thông tin, chính sách cũng như đáp ứng yêu cầu về thời hạn. Bộ phận giám sát cũng có thể là nơi nắm bắt và giải đáp các thắc mắc, khó khăn phát sinh tại các đơn vị. Đảm bảo rằng, các vấn đề phát sinh tại mỗi đơn vị cục bộ đã được giải quyết trước khi lập báo cáo và hơn nữa, nếu đó là những vấn đề liên quan đến toàn bộ tập đoàn thì cần được phổ biến đến tất cả các đơn vị liên quan./.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải phòng Theo ĐTCK


Read More Add your Comment 0 nhận xét


IFRSs for SME cho doanh nghiệp nhỏ và vừa



Bên cạnh việc ban hành hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRSs), Ủy ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IASB) cũng ban hành hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (IFRSs for SME). Điều này thể hiện vai trò quan trọng và cần thiết đối với việc cung cấp thông tin kế toán của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.


Mục đích của hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa là đưa ra các quy định thông tin kế toán có chất lượng, dễ hiểu và có khả năng so sánh, nhằm giúp các đối tượng tham gia trên thị trường chứng khoán và các đối tượng khác đưa ra các quyết định chính xác; đưa ra hướng dẫn về sự áp dụng chuẩn thông tin đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.IFRSs for SMEs tập trung vào các loại giao dịch, sự kiện khác và các phát sinh đối với các doanh nghiệp có khoảng 50 nhân viên, nhằm đáp ứng nhu cầu của hơn 95% các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên toàn thế giới. So với IFRSs, trong IFRSs for SMEs, các vấn đề không xảy ra đến doanh nghiệp nhỏ và vừa đều bị loại bỏ, ví dụ như thu nhập trên cổ phiếu, báo cáo tài chính giữa niên độ và báo cáo bộ phận. Đối với IFRSs thì cho phép được lựa chọn các chính sách kế toán còn IFRSs fo SMEs chỉ cho phép việc lựa chọn đơn giản hơn. Nhiều nguyên tắc kế toán trong việc đo lường và ghi nhận Tài sản, Nợ phải trả, Thu nhập và chi phí trong IFRSs for SMEs được đơn giản hóa, ví dụ, khấu hao lợi thế thương mại, chi phí đi vay và vốn hóa chi phí đi vay, kế toán các khoản đầu tư liên kết và liên doanh, công cụ tài chính không sẵn sang để bán hoặc nắm giữ đến ngày đáo hạn, chuẩn mực được viết rõ ràng, đơn giản hóa... Các chính sách kế toán được sử dụng đối với SMEs.

Giữa IFRSs và IFRSs for SMEs có sự riêng rẽ và khác biệt cơ bản, nếu các doanh nghiệp áp dụng IFRSs for SME thì phải áp dụng một cách đầy đủ mà không được phép áp dụng lẫn lộn giữa IFRSs và IFRSs for SME. IFRSs for SME bản thân bao gồm các nguyên tắc kế toán nền tảng giống như IFRSs nhưng được đơn giản hóa để phù hợp hơn với SMEs. IFRSs for SMEs bao gồm các yêu cầu đối với sự phát triển và áp dụng của các chính sách kế toán khi thiếu các hướng dẫn đối với các nghiệp vụ phát sinh đặc biệt. Một doanh nghiệp có thể không yêu cầu được xem xét. Kết quả của sự đơn giản hóa đó là một vài vấn đề của IFRSs được lược bỏ bởi vì ở các loại hình SMEs không phát sinh các nghiệp vụ này; đơn giản trong việc ghi nhận và đo lường các nguyên tắc kế toán đầy đủ theo IFRSs; sự công bố về bản chất; thuật ngữ đơn giản và giải thích rõ ràng. Kết quả của sự đơn giản này là IFRSs for SMEs chỉ bằng khoảng 10% về kết cấu cũng như về những yêu cầu công bố.
Ở Việt Nam, hệ thống chuẩn mực kiểm toán bao gồm 26 chuẩn mực kế toán và 24 các thông tư hướng dẫn, qua đó, đã ban hành Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 về chế độ kế toán áp dụng cho loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong 26 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đã được ban hành, việc áp dụng các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa được chia ra ba nhóm như bảng 1, bảng 2, bảng 3.



Rõ ràng, việc có hệ thống chuẩn mực kiểm toán cho loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa là hoàn toàn cần thiết trên thế giới cũng như đối với từng quốc gia riêng biệt. Tuy nhiên, việc ban hành và áp dụng giữa hai hệ thống chuẩn mực của các doanh nghiệp và các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ khác nhau phù thuộc và nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, xã hội, yêu cầu cùng cấp thông tin kinh tế tài chính... Với điều kiện Việt Nam hiện nay, chúng ta cần thiết thực hiện các giải pháp sau đây nhằm hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kiểm toán nói chung cũng như hệ thống chuẩn mực kiểm toán cho doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng như sau:

Thứ nhất, soát xét và đánh giá lại những chuẩn mực kiểm toán đã ban hành. Đây là vấn đề rất cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay, nội dung công việc này đó là tổ chức đánh giá lại những chuẩn mực kiểm toán đã ban hành dưới được áp dụng ở Việt Nam như thế nào, còn những tồn tại gì cần chỉnh sửa, cũng đánh giá lại sự thay đổi so với IFRS đối với các chuẩn mực kiểm toán đã ban hành ra sao bởi vì IFRS luôn vận động thay đổi cập nhật cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội. Nếu như trước đây, VAS có nguồn gốc từ IAS/IFRS thì hiện nay những IAS/IFRS đã cập nhật, chỉnh sửa thì nhất thiết VAS cũng phải thay đổi, chỉnh sửa theo. Nghiên cứu và triển khai cận nhất ban hành những chuẩn mực kiểm toán mới phù hợp với tình hình nước ta cũng như sự phát triển, ban hành mới của IFRS.



Thứ hai, tăng cường công tác bồi dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực giảng viên của các cơ sở đào tạo cũng có vai trò rất lớn trong việc cập nhật và phổ biến IFRS. Do đó, các cơ sở đào tạo cần thiết phải có chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài hơn nữa đối với giảng viên bằng cách cử họ tham gia các dự án, các khóa học, các chuyến đi thực tế nước ngoài tìm hiểu IFRS. Đồng thời, khi xây dựng Chương trình đào tạo phải bổ sung môn học chuẩn mực kiểm toánQT. Với cơ quan quản lý là Bộ Giáo dục và Đào tạo phải có chương trình hành động cụ thể về việc tìm hiểu và vận dụng những chương trình tiên tiến để xây dựng bộ chương trình cho phù hợp với điều kiện nước ta. Có như vậy, khi các trường vận dụng sẽ vừa đảm bảo được yêu cầu "cứng" của Bộ cũng như tiếp nhận được chương trình mới tiên tiến. Bên cạnh đó, khi xây dựng và vận dụng chương trình tại các trường nên cần thiết phải có môn học đó là: chuẩn mực kiểm toán, trong đó sẽ có phần chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và chuẩn mực kiểm toán quốc tế.

Trung tâm kế toán thực hành Tại nam định Thứ ba, xác định nhiệm vụ và vai trò của các cơ quan chức năng, tổ chức liên quan: Bộ Tài chính sẽ phải là cơ quan chủ quan xây dựng lộ trình tìm hiểu, cập nhật IFRS. Vì những vấn đề hiện nay liên quan đến kế toán, kiểm toán cơ quan chủ quản vẫn là Bộ Tài chính. Thực tế hiện nay đòi hỏi những người làm kế toán phải nắm được IFRS ít nhất cũng phải là những nội dung cơ bản. Tuy nhiên, những cá nhân này không thể tự mình tìm hiểu, mà cho dù có tìm hiểu thì cũng sẽ có những trở ngại rất lớn như vấn đề ngôn ngữ, vấn đề dịch thuật, hiểu vấn đề... Nếu khi được ban hành cập nhật IFRS bằng tiếng Việt chắc chắn phần nào sẽ thuận lợi cho những đối tượng quan tâm. Bên cạnh đó, hội nghề nghiệp kế toán, kiểm toán cũng phải tìm kiếm những dự án về các lớp tìm hiểu cập nhật IFRS, tổ chức nhưng buổi hội thảo...



dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại cầu giấy Thứ tư, nghiên cứu và ban hành quy trình chuẩn mực trong quá trình ban hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán. Hệ thông chuẩn mực kiểm toán quốc tế được IASB ban hành qua nhiều quy trình chặt chẽ nhất định từ việc nghiên cứu soạn thảo đến việc lấy ý kiến sửa đổi hoàn thiện bản thảo đến việc ban hành lần cuối. Bên cạnh đó, do nhiều nguyên nhân khác nhau ở từng thời kỳ nên việc sửa đổi cập nhật cũng diễn ra thường xuyên. Vì vậy, các cơ quan chức năng ở Việt Nam cần có kế hoạch chỉnh sửa và bổ sung về nội dung những chuẩn mực kiểm toán đã ban hành.
Thứ năm, giao cho Hội Kế toán kiểm toán Việt Nam là đầu mối thực hiện khảo sát, nghiên cứu soạn thảo và ban hành IFRSs for SMEs: Thực hiện đúng quy trình, VAA sẽ tổ chức nghiên cứu và thành lập các nhóm chuyên môn làm việc để sau đó thực hiện xin ý kiến đóng góp hoàn thiện của các bên liên quan./.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận tại từ liêm Theo TCKT


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Vai trò bản kế hoạch lãi/lỗ



Ai là người cần một kế hoạch lãi/lỗ? Có phải việc đầu tư chỉ là mua gốc bán ngọn không? Nếu như lúc nào cũng mua gốc bán ngọn thì thật là tuyệt, nhưng chắc chắn rằng điều này gần như là không thể. Hơn nữa, các nhà đầu tư cũng chỉ là con người: cảm xúc thường làm dao động sự phán đoán và bản chất chúng ta luôn ghét sự thất bại.


Thất bại trong giao dịch chứng khoán thành ra không chỉ làm thiệt hại cho ví tiền mà còn làm tổn thương cái tôi của chính chúng ta. Thường thì các nhà đầu tư kiếm lời bằng cách bán các cổ phiếu tăng giá, giữ lại những cổ phiếu xuống giá với hy vọng chúng sẽ tăng giá trở lại, và như vậy, những cổ phiếu này co lại còn một phần so với giá trị trước đó. Vậy làm thế nào các nhà đầu tư có thể tránh được những hậu quả đó? Một giải pháp được đưa ra là phải học để trở thành một nhà đầu tư có kỷ luật và phải thông qua một kế hoạch lãi/lỗ.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đi sâu vào chiến lược và sẽ chỉ cho bạn thấy sử dụng một kế hoạch lãi/lỗ như thế nào để có được số dư.

Một kế hoạch lãi/lỗ là gì?

Kế hoạch này là một bước mà rất nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ (và các nhà đầu tư chuyên nghiệp) thường coi nhẹ. Kế hoạch lãi/lỗ là tập hợp những giới hạn nhằm xác định mức độ thua lỗ lớn nhất hoặc lợi nhuận mà nhà đầu tư kiếm được trên một cổ phiếu. Một phần rất quan trọng trong việc đầu tư là phải tính đến những thua lỗ trong kế hoạch đầu tư của mình, bởi vậy kế hoạch lãi/lỗ sẽ là cốt lõi cho một chiến lược chính xác.

Tất cả chúng ta đều mắc phải sai lầm khi lựa chọn cổ phiếu và phần lớn đều bị mất tiền trên thị trường chứng khoán. Cái tạo nên những nhà đầu tư vĩ đại đó chính là khả năng nhận biết những lựa chọn sai lầm của họ và sử dụng chúng làm bài học cho những quyết định đầu tư sau này. Một kế hoạch lãi/lỗ giúp bạn nhận ra những sai lầm bằng cách cho phép bạn tách biệt vấn đề tình cảm với đầu tư. Nếu bạn không quá sốt sắng tới lợi nhuận mà chỉ xem chúng hoàn toàn như một phương tiện thúc đẩy sự lưu thông tiền mặt (trên hết cả là bản ngã của bạn) thì bạn sẽ có nhiều thời gian dễ dàng hơn để xem những cổ phiếu thua lỗ và hơn nữa là kiểm soát được chúng.

Đặt kế hoạch cho mình

Đặt ra một kế hoạch có thể khó hơn rất nhiều những gì bạn nghĩ. Trước tiên, bạn sẽ phải xác định mức lợi nhuận tối đa mà bạn sẽ chấp nhận và mức thua lỗ tối đa mà bạn cho phép đầu tư, nhưng các giới hạn tối đa và tối thiểu đó không nhất thiết phải áp dụng cho tất cả các loại cổ phiếu. Ví dụ: khi so sánh một cổ phiếu có tính thanh khoản cao (blue chip stock) với một cổ phiếu có giá trị thấp đang tăng trưởng (small-cap growth stock) thì khả năng tăng hay giảm 10% giá cổ phiếu có tính thanh khoản cao trong một năm ít hơn rất nhiều so với cổ phiếu có giá trị thấp. Nói một cách khác, bạn phải phân tích riêng từng cổ phiếu để ước tính nó có thể biến động đến mức nào.

Một số nhà đầu tư thường sử dụng phương pháp phân tích kỹ thuật (technical analysis) hoặc phân tích cơ bản (fundamental analysis) hoặc kết hợp cả hai để xác định những giới hạn thích hợp cho lợi nhuận và thua lỗ. Một cách khác để bạn đặt ra những giới hạn cho mình là mô hình hóa kế hoạch của bạn dựa trên việc thực hiện các mốc chuẩn đã đặt ra như chỉ số hoặc thậm chí dựa trên thành quả trước đây trong danh mục đầu tư của mình.

Một yếu tố khác mà bạn phải tính đến khi đặt kế hoạch lãi/lỗ là mức độ rủi ro cho phép dựa trên các yếu tố như cá tính của bạn, khung thời gian và nguồn vốn của mình. Điển hình là những người quan tâm tới rủi ro thường có những giới hạn chặt chẽ hơn những người không bận tâm tới rủi ro. Những người thích rủi ro thường sẽ kiếm nhiều lợi nhuận tới mức có thể từ việc cổ phiếu tăng giá, nhưng những nhà đầu tư bảo thủ hơn có thể bán cổ phiếu sớm hơn thời điểm tăng giá để loại trừ rủi ro thua lỗ, điều có thể xảy ra khi cổ phiếu rớt giá nhanh chóng. Nếu bạn muốn tránh xa rủi ro, thì một kế hoạch lãi/lỗ với 10% có thể là không phù hợp hoặc thậm chí là không thực tế đối với bạn. Mặt khác, nếu bạn sẵn sàng chấp nhận thêm rủi ro cùng với lợi nhuận tiềm năng thì 10% của kế hoạch lãi/lỗ có thể là thích hợp với bạn hơn.

Triển khai kế hoạch lãi/lỗ của mình

Ngay khi bạn quyết định con số lãi/lỗ, dù bạn là người bảo thủ hay là người năng động thì bạn cũng đưa kế hoạch đó vào hành động với càng ít cản trở càng tốt. Hãy nhớ rằng, kế hoạch này có hai yêu cầu: bạn phải bán cổ phiếu (1) nếu nó giảm xuống tới mức độ nào đó và (2) nếu nó tăng tới một mức nhất định.

Ngày nay, các nhà môi giới chứng khoán sẽ không để cho bạn đặt hai lệnh bán khác nhau cho cùng một loại cổ phiếu, vì vậy bạn phải xác định cổ phiếu nào bạn ưu tiên bán ra trước. Khôn hơn hết là bạn nên đặt lệnh cho các cổ phiếu để ngăn chặn trước khả năng sụt giá: rất nhiều nhà đầu tư khôn ngoan sử dụng lệnh cắt lỗ nhằm hướng dẫn nhà môi giới chứng khoán bán hay mua một cổ phiếu ngay khi nó đạt tới mức giá nhất định. Việc cắt lỗ đảm bảo rằng bạn sẽ không bị nhấn chìm trong thị trường xuống giá, đặc biệt là không phải lúc nào bạn cũng theo dõi được tất cả các phiên giao dịch. Khi bạn đặt lệnh với nhà môi giới chứng khoán của mình, hãy đưa ra mức giá mà bạn cho rằng tỷ lệ phần trăm thua lỗ là tối đa và sau đó hãy ngồi và chờ kết quả. Nếu giá khớp lệnh ở trần trên so với dự kiến của bạn thì bạn chỉ cần thay đổi giá cho lệnh cắt lỗ và bán ngay cổ phiếu của mình.

Giữ đúng kỷ luật

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại bắc ninh Khi đã có bản chiến lược lãi/lỗ trong tay thì bạn phải nhớ rằng toàn bộ ý tưởng của kế hoạch là để thiết lập những phương châm chỉ đạo nghiêm ngặt nhằm quyết định khi nào cần bán cổ phiếu. Chắc chắn rằng, bạn sẽ cảm thấy đau lòng khi thấy cổ phiếu vẫn tiếp tục tăng giá khi bạn bán ra, nhưng thường thì bán một cổ phiếu đang lên giá tốt hơn là đợi cho đến lúc phải bán hạ giá khi giá của nó đang sụp xuống sau khi đã đạt tới giá đỉnh điểm. Chính Joseph P. Kennedy đã từng nói “chỉ có một thằng ngốc mới giữ lại cổ phiếu ở mức giá cao nhất”.

Kết luận

Hãy nhớ rằng những con số ví dụ của chúng tôi là sự suy rộng. Và để đặt một kế hoạch bạn cần phải có sự nghiên cứu tỉ mỉ, phân tích, tự đánh giá và có cái nhìn thực tế. Còn việc đặt một giới hạn lợi nhuận ở mức 100% (gấp đôi số vốn của bạn) không có ý nghĩa gì nếu bạn đầu tư vào các công ty có mức độ rủi ro thấp với tốc độ tăng trưởng đều mỗi năm là 15%.

Dưới đây là một vài điểm đáng nhớ:

Trung tâm kế toán thực hành Tại đà nẵng - Một cổ phiếu giảm 50% có nghĩa là bạn sẽ cần gấp đôi số tiền để lấy lại vốn. Kiểm soát thua lỗ là chìa khóa cho chiến lược đầu tư hiệu quả.

- Mắc phải sai lầm là bản chất của con người. Một khi bạn nhận ra điều này, bạn sẽ thấy dễ dàng hơn.

- Mua cổ phiếu và giữ nó trong một thời gian dài không có nghĩa là bạn sẽ kiếm được tiền. Một chiến lược mua và giữ sẽ chỉ hiệu quả khi bạn chọn được những công ty phù hợp.

Và điểm quan trọng nhất trong việc đặt ra kế hoạch lãi/lỗ là hãy bám sát vào nó!
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận hai bà trưng Theo daotaodoanhnhan


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Nợ xấu có được coi là vốn đã mất?



Nợ xấu của ngân hàng là vấn đề được bàn luận khá nhiều nhưng đến nay giải pháp nào để xử lý vẫn còn đang tranh cãi.


Xét theo cách phân định nợ xấu như hiện nay của ngân hàng nhà nước, dường như đang có sự che giấu về nguyên nhân gây nên nợ xấu, đồng thời làm mờ nguy cơ mà nó có thể gây ra.

Về lý thuyết, quan hệ tín dụng luôn có hai chủ thể là người vay (doanh nghiệp) và người cho vay (NH). Vậy, khi nợ xấu xảy ra, trách nhiệm trước hết được quy ngay vào việc quản lý yếu kém của hai chủ thể kinh tế này. Nhưng ở thực tế, nợ xấu còn có nguyên nhân khách quan khó tránh như: khủng hoảng, lạm phát, biến động tỷ giá, thay đổi pháp luật... Từ đó, để tạo điều kiện vật chất khắc phục rủi ro, luật đang buộc các ngân hàng phải tiến hành trích lập dự phòng.

Tính đến nay, chưa có con số thống nhất về nợ xấu, song nhận định chung là nó rất lớn và cần xử lý cấp bách. Bởi lẽ, nợ xấu thực chất là vốn đã mất nhưng vẫn được ghi trên bảng cân đối kế toán như là một loại tài sản. Vậy nên xử lý nợ xấu bây giờ không phải là tìm cách khôi phục vốn đã mất đó, mà chỉ là những thủ tục, những thao tác xóa khoản mục tài sản này trong bảng cân đối kế toán. Nói cách khác là “làm sạch” bảng cân đối kế toán.





Đã có nhiều biện pháp đã được nêu ra, song điều đáng nói là các giải pháp mà Chính phủ đưa ra tính đến nay còn phân tán, chưa rõ trọng tâm. Thêm nữa, tâm lý xã hội lại nôn nóng, muốn giải quyết nhanh bằng cách dựa vào Nhà nước khiến mọi chuyện cứ lơ lửng không giải quyết được.

Đó là chưa kể tình trạng nợ xấu hiện nay là hậu quả của những yếu kém kéo dài của các chủ thể kinh tế và cả của Nhà nước, lại bị chi phối bởi nhiều nhóm lợi ích, cho nên việc xử lý cần có thời gian với những bước đi vững chắc, minh bạch, vì lợi ích chung, không vì các nhóm lợi ích.

Thông thường, vai trò điều chỉnh kinh tế của Nhà nước được đề cao trong việc tích cực hỗ trợ xử lý nợ xấu nhằm ổn định kinh tế, xã hội. Ở Việt Nam, vai trò này lại càng quan trọng. Nhất là khi mục tiêu kinh tế chưa phân định rạch ròi với mục tiêu chính trị - xã hội, quản lý nhà nước còn chồng chéo với quản lý kinh doanh, nhiều khi Nhà nước đã trực tiếp can thiệp vào quản lý kinh doanh của các chủ thể kinh tế, gây ra hậu quả thua lỗ. Như vậy, sau nhiều giải pháp được đề ra, hiện có 3 biện pháp được đúc kết từ các đề xuất được cho là đáng quan tâm lúc này.

Thứ nhất, ngân hàng và doanh nghiệp tự xử lý. Đây có thể được coi là hướng chủ đạo vì nhiều nguyên nhân. Chẳng hạn, điều này thể hiện quan điểm xử lý nợ xấu trước hết phải thuộc về ngân hàng và doanh nghiệp. Dĩ nhiên đã gọi là xử lý nợ xấu thì không thể hy vọng thu hồi được toàn bộ. Cho nên ở đây cần đặt vấn đề xóa/giảm/giãn.

Khả năng làm việc này trước hết phụ thuộc vào thiện chí cộng tác của hai bên và mức độ trích dự phòng rủi ro của các NH. Nhiều người đã kêu gọi ngân hàng “hy sinh” lợi nhuận bằng cách tăng trích dự phòng. Nếu ngân hàng và doanh nghiệp thỏa thuận được vấn đề xóa/giảm/giãn nợ cũ, tốt hơn nữa, nếu doanh nghiệp lại được tiếp thêm vốn để tái cơ cấu hoạt động kinh doanh, thì nợ xấu có thể được các bên liên quan từng bước giải quyết.

Liên quan đến vấn đề này, lãnh đạo nhiều ngân hàng cũng đã khẳng định rằng họ có thể tự giải quyết. Vì thực tế thời gian qua, nhiều ngân hàng đã tiến hành mua bán- sáp nhập, qua đó nợ xấu của ngân hàng yếu kém trước sáp nhập được hòa trong tình trạng tài chính chung của ngân hàng hình thành sau sáp nhập.

Dù thực chất đây chỉ là một cách điều chuyển tài sản không mấy minh bạch giữa hai ngân hàng này, nhưng cũng đã là tiền lệ. Xét về lý thuyết, có thể sử dụng biện pháp này để xử lý nợ xấu, nếu NH/doanh nghiệp mạnh, kể cả của nước ngoài, có kế hoạch thôn tính, sáp nhập NH/doanh nghiệp yếu với những tính toán lợi ích dài hạn là sử dụng lãi trong tương lai bù cho nợ xấu hiện nay.

Trung tâm kế toán thực hành Tại bắc ninh Thứ hai, xử lý theo cơ chế mua bán nợ. Nếu ngân hàng và doanh nghiệp không thống nhất được việc tự xử lý nợ xấu, cần sử dụng cơ chế mua bán nợ thông qua một tổ chức trung gian là công ty mua bán nợ. Hiện nay, nước ta đã có Công ty Mua bán nợ trực thuộc Bộ Tài chính (DATC), song quy mô còn nhỏ.

Nếu Công ty Mua bán nợ quốc gia hoạt động theo nguyên tắc kinh doanh trên thị trường như cơ chế mua bán nợ thông dụng trên thế giới, xã hội không có lý gì không đồng thuận. Song, nếu công ty này trở thành cái túi hứng nhận nợ xấu cho hệ thống NH, số người phản đối sẽ nhiều, bởi nếu làm thế có nghĩa là Nhà nước lấy tiền thuế của dân để trả nợ xấu, trong khi các đại gia NH, những người phải chịu trách nhiệm về nợ xấu lại vô can.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại long biên Cuối cùng vẫn là sự hỗ trợ của Nhà nước. Như đã nêu, nợ xấu còn có nguyên nhân khách quan, do đó Nhà nước không thể không tham gia xử lý nợ xấu. Vấn đề là ở mục tiêu: vì lợi ích quốc gia hay vì lợi ích các nhóm.

Muốn vậy cần tách hoạt động kinh doanh của Công ty Mua bán nợ quốc gia với những hỗ trợ trực tiếp, minh bạch của Nhà nước đối với các trường hợp cụ thể cần hỗ trợ. Và để thống nhất quản lý xử lý nợ xấu trong sự kết hợp chặt chẽ với những hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước, rất cần có một trung tâm điều hành cấp Chính phủ, có đủ uy tín và quyền quyết định các vấn đề liên quan.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận 8 Theo ĐTCK


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Nợ nước ngoài: Nên lo nguồn trả hơn số nợ



Nợ nước ngoài Việt Nam tính đến cuối năm 2010 là 42% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), thấp hơn mức dự đoán trước đây (trên 50% GDP). Song con số 42% này lại chưa nói lên nhiều điều, trong khi nợ nước ngoài đang có những xu hướng mới liên quan đến lãi suất vay, nguồn trả nợ. Thạc sĩ Bùi Ngọc Sơn, Trưởng phòng Nghiên cứu Kinh tế Quốc tế, Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới, đã trao đổi với chúng tôi về vấn đề này.


Tính đến cuối năm ngoái, nợ nước ngoài của Việt Nam chiếm hơn 42% GDP, cao hơn mức 39% của năm 2009 và cao hơn mức dự kiến khoảng 39% năm 2010. Xu hướng nợ nước ngoài tăng nhanh theo ông có đáng lo ngại?

Nếu nhìn vào tỉ lệ nợ thì không đáng ngại. Nhưng nếu nhìn tốc độ tăng nhanh, cộng thêm với bối cảnh nền kinh tế gần đây đang khó khăn, nên cũng tạo ra tâm lý ít nhiều quan ngại. Tuy nhiên, nhìn tổng thể thì không có gì phải quá lo lắng. Dù gì nước ta cũng có tốc độ tăng trưởng khá, tỉ lệ xuất khẩu/GDP khá, khoảng 30% GDP. Do đó, gia tăng nợ đôi chút cũng chưa đáng lo trong ngắn hạn.

Mức 42% chưa phải là cao nên chưa đáng lo ngại. Nhưng có phải chúng ta vẫn cần phải lưu ý thêm những yếu tố khác?

Con số 42% GDP theo tôi không nói lên được tất cả. Quan trọng là nền kinh tế phải hiệu quả, tốc độ tăng trưởng cao, lúc đó Chính phủ có thể thu được nhiều thuế để trả nợ. Đặc biệt xuất khẩu rất quan trọng, đem ngoại tệ về để trả nợ. Số nợ có đáng lo ngại hay không còn phụ thuộc vào cách thức Chính phủ quản lý nợ.

Bài học vỡ nợ của Argentina là vay nợ tràn lan trong khi Chính phủ lại không kiểm soát được khả năng thu thuế, nên không có nguồn để trả nợ. Thêm vào đó là vấn đề tham nhũng; chính quyền địa phương được vay quá dễ dãi, tự phát hành trái phiếu. Nước này xuất khẩu thấp, chỉ chiếm 10% GDP. Tiền thu về ít, tiền trả nợ nhiều, dẫn đến khả năng trả nợ của Chính phủ rất thấp. Lúc Argentina vỡ nợ, nợ công cũng chỉ bằng 69% GDP, chưa phải là lớn so với nhiều nước.

Nước ta vẫn kiểm soát được các vấn đề này, nhưng hiệu quả của nền kinh tế và chi tiêu có vẻ gặp ít nhiều lo lắng. Song, dù sao con số 42% GDP không đáng lo ngại.

Việt Nam nhập siêu liên miên khiến dự trữ ngoại hối giảm mạnh so với tổng nợ ngắn hạn. Cho nên vẫn đáng lo lắng về việc trả nợ?

Nhìn vào dự trữ ngoại hối đúng là như thế. Nhưng, nhìn về xu hướng thì thấy, những quốc gia có tốc độ xuất khẩu tốt vẫn có cơ hội tốt để thu ngoại tệ về. Còn nước nào không thể bán được gì ra bên ngoài, không có nguồn ngoại tệ, chỉ có nội tệ không thôi thì không thể chứng minh với chủ nợ về khả năng trả nợ.

Còn đúng là hiện nay dự trữ ngoại tệ của chúng ta có giảm. Tuy nhiên, cũng phải thông cảm với Chính phủ, vì các năm 2008-2009 kinh tế khó khăn, Chính phủ phải tung ra các gói kích cầu. Nhưng 6 tháng đầu năm, Ngân hàng Nhà nước cũng mua thêm được vài tỉ USD. Do đó, dự trữ ngoại tệ đã tăng trở lại, nên không quá lo lắng. Nếu nước ngoài thấy Việt Nam có nguồn ngoại tệ lớn trong tay, xuất khẩu tốt, họ sẽ yên tâm cho vay.

Phần lớn các khoản nợ được sử dụng để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Nhưng tại sao trong phân tích, ông nhấn mạnh khá nhiều tới hỗ trợ cho lĩnh vực có thể xuất khẩu?

Đầu tư vào cơ sở hạ tầng là hiển nhiên, nhưng cũng cần đầu tư vào các lĩnh vực tạo điều kiện hỗ trợ cho xuất khẩu. Còn với cơ sở hạ tầng, phải đảm bảo không xảy ra tham nhũng thất thoát, chi phí hợp lý. Bởi thực tế là ở nhiều lĩnh vực, chi phí của chúng ta rất đắt đỏ, cao hơn mặt bằng chung khu vực. Giả sử cùng một lượng vốn, thế giới làm được 1,5 công trình, nhưng chúng ta lại chỉ làm được một công trình thì đó là vấn đề. 1,5 công trình thì chỉ 20 năm để hoàn vốn. Nhưng một công trình thì lại phải thời gian nhiều năm hơn mới hoàn vốn. Do đó, phải cân nhắc đầu tư cơ sở hạ tầng có hiệu quả và có chú trọng đầu tư cho xuất khẩu. Tất nhiên để thúc đẩy xuất khẩu, cần kèm theo những chính sách khác như tỉ giá.

Thưa ông, lãi suất vay nợ nước ngoài đang có xu hướng tăng khi nước ta trở thành nước có thu nhập trung bình. Theo ông, chúng ta nên ứng xử thế nào với điều này?

Lãi suất vay nợ tăng lên là không tránh khỏi, vì khi chúng ta khá giả hơn cũng phải trả cái giá vốn cao hơn. Còn giá vốn cao như vay thương mại chúng ta lại phải ứng xử khác đi. Nếu muốn trả giá thấp, phải tạo nền tảng kinh tế hiệu quả, minh bạch, các tổ chức cho vay sẽ có lòng tin và sẵn sàng cho vay với giá thấp.

Hiện nay, nước ta đang được vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) với lãi suất thấp. Nếu sử dụng vốn này tốt, hiệu quả, chính phủ quản lý chặt chẽ, sẽ tạo được hình ảnh tốt, mức tín nhiệm cao đối với các tổ chức cho vay. Đây chính là đà để tạo lòng tin với các nhà tài trợ. Khi tạo dựng được lòng tin với họ, chắc chắn tiếp cận vốn vay thương mại chúng ta sẽ được vay với lãi suất thấp.

Điểm đáng lưu ý là nợ vay bằng ngoại tệ, trong đó có những đồng tiền chủ chốt như USD và yen Nhật. Trong khi đó, tỉ giá có chiều hướng nới rộng, lượng tiền trả nợ năm 2010 tăng mạnh so với năm 2009. Theo ông, có cách nào giảm rủi ro tăng nợ nước ngoài từ chuyện tăng tỉ giá?

Tôi nghĩ chúng ta cũng không nên quá lo lắng về tỉ giá. Vấn đề tỉ giá là do thực lực nền kinh tế tạo ra. Nếu muốn hỗ trợ cho xuất khẩu để có nguồn trả nợ tốt, chính sách phải thiên về phá giá đồng tiền. Khi phá giá đồng tiền các khoản nợ cũng tăng theo. Lúc đó, phần xuất khẩu nhiều hơn sẽ bù vào phần nợ tăng lên. Vì vậy, trường hợp này dù tỉ giá tăng cũng chưa hẳn đã là rủi ro. Nếu Chính phủ định hướng từ đầu là điều chỉnh tỉ giá để có lợi cho xuất khẩu, ngoại tệ thu về sẽ lớn hơn, nhưng nợ cũng tăng theo.

Số liệu của Bộ Tài chính cho thấy, nợ bảo lãnh tăng theo tổng nợ. Theo ông việc này có đáng lo ngại hay không?

Tỉ trọng nợ bảo lãnh không lớn lắm. Nếu đơn vị bảo lãnh không trả được Chính phủ cũng phải có trách nhiệm. Nhưng việc bảo lãnh là khó tránh khỏi. Chính phủ khi muốn đảm bảo uy tín, phải lựa chọn những dự án, những đơn vị được bảo lãnh có uy tín, sản xuất kinh doanh hiệu quả. Nếu chọn những đơn vị và dự án không hiệu quả, gánh nặng nợ lúc này sẽ đổ lên vai chính phủ.

Trung tâm kế toán thực hành Tại bắc ninh Hiện nay, nợ nước ngoài chiếm tỉ lệ lớn nên có ý kiến cho rằng chúng ta nên vay trong nước. Nhưng đầu tư phát triển hiện chiếm đến trên 40% GDP, trong khi tiết kiệm trong nước chỉ khoảng 30% GDP thì vay trong nước có được không?

Tôi nghĩ là rất khó để vay trong nước. Tiết kiệm trong nước chỉ có vậy nên chúng ta phải vay thêm từ nước ngoài. Nếu có vay trong nước, Chính phủ sẽ phải sử dụng nhiều tiền đồng hơn. Lúc đó lượng tiền dành cho nền kinh tế và doanh nghiệp sẽ ít hơn. Lượng tiền trong nền kinh tế ít đi thì chi phí, lãi suất vay vốn sẽ tăng theo. Lúc đó, lãi suất cao, tư nhân không chen chân vào vay được vốn.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại bắc ninh Do đó, khi nước ta đang được vay ưu đãi ODA, tỉ giá nếu cố gắng giữ ổn định được, hoặc chỉ điều chỉnh đôi chút, trả nợ bên ngoài, gồm cả trả rủi ro tỉ giá, vẫn rẻ hơn là vay trong nước. Song dù nợ trong nước hay nước ngoài, yếu tố then chốt vẫn là sử dụng vốn có hiệu quả. Nếu không, thất thoát vốn, không có nguồn trả nợ, dù vay ít cũng sẽ vỡ nợ.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại huyện gia lâm Theo Saga


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Duyệt đề án tái cơ cấu EVN với vốn điều lệ 143.404 tỷ



Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án tái cơ cấu Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) giai đoạn 2012 - 2015.


Mục tiêu của Đề án là nhằm bảo đảm EVN tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh điện, nâng cao sức cạnh tranh, đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh, cũng như hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, cung ứng điện cho nền kinh tế và nhu cầu xã hội.

Theo Đề án, vốn điều lệ của EVN sau khi đánh giá lại tài sản là 143.404 tỷ đồng.

Cũng theo Đề án tái cơ cấu, EVN sẽ tiến hành tái cấu trúc quản trị doanh nghiệp, tập trung vào 7 nội dung, trong đó có sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, điều hành, tăng cường trách nhiệm, quyền hạn và chỉ đạo của EVN đối với người đại diện vốn của EVN tại doanh nghiệp khác,…

Trung tâm kế toán thực hành Tại bắc ninh
Đề án cũng yêu cầu, đến hết năm 2015, EVN hoàn thành việc thoái vốn tại 6 doanh nghiệp. Đó là Ngân hàng Thương mại An Bình, Chứng khoán An Bình, Bảo hiểm Toàn cầu, Bất động sản Sài Gòn Vina, Bất động sản Điện lực miền Trung và Công ty Đầu tư và xây dựng Điện lực Việt Nam.

Trước đó vào cuối tháng 7/2012, lãnh đạo EVN cho biết muốn thoái trên 1.100 tỷ đồng vốn đầu tư ngoài ngành nhưng gặp khó khăn về giá bán. Trong đó, vốn của EVN tại Ngân hàng An Bình là 757 tỷ đồng, mua cổ phần của Bảo hiểm Toàn cầu 125 tỷ đồng, khối bất động sản “giữ” của EVN 103 tỷ đồng và 114,8 tỷ đồng tại Chứng khoán An Bình (thời điểm 31/12/2011).

Đề án cũng nêu rõ, 14 đơn vị của EVN được giữ nguyên tổ chức, cơ chế hoạt động và nằm trong cơ cấu Công ty mẹ EVN, 9 doanh nghiệp EVN nắm giữ 100% vốn điều lệ, 5 doanh nghiệp EVN nắm giữ trên 50%, 6 doanh nghiệp EVN nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ. Bên cạnh đó, 4 cơ sở đào tạo được giữ nguyên mô hình, cơ cấu tổ chức hoạt động đến năm 2015.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại long biên
Quyết định của Thủ tướng cũng yêu cầu Hội đồng thành viên EVN xây dựng phương án tổ chức lại sản suất kinh doanh, phương án tái cơ cấu các doanh nghiệp thành viên phù hợp với nội dung Đề án và để thực hiện chuyên môn hóa, phân công, hợp tác, không dàn trải, phân tán nguồn lực, tránh cạnh tranh nội bộ trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt trong quý 4/2012 và triển khai thực hiện sau khi được phê duyệt.

 EVN có 4 ngành, nghề kinh doanh chính của EVN:
● Sản xuất, truyền tải, phân phối và kinh doanh mua bán điện năng; chỉ huy điều hành hệ thống sản xuất, truyền tải, phân phối và phân bổ điện năng trong hệ thống điện quốc gia.
● Xuất nhập khẩu điện năng.
● Đầu tư và quản lý vốn đầu tư các dự án điện.
● Quản lý, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng, đại tu, cải tạo, nâng cấp thiết bị điện, cơ khí, điều khiển, tự động hóa thuộc dây truyền sản xuất, truyền tải và phân phối điện, công trình điện; thí nghiệm điện.
Nguồn: Đề án tái cơ cấu EVN
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận hai bà trưng
Theo VnEconomy


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Doanh nghiệp nhà nước thua lỗ ngàn tỷ vẫn xếp hạng A



Không ai biết chính xác hiệu quả, đưa ra những cảnh báo sớm về những sai phạm, thua lỗ của các DNNN. Nguyên nhân đơn giản là giám sát quá yếu kém. Có nhiều đầu mối nhưng không ai nắm rõ về các DNNN.


Không quản nổi?

Một người theo sát doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nhưng ông Phạm Đức Trung, Phó Trưởng ban Cải cách và phát triển doanh nghiệp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương than phiền: "chúng tôi được giao tổng hợp thông tin về DNNN nhưng không Bộ nào có đủ thông tin và đánh giá đều phải dựa vào các báo cáo của DN gửi Bộ Tài chính".

Chuyên gia này nói: "Chính vì thiếu minh bạch nên các chủ sở hữu Nhà nước rất khó kiểm soát hiệu quả hoạt động đầu tư kinh doanh của mình tại các DN. Thậm chí đối với từng DN cụ thể, rất khó nắm bắt các thông tin một cách kịp thời, chính xác, nhất là các Tập đoàn, Tổng công ty".

Theo ông Trung, ngay cả Chính phủ, hiện cũng chưa có hệ thống báo cáo tổng hợp toàn bộ các DNNN trong nền kinh tế để có thể minh bạch hóa và cung cấp thông tin cho công chúng, Quốc hội. Vì vậy, chúng ta không có được bức tranh rõ ràng về hiệu quả và sự phát triển của khu vực này".

Về phương diện tài chính, ông Trung cũng khẳng định: hiện không ai có thể biết chính xác hiệu quả tài chính và giá trị của DNNN trong toàn bộ nền kinh tế như thế nào, bởi Việt Nam chưa từng đánh giá giá trị của DNNN 100% vốn theo giá thị trường.

Tiền kiểm và hậu kiểm đối với hoạt động của DNNN đều đang có quá nhiều khoảng trống. Vì thế mới có chuyện, trong 4 - 5 năm qua, các Tập đoàn, tổng công ty Nhà nước phình to, với hàng trăm công ty con, cháu; đầu tư ngành ngoài vào các lĩnh vực rủi ro như chứng khoán, bất động sản, tài chính... nhưng cơ quan Nhà nước lại không nắm được, cũng không kiểm soát được.



Số liệu điều tra về hậu WTO đối với DNNN cho thấy, có tới 42,1% DNNN không có căn cứ, tiêu chí giám sát, kiểm tra về hoạt động đầu tư và hoạt động kinh doanh. 44,7% DNNN không có tiêu chí giám sát hoạt động tài chính. Đặc biệt, có tới 78,9% DNNN không có tiêu chí giám sát về DN bị coi là độc quyền trong kinh doanh, 73,7% không có giám sát tình trạng cạnh tranh không lành mạnh và 38,5% không có tiêu chí về tính minh bạch, công khai trong quản trị.

Ông Trung dẫn chứng tiếp: "Trong hệ thống chỉ tiêu đánh giá xếp hạng DNNN hiện nay, chỉ những DNNN có lãi, tỷ suất lợi nhuận trên vốn Nhà nước tăng so với năm trước, không có nợ phải trả quá hạn, không vi phạm pháp luật mới xếp hạng A... Nhưng ở Vinashin, Vinalines, trước khi các vụ việc sai phạm bị phơi bày thì 2 đơn vị này vẫn xếp hạng A. Và suốt từ năm 2009 đến nay, vẫn còn nhiều tranh luận về thực hư về tài sản, vốn Nhà nước, các khoản nợ và mức độ thua lỗ của tập đoàn Vinashin".

"Rốt cục là, khi truy trách nhiệm trên diễn đàn Quốc hội về một số vụ đổ vỡ Tập đoàn, một loạt các bộ liên quan như Bộ GTVT, bộ Tài chính, bộ KHĐT đều không ai chịu trách nhiệm. Thậm chí, có bộ trưởng còn đổ tội là vì Tập đoàn được giao nhiều quyền quá", ông Trung nói.

Giám sát nhưng không chịu trách nhiệm

Có vẻ như, những cái "không" được liệt kê trên là hệ quả tất yếu khi ông "chủ" nhà nước hiện giám sát DNNN rất yếu kém.

Đơn cử như chuyện lương thưởng trong DNNN. Bà Tống Thị Minh, Vụ trưởng Vụ Lao động- Tiền lương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giãi bày: "Khi xem xét kế hoạch tiền lương, chúng tôi dựa trên kế hoạch sản xuất kinh doanh của DN thông báo, với những con số dự kiến lợi nhuận tới mấy nghìn tỷ đồng. Bộ Tài chính cũng xác nhận con số đó. Một năm sau, kiểm toán vào, phát hiện lỗ cả ngàn tỷ trong khi lương thì đã trả rồi!"

Bởi thế, Quốc hội nóng chuyện tại sao lỗ mà lương cao là có nguyên cớ! Mà sâu sa hơn, cơ chế giám sát là có vấn đề, bà Minh phân tích.

Theo nghiên cứu của ông Trung, nhiều văn bản chỉ đạo của Chính phủ đã quy định DNNN phải có nghĩa vụ công khai tài chính, công khai kết quả giám sát, đánh giá DNNN như Quyết định 192 ban hành 2004 hay Quyết định 224 ban hành 2006 của Thủ tướng. Nhưng DNNN lại chỉ thực hiện nghĩa vụ này qua các báo cáo tài chính hàng năm, hàng quý gửi đến một loạt cơ quan ban ngành như Bộ tài chính, cơ quan thuế, cơ quan thống kê, cơ quan đăng ký kinh doanh và chủ sở hữu.

Bộ KHĐT cho biết, tới 80% DN không gửi báo cáo tài chính hàng năm cho cơ quan đăng ký kinh doanh. Vì thế, rất khó cho cơ chế hậu kiểm. Đó là chưa kể, báo cáo của chính các DNNN thường không đầy đủ, tính chính xác thì bỏ ngỏ! Cơ chế thẩm định độ tin cậy của các báo cáo này cũng chưa có.

Bà Nguyễn Kim Toàn, nguyên là chuyên viên của Ban đổi mới DN, Văn phòng Chính phủ cũng xác nhận, các văn bản giám sát DNNN đã có từ năm 2003 nhưng thực hiện có nghiêm túc, đầy đủ hay không là một vấn đề khác.

Trung tâm kế toán thực hành Tại bắc ninh Ví dụ, yêu cầu của Quyết định 224 của Thủ tướng là quý II năm sau phải có đánh giá của năm trước nhưng nhiều năm gần đây là không thực hiện được. Bộ Tài chính thu thập thông tin rất tản mạn. Trong 4 năm nay, năm nào Chính phủ cũng phải yêu cầu thực hiện đúng quy định nhưng thực tế, công tác tự giám sát vẫn không nghiêm túc".

Bà Toàn thừa nhận, theo quy định, sau khi gửi Bộ Tài chính, bản đánh giá giám sát DNNN phải công khai. Nhưng thực hiện thì khác, chỉ công bố phần kết luận của Chính phủ và cũng không đầy đủ. Vì vậy, dư luận, người dân không thể nào biết được thực hư DNNN là thế nào?

Trong khi đó, theo bà Minh, cơ chế giám sát nội bộ coi như bị vô hiệu. trong Tập đoàn, trước theo Luật DNNN, có ban kiểm soát là phục vụ cho HĐQT, nay theo Luật DN hiện nay, có kiểm soát viên do chủ sở hữu cử đến để giám sát. Nhưng các kiểm soát viên này lại ăn lương theo kết quả hoạt động của DN, do DN trả. Chưa kể, kiểm soát viên lại là kế toán trưởng, ăn lương kế toán trưởng thì không bao giờ kiểm soát được.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà nội Theo Bộ KHĐT cho thấy, năm 2012, chỉ có 3,2% DNNN 100% vốn Nhà nước có sự tách bạch hoàn toàn chức danh Tổng giám đốc không phải là thành viên của Hội đồng thành viên, chủ tịch công ty. Có trên 60% DNNN có Tổng giám đốc là chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty. Người đứng đầu bộ máy quản lý lai là người đứng đầu bộ máy điều hành.

Vậy nên, cho đến nay, DNNN luôn là một ẩn số. Cơ quan nhà nước thực hiện giám sát không hiệu quả và khi "có chuyện", luôn thấy mình vô can. Theo ông Lê Xuân Bá, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, nếu cơ quan Nhà nước làm sai trong giám sát DNNN thì cũng cần có quy định chịu trách nhiệm, bị xử lý liên đới.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận ba đình Theo Vef


Read More Add your Comment 0 nhận xét