Các chính sách Tài chính - Kế toán mới nổi bật của Nhà nước (cập nhật tháng 08/2016)



Hiện nay MISA đã tiến hành tổng hợp các chính sách pháp luật có liên quan và thay đổi trong tháng 08/2016. Quý khách hàng có thể tham khảo các chính sách thay đổi như sau:


1. Nâng cấp ứng dụng Hỗ trợ kê khai thuế phiên bản 3.3.8

Tổng cục Thuế đã hoàn thành nâng cấp ứng dụng Hỗ trợ kê khai thuế (HTKK) phiên bản 3.3.8, ứng dụng Khai thuế (iHTKK) qua mạng phiên bản 3.2.0.

Theo đó, nội dung nâng cấp ứng dụng HTKK 3.3.8, iHTKK 3.2.0 như sau:

- Cập nhật danh mục biểu thuế tài nguyên theo Nghị quyết 1084/2015/UBTVQH13 ngày 10/12/2015 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, danh mục biểu thuế tiêu thụ đặc biệt theo Luật 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016 của Quốc Hội.

- Nâng cấp chức năng kê khai tờ khai thuế TTĐB (mẫu 01/TTĐB), trong đó:
Hết hiệu lực tờ khai thuế TTĐB (mẫu 01/TTĐB) tại Thông tư 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013.
Hỗ trợ kê khai tờ khai thuế TTĐB (mẫu 01/TTĐB) tại Thông tư 195/2015/TT-BTC ngày 24/11/2015 đối với tất cả các kỳ tính thuế.
Bắt đầu từ hôm nay (ngày 13/8/2016), khi kê khai thuế có liên quan đến nội dung nâng cấp nêu trên, người nộp thuế sử dụng các mẫu biểu kê khai tại ứng dụng HTKK 3.3.8, iHTKK 3.2.0 thay cho các phiên bản trước đây.



2. Hướng dẫn sử dụng chứng thư số để khai thuế qua mạng

Cục Chứng thực số và Bảo mật thông tin đã cung cấp tài liệu hướng dẫn sử dụng chứng thư số do Ban Cơ yếu Chính phủ cấp để khai thuế qua mạng. Theo đó:

Hướng dẫn sử dụng các chức năng của hệ thống khai thuế qua mạng sau nâng cấp đáp ứng yêu cầu triển khai dịch vụ kê khai thuế qua mạng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp sử dụng chữ ký số chuyên dùng.
Hướng dẫn chi tiết đến từng phân hệ của hệ thống, hướng dẫn người sử dụng từng bước thực hiện chức năng.
Tài liệu có hình ảnh minh họa kèm theo, tạo điều kiện dễ dàng cho người sử dụng thực hiện các chức năng của hệ thống khai thuế qua mạng.
Tài liệu này cũng là căn cứ để người nộp thuế thực hiện kiểm tra ứng dụng.

Tải tài liệu hướng dẫn tại đây.



3. Thông tư 95/2016/TT-BTC Hướng dẫn về đăng ký thuế

Theo Thông tư 95/2016/TT-BTC hướng dẫn đăng ký thuế (ĐKT) thì tổ chức cá nhân sản xuất kinh doanh có trách nhiệm ĐKT theo đúng thời hạn sau:

- Đối với tổ chức: 10 ngày làm việc, kể từ ngày:
Ghi trên Giấy phép, Quyết định thành lập; Giấy chứng nhận đăng ký (GCNĐK) đơn vị trực thuộc hoặc Giấy phép tương đương do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Ghi trên GCNĐK kinh doanh do nước chung biên giới đất liền với Việt Nam cấp để mua, bán, trao đổi hàng hóa tại chợ biên giới, cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam.
Phát sinh trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế thay nhà thầu (NT), NT phụ nước ngoài; tổ chức nộp thay cho cá nhân theo hợp đồng, văn bản hợp tác kinh doanh.
Ký hợp đồng nhận thầu đối với NT, NT phụ nước ngoài kê khai nộp thuế trực tiếp.
Ký hợp đồng, hiệp định dầu khí.
- Đối với cá nhân:
Cùng với thời hạn nộp hồ sơ khai thuế lần đầu.
10 ngày làm việc kể từ ngày ghi trên GCNĐK kinh doanh trong trường hợp đã được cấp GCN.
Thông tư 95/2016/TT-BTC có hiệu lực kể từ ngày 12/8/2016 và thay thế Thông tư 80/2012/TT-BTC.

4. Chốt mức tăng lương tối thiểu vùng 2017: Chỉ tăng 7,3%

Hôm nay (ngày 02/8/2016), Hội đồng tiền lương Quốc gia đã chốt phương án tăng lương tối thiểu vùng năm 2017 theo các mức sau đây:
Vùng I: 3.750.000 đồng/tháng (tăng 250.000 đồng/tháng so với năm 2016).
Vùng II: 3.320.000 đồng/tháng (tăng 220.000 đồng/tháng so với năm 2016).
Vùng III: 2.900.000 đồng/tháng (tăng 200.000 đồng/tháng so với năm 2016).
Vùng IV: 2.580.000 đồng/tháng (tăng 180.000 đồng/tháng so với năm 2016).
Như vậy, tính bình quân chung 4 Vùng, mức tăng lương tối thiểu vùng năm 2017 được Hội đồng tiền lương Quốc gia đề xuất là 213.000 đồng/tháng, tức tăng khoảng 7,3% so với năm 2016.

Phương án tăng lương tối thiểu vùng năm 2017 này sẽ được trình lên Chính phủ để ban hành Nghị định mới về lương tối thiểu vùng.

Nghị định mới sẽ thay thế Nghị định 122/2015/NĐ-CP về mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.



5. Thông tư 15/2016 Quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội

Theo Thông tư 15/2016/TT-BYT (có hiệu lực từ ngày 01/7/2016), thì 34 bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội và hướng dẫn chẩn đoán, giám định bệnh nghề nghiệp, gồm các nhóm sau:

(i) Nhóm bệnh bụi phổi nghề nghiệp do silic, amiăng, bông, talc, than và bệnh viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp, bệnh hen nghề nghiệp.

(ii) Nhóm bệnh nhiễm độc nghề nghiệp do chì, benzen và đồng đẳng, thủy ngân, mangan, trinitrotoluen, asen, hóa chất bảo vệ thực vật, nicotin, cacbon monoxit, cadimi.

(iii) Nhóm bệnh nghề nghiệp do yếu tố vật lý tác động gồm điếc do tiếng ồn, bệnh giảm áp, bệnh do rung toàn thân và rung cục bộ, bệnh phóng xạ, bệnh đục thể thủy tinh.

(iv) Nhóm bệnh da nghề nghiệp gồm bệnh nốt dầu, bệnh sạm da, bệnh viêm da tiếp xúc do crôm, bệnh da do tiếp xúc môi trường ẩm ướt và lạnh kéo dài, tiếp xúc cao su tự nhiên và hóa chất phụ gia cao su.

Trung tâm kế toán thực hành Tại đà nẵng (v) Nhóm bệnh nhiễm khuẩn nghề nghiệp gồm: bệnh Leptospira, viêm gan virut B, lao, HIV, viêm gan virut C, ung thư trung biểu mô.

6. Thông tư 28/2016/TT-BYT về Hướng dẫn quản lý bệnh nghề nghiệp

Hồ sơ khám phát hiện bệnh nghề nghiệp được quy định cụ thể tại Thông tư 28/2016/TT-BYT (có hiệu lực từ ngày 15/8/2016 ) về việc hướng dẫn quản lý bệnh nghề nghiệp như sau:

(i) Phiếu khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc hoặc kết quả khám sức khỏe gần nhất (trường hợp đã đi làm trước ngày 15/8/2016).

(ii) Sổ khám sức khỏe phát hiện bệnh nghề nghiệp.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại bắc ninh (iii) Bản sao hợp lệ của một trong các giấy tờ:

- Kết quả thực hiện quan trắc môi trường lao động.

Đối với người lao động có tiếp xúc với yếu tố vi sinh vật trong môi trường lao động mà việc quan trắc môi trường lao động thực hiện trước ngày 01/7/2016 thì hồ sơ phải có thêm Phiếu đánh giá tiếp xúc yếu tố vi sinh vật do cơ quan có thẩm quyền cấp trước ngày 01/7/2016.

- Biên bản xác nhận có tiếp xúc với yếu tố có hại gây bệnh nghề nghiệp cấp tính.

(iv) Bản sao hợp lệ Giấy ra viện hoặc tóm tắt hồ sơ bệnh án bệnh có liên quan đến bệnh nghề nghiệp (nếu có).
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận hà đông Tổng hợp


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hóa đơn bán hàng là gì? Mẫu hóa đơn bán hàng



Theo Thông tư 153/2010/TT-BTC Hoá đơn bán hàng là hoá đơn bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ trong nội địa dành cho các tổ chức, cá nhân khai, nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp.


Mẫu hóa đơn bán hàng số 02GTTT3/001 ban hành kèm Thông tư số 39/2014/TT-BTC:



Cách viết:


- Dòng " Ngày...tháng ...năm ": Chính là thời điểm lập hóa đơn đã nêu ở trên.

+ Đối với hóa đơn lần đầu là ngày chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

+ Đôi với hóa đơn điều chỉnh, hàng bán bị trả lại... là ngày hiện tại. Thông thường sẽ trùng với ngày lập biên bản thu hồi hóa đơn viết sai, hay là ngày trả lại hàng hóa.

- Dòng " Họ tên người mua hàng" : ghi đầy đủ họ và tên người mua, trong trường hợp khách hàng không lấy hóa đơn thì ghi là: “người mua không lấy hoá đơn” hoặc “người mua không cung cấp tên, địa chỉ, mã số thuế”.

- Dòng "Tên đơn vị": ghi tên công ty của khách hàng theo đúng như trên giấy phép đăng ký kinh doanh.

- Dòng "Mã số thuế": Viết mã số thuế của công ty đó.

- Dòng " Địa chỉ" : ghi địa chỉ ĐKKD.

Người bán phải ghi đúng tiêu thức “mã số thuế” của người mua và người bán.

Tiêu thức “tên, địa chỉ” của người bán, người mua phải viết đầy đủ, trường hợp viết tắt thì phải đảm bảo xác định đúng người mua, người bán.

Trường hợp tên, địa chỉ người mua quá dài, trên hóa đơn người bán được viết ngắn gọn một số danh từ thông dụng như:

 "Phường" thành "P"; "Quận" thành "Q", "Thành phố" thành "TP", "Việt Nam" thành "VN" hoặc "Cổ phần" là "CP", "Trách nhiệm Hữu hạn" thành "TNHH", "khu công nghiệp" thành "KCN", "sản xuất" thành "SX", "Chi nhánh" thành "CN"… nhưng phải đảm bảo đầy đủ số nhà, tên đường phố, phường, xã, quận, huyện, thành phố, xác định được chính xác tên, địa chỉ doanh nghiệp và phù hợp với đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế của doanh nghiệp.

Trường hợp tổ chức bán hàng có đơn vị trực thuộc có mã số thuế trực tiếp bán hàng thì ghi tên, địa chỉ, mã số thuế của đơn vị trực thuộc. Trường hợp đơn vị trực thuộc không có mã số thuế thì ghi mã số thuế của trụ sở chính.

- Cột " STT" : ghi lần lượt số thứ tự các mặt hàng. Lưu ý: mặt hàng đầu tiên ghi là " 01", nếu mặt hàng 01 này có tên hàng hóa dài và phải ghi xuống dòng thứ 2 thì số thứ tự của mặt hàng số 02 sẽ ghi ở dòng thứ 3.

- Cột " Tên hàng hóa, dịch vụ" ghi đầy đủ tên mặt hàng như lúc nhập ( nếu là hàng hóa). Trường hợp người bán quy định mã hàng hoá, dịch vụ để quản lý thì khi ghi hoá đơn phải ghi cả mã hàng hoá và tên hàng hoá.

- Cột "Đơn vị tính" : Nhập vào đơn vị tính là gì thì khi xuất phải viết đúng như vậy.

Chú ý: Trường hợp kinh doanh dịch vụ thì trên hóa đơn không nhất thiết phải có tiêu thức “đơn vị tính”” ( Theo khoản 2 - điều 5 của TT 119/2014/TT-BTC)

- Cột " Số lượng": ghi số lượng của hàng hóa bán ra.

- Cột " Đơn giá" : viết giá bán đã có thuế GTGT

- Cột " Thành tiền" ghi tổng giá trị của đơn giá X Số lượng.

Thông thường một tờ hóa đơn sẽ có 10 dòng, nếu không ghi hết các dòng trên hóa đơn, kế toán phải gạch chéo phần còn lại. Chú ý gạch chéo tất cả các chỉ tiêu từ cột " STT" đến Cột " Thành Tiền".

- Dòng "Cộng tiền hàng" là tổng cộng ở cột "thành tiền".

- Dòng " Tổng cộng tiền thanh toán" = " Cộng tiền hàng" + " Tiền thuế GTGT"

- Dòng " Số tiền viết bằng chữ": kế toán ghi diễn giải số tiền ở dòng " Tổng cộng tiền thanh toán"

Trung tâm kế toán thực hành Tại long biên Lưu ý: Đồng tiền ghi trên hoá đơn: Đồng tiền ghi trên hoá đơn là đồng Việt Nam. Trường hợp người bán được bán hàng thu ngoại tệ theo quy định của pháp luật, tổng số tiền thanh toán được ghi bằng nguyên tệ, phần chữ ghi bằng tiếng Việt. Ví dụ: 10.000 USD - Mười nghìn đô la Mỹ.

Người bán đồng thời ghi trên hoá đơn tỷ giá ngoại tệ với đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm lập hoá đơn.

Trường hợp ngoại tệ thu về là loại không có tỷ giá với đồng Việt Nam thì ghi tỷ giá chéo với một loại ngoại tệ được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ giá.
dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hải dương
- Chỗ " Người mua hàng" ký : ai là người đi mua hàng thì ký và ghi rõ họ tên. Trong trường hợp bán hàng qua điện thoại, qua mạng, FAX thì người mua hàng không nhất thiết phải ký, ghi rõ họ tên trên hoá đơn. Khi lập hoá đơn tại tiêu thức “người mua hàng (ký, ghi rõ họ tên)”, người bán hàng phải ghi rõ là bán hàng qua điện thoại, qua mạng, FAX.

- Chỗ " Người bán hàng" ký: Người lập hóa đơn sẽ ký vào đây.

- Chỗ " Thủ trưởng đơn vị" ký : giám đốc công ty ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên. Trong trường hợp giám đốc đi vắng không thể ký lên hóa đơn thì phải có giấy ủy quyền ủy nghiệm ký lên hóa đơn chứng từ cấp dưới (có thể là kế toán trưởng hay phó giám đốc) lúc này dấu sẽ được đóng trên góc tay trái của hóa đơn, ai được ủy quyền thì ký vào chỗ này.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận hà đông Tổng hợp


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Kế toán xuất, nhập khẩu của một số nước phát triển và bài học cho Việt Nam



Ở các nước phát triển, mặc dù quá trình xây dựng hệ thống kế toán của mỗi nước đều có sự khác biệt nhất định, song với tiềm lực kinh tế mang tính ổn định cao, nên chuẩn mực kế toán của các nước này cũng có những nét tương đồng so với chuẩn mực kế toán quốc tế. Nghiên cứu khái quát các vấn đề kế toán liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu tại hai quốc gia là Mỹ và Pháp, bài viết đúc rút những kinh nghiệm và bài học quý báu cho hệ thống kế toán xuất nhập khẩu Việt Nam. Những kinh nghiệm này đều mang tính kế thừa và phát triển, phù hợp với nền kinh tế Việt Nam ở hiện tại và tương lai.


Kế toán xuất, nhập khẩu theo quan điểm hệ thống kế toán Mỹ

Hệ thống kế toán của Mỹ cũng như các quốc gia thuộc trường phái Anglo - Saxon nói chung mang tính linh hoạt và xét đoán nghề nghiệp rất cao, trong đó chuẩn mực kế toán nắm vai trò xương sống, chi phối toàn bộ hoạt động kế toán tại quốc gia này. Các chuẩn mực kế toán này do Ủy ban chuẩn mực kế toán tài chính soạn thảo và ban hành.

Hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) trong lĩnh vực thương mại, nên các DN thương mại của Mỹ có đặc điểm quy trình kinh doanh giống như DN thương mại nội địa. Cơ sở để các doanh nghiệp (DN) này thực hiện chức năng kinh doanh, XNK là các nguyên tắc kế toán và chuẩn mực kế toán Mỹ như: Nguyên tắc khách quan, nguyên tắc giá vốn, nguyên tắc kế toán phù hợp, nguyên tắc ghi nhận doanh thu, nế toán dự thu-dự chi (kế toán dồn tích)… Các nguyên tắc và chuẩn mực này được xây dựng dựa trên chuẩn mực kế toán quốc tế, song vẫn mang những nét riêng biệt duy chỉ có ở Mỹ. Điển hình như:

Kế toán nhập khẩu hàng hóa

Việc xác định trị giá hàng nhập khẩu cũng dựa trên nguyên tắc giá gốc, cơ sở là giá trên hóa đơn của hàng hóa nhập khẩu và trừ đi tất cả các khoản chiết khấu được hưởng. Sau đó, cộng tất cả các khoản chi phí tăng thêm, hoặc chi phí phụ để đưa hàng hóa vào tư thế chờ bán.

Các chi phí tăng thêm có thể bao gồm: Thuế nhập khẩu, chi phí chuyên chở, thuế kho, chi phí lưu kho, bảo hiểm và tất cả các chi phí thích hợp khác… Về nguyên tắc lý thuyết, khi các chi phí trên phát sinh, theo nguyên tắc giá gốc, phải được tính vào trị giá của hàng hóa tồn kho. Kết quả là một phần chi phí phụ sẽ nằm trong hàng tồn kho cuối kỳ và chuyển sang kỳ sau, tương xứng với thu nhập của kỳ mà hàng tồn kho được bán (nguyên tắc phù hợp).

Trên thực tế, một số DN XNK của Mỹ không xem xét các chi phí phụ của quá trình mua hàng hóa. Họ định giá hàng hóa tồn kho chỉ căn cứ giá ghi trên hóa đơn (chứng từ hợp lý, hợp lệ). Các chi phí phụ được phân bổ cho giá vốn hàng bán trong kỳ mà các chi phí này phát sinh. Do vậy, để khai thác nguyên tắc trọng yếu, thì các DN XNK Mỹ đã tính chi phí này cho giá vốn hàng bán.

Trong thương mại, cả nội địa và quốc tế, các công ty thương mại tại Mỹ thường sử dụng điều kiện giao hàng để quy định và phân chia chi phí và trách nhiệm. Vấn đề là lựa chọn điều kiện giao hàng nào thì chi phí được phân chia và ghi nhận, ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của công ty thương mại.

Việc lựa chọn giao hàng cho bên mua (FOB) tại cảng và FOB tại kho ảnh hưởng tới chi phí chuyên chở. Khi vấn đề chi phí vận chuyển được đặt ra thì bên mua và bên bán phải thỏa thuận bên nào chịu trách nhiệm về khoản chi phí này.

FOB tại kho hay FOB tại cảng thì toàn bộ chi phí chuyên chở và bảo hiểm đều do bên bán chịu. Cuối kỳ, số dư của các tài khoản “mua vào”, “hàng mua về trả lại”, “chiết khấu mua hàng” và “chi phí chở đến” được kết hợp để xác định trị giá hàng mua vào trong kỳ đối với DN nhập khẩu và xác định lợi nhuận thuần từ bán hàng đối với DN xuất khẩu.

Kế toán Mỹ ghi nhận trị giá hàng nhập khẩu theo 2 hệ thống kế toán khác nhau: Kê khai thường xuyên và kiểm kê định kỳ. Theo phương pháp định kỳ, tài khoản “hàng tồn kho” chỉ cập nhật có một lần cuối mỗi kỳ kế toán và đầu kỳ sau được kết chuyển khi hàng hóa được mua hoặc bán.

Do vậy, tài khoản “giá vốn hàng bán” được dùng trong phương pháp kê khai thường xuyên. Trong phương pháp kiểm kê định kỳ, các yếu tố giá vốn hàng bán và chi phí kinh doanh không được chuyển qua tài khoản này, thay vào đó chúng được chuyển qua tài khoản “tổng hợp thu nhập” trong quá trình ghi sổ các bút toán khóa sổ.

Kế toán xuất khẩu hàng hóa

Kế toán Mỹ ghi nhận các bút toán liên quan đến doanh thu, giá vốn cũng dựa trên các nguyên tắc kế toán phù hợp, nguyên tắc ghi nhận doanh thu, nguyên tắc dự thu – dự chi… Trong hoạt động xuất khẩu, yếu tố điều kiện giao hàng cũng ảnh hưởng đến kế toán xuất khẩu trong việc xác định thời điểm ghi nhận doanh thu, thời điểm chuyển giao rủi ro và chi phí trong các điều kiện giao hàng của INCOTERMS 2010 (Bộ quy tắc mới của Phòng thương mại quốc tế).

Sự hội tụ của nguyên tắc và chuẩn mực kế toán Mỹ so với nguyên tắc và chuẩn mực kế toán quốc tế là cơ sở để kế toán Mỹ ghi nhận doanh thu, giá vốn và chi phí kinh doanh liên quan một cách hài hòa và thống nhất. Đặc biệt, sự quy định rõ ràng hơn trong điều kiện giao hàng (FOB và CIF) của Mỹ so với điều kiện giao hàng của INCOTERMS 2000 - 2010 là cơ sở để kế toán phân chia chi phí và xác định đúng kết quả kinh doanh của DN xuất khẩu.

Ở Mỹ thương mại điện tử rất phát triển, do vậy phần lớn các giao dịch thương mại điện tử diễn ra theo các điều kiện của “FOB điểm giao hàng” hay “FCA (giao hàng cho người chuyên chở) điểm giao hàng”. Phương thức truyền thống “FOB điểm đến” đã không còn phù hợp với thương mại điện tử. Khi kiểm kê hàng tồn kho, các hàng hóa đang trên đường vận chuyển là đối tượng cần soát xét vì ảnh hưởng tới chỉ tiêu hàng tồn kho.

Các mặt hàng theo điều kiện “FOB điểm giao hàng/điểm đến” được đánh dấu là trọng yếu nếu như bên mua có quyền đối với hàng hóa. Nếu người mua đã có quyền về hàng hóa, thì hàng hóa được bổ sung vào bảng kiểm kê hàng hóa. Nếu không có quyền thì hàng hóa được coi là hàng gửi bán, vẫn thuộc quyền sở hữu của nhà cung cấp (bên ủy thác bán).

Kế toán xuất nhập khẩu theo quan điểm của hệ thống kế toán Pháp

Pháp là quốc gia điển hình cho trường phái kế toán châu Âu lục địa. Hệ thống kế toán của các quốc gia thuộc nhóm châu Âu lục địa nói chung và Pháp nói riêng mang tính thống nhất cao, với quy định chặt chẽ của Nhà nước và dựa trên luật định là chủ yếu.

Ủy ban quy định kế toán (CRC) là cơ quan trực thuộc Hội đồng kế toán quốc gia (CNC) và sau này là Ủy ban chuẩn mực kế toán  Pháp (ANC), nắm quyền ban hành các quy định kế toán, sắc lệnh về kế toán và được chính phủ cho phép thực hiện cải cách những vấn đề về kế toán khi cần thiết.

Các quy định về kế toán của Pháp không được ban hành dưới dạng các chuẩn mực như kiểu Mỹ và các quốc gia Anglo - Saxon mà dưới hình thức một hệ thống kế toán thống nhất, bao gồm các tài khoản kế toán thống nhất, thường được gọi là tổng hoạch đồ kế toán. Nội dung tổng hoạch đồ kế toán đưa ra các định nghĩa, nguyên tắc kế toán, hệ thống tài khoản, quy định cách thức hạch toán, mẫu biểu và cách thức lập báo cáo tài chính cũng như các hướng dẫn về kế toán quản trị.

Nhìn chung, kế toán Pháp gồm 2 hệ thống, đó là kế toán tổng quát và kế toán phân tích. Trong đó, kế toán tổng quát áp dụng cho tất cả các thực thể kinh doanh không ngoại trừ DN kinh doanh thương mại XNK hàng hóa. Các nguyên tắc, quy định kế toán, sắc lệnh về kế toán do ANC ban hành là khung lý thuyết và cơ sở quan trọng để các DN trên thực hiện theo. Kế toán thương mại cũng thực hiện việc ghi chép, trình bày thông tin kế toán mua bán hàng hóa dựa trên các quy định của ANC.

Trong kế toán tổng quát XNK hàng hóa, kế toán Pháp áp dụng các nguyên tắc chung trong việc ghi nhận đánh giá, phản ánh các thông tin trên báo cáo tài chính, lập và trình bày báo cáo tài chính giống như các DN thương mại khác của Pháp.

Các quy định nền tảng mà ANC đưa ra cũng gần giống với chuẩn mực kế toán quốc tế trong việc lập và trình bày các thông tin trên báo cáo tài chính. Do vậy, kế toán nghiệp vụ XNK của Pháp ngoài việc thực hiện theo quy định của ANC và chuẩn mực báo cáo tài chính, còn chịu sự chi phối bởi các quy định của Luật thương mại, Luật thuế, Luật hải quan... của Pháp và EU.

Như vậy, nếu so sánh  hệ thống kế toán của Mỹ và Pháp cho thấy có sự khác biệt đáng kể. Điều này ảnh hưởng tới công tác kế toán của các công ty xuất nhập tại 2 nước. Nếu như ở Pháp, các nguyên tắc kế toán Pháp gắn liền với chính sách thương mại và thuế quan thì ở Mỹ có sự tách bạch hơn.

Tất cả các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán Mỹ được xây dựng dựa trên nền tảng và có sự hội tụ với chuẩn mực kế toán quốc tế, không dựa trên nền tảng luật thương mại hay chính sách thuế. Điều này đã hạn chế sự ảnh hưởng của thuế tới kế toán tại Mỹ hơn là kế toán Pháp.

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Qua nghiên cứu một số nội dung về kế toán áp dụng tại các Công ty XNK ở các nước phát triển như Pháp, Mỹ, bài viết đã rút ra một số kinh nghiệm của kế toán trong hoạt động XNK hàng hóa tại các DN XNK Việt Nam như sau:

Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, quy định kế toán cho hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế sao cho phù hợp với các giao dịch thương mại toàn cầu, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế. Hệ thống kế toán Việt Nam hiện nay được ban hành dựa trên mô hình kế toán động, bao gồm các chuẩn mực kế toán, luật kế toán, chế độ kế toán, thông tư hướng dẫn… Trước xu thế tất yếu của quá trình hội nhập thương mại quốc tế toàn cầu, Việt Nam đang từng bước hoàn thiện cơ chế chính sách cho phù hợp với thông lệ quốc tế.

Thực tế, các giao dịch trong kinh doanh XNK hàng hóa ảnh hưởng rất lớn tới sự vận động của các giao dịch tài chính cũng như việc nhận diện thông tin của kế toán XNK của mỗi DN. Vì vậy, các chuẩn mực kế toán, quy định kế toán về các giao dịch thương mại quốc tế cũng cần được ban hành cụ thể cho phù hợp với xu thế chung như: Ban hành chuẩn mực kế toán hướng dẫn các giao dịch trong mua bán hàng hóa quốc tế; vận dụng các quy định pháp luật cụ thể vào kế toán hoạt động XNK hàng hóa; ảnh hưởng của các rào cản phi thuế quan tại nước nhập khẩu hoặc nước xuất khẩu tới thông tin đầu vào của kế toán…

Thứ hai, đối với kế toán nhập khẩu hàng hóa: Yếu tố chi phí cấu thành nên giá hàng nhập khẩu cần phải được phân định rõ ràng theo điều kiện giao hàng thỏa thuận. Cần chắc chắn rằng, các chi phí lịch sử cấu thành nên giá gốc hàng nhập khẩu. Vấn đề là lựa chọn điều kiện giao hàng nào thì chi phí được phân chia và ghi nhận, ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của công ty thương mại. Các chi phí tăng thêm có thể bao gồm: Thuế nhập khẩu, chi phí chuyên chở, thuế kho, chi phí lưu kho, bảo hiểm, và tất cả các chi phí thích hợp khác…

Về mặt nguyên tắc, khi các chi phí trên phát sinh, theo nguyên tắc giá gốc, phải được tính vào trị giá của hàng hóa tồn kho. Kết quả là một phần chi phí phụ sẽ nằm trong hàng tồn kho cuối kỳ và chuyển sang kỳ sau tương xứng với thu nhập của kỳ mà hàng tồn kho được bán (nguyên tắc phù hợp).

Thứ ba, đối với kế toán xuất khẩu: Hệ thống kế toán doanh thu và giá vốn hàng xuất khẩu ngoài việc dựa trên nền tảng các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán hiện hành, cần nghiên cứu các điều kiện giao hàng trong thương mại quốc tế. Có như vậy mới xác định chính xác, khách quan thời điểm ghi nhận doanh thu hàng hóa xuất khẩu.

Thứ tư, cần tách bạch giữa chính sách kế toán với chính sách thuế, hải quan, thương mại hiện hành. Trong quá trình bổ sung, chỉnh sửa các chính sách kế toán liên quan tới kế toán XNK cần phải hài hòa và thống nhất với các chính sách quản lý khác của Nhà nước, qua đó, đảm bảo vai trò, chức năng của kế toán, không bị chi phối bởi chính sách quản lý nhà nước liên ngành.

Trung tâm kế toán thực hành Tại hải phòng Thứ năm, trong tương lai, thương mại điện tử phát triển, kế toán cần nhận diện và ghi nhận thông tin về hàng hóa XNK theo từng điều kiện giao hàng. Thay vì phương thức truyền thống “FOB điểm đến”, điều kiện “FOB điểm giao hàng” có thể được lựa chọn. Do vậy, khi lập báo cáo tài chính, các hàng hóa đang trên đường vận chuyển là đối tượng cần soát xét, vì nó ảnh hưởng đến chỉ tiêu hàng tồn kho.

Các mặt hàng theo điều kiện “FOB điểm giao hàng/điểm đến” được đánh dấu là trọng yếu nếu như bên mua có quyền đối với hàng hóa. Nếu người mua đã có quyền về hàng hóa, thì hàng hóa được bổ sung vào bảng kiểm kê hàng hóa, nhưng không thể hiện trên biểu chế độ kế toán.

Tóm lại, hệ thống kế toán XNK chịu chi phối bởi yếu tố môi trường kinh doanh trong nước và quốc tế. Trước xu thế hội nhập, thương mại quốc tế phát sinh và chứa đựng nhiều giao dịch mua bán hàng hóa mới và phức tạp, đòi hỏi hệ thống kế toán quốc gia cần từng bước hoàn thiện, đáp ứng kịp thời, đầy đủ yêu cầu quản lý trong thời kỳ mới.     

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại bắc ninh Tài liệu tham khảo:

1. Đặng Đức Sơn, (2002), Kế toán doanh nghiệp xuất nhập khẩu  – Lý thuyết và thực hành, NXB Thống Kê;

2. Hội đồng lý luận Trung ương, (2007), “Khi Việt Nam đã vào WTO”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

3. Các website: www.customs.gov.vn, www.danketoan.com, www.webketoan.com...

Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận hà đông Theo Tạp chí Tài chính kỳ I, số tháng 8/2016


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Kỳ kế toán là gì? Quy định về kỳ kế toán



Kỳ kế toán là quy định về một chu kỳ của hoạt động kế toán, từ thời điểm đơn vị kế toán bắt đầu ghi sổ kế toán đến thời điểm kết thúc việc ghi sổ kế toán, khoá sổ kế toán để lập báo cáo tài chính. Theo pháp luật Việt Nam thường bao gồm kỳ kế toán năm, kỳ kế toán quý, kỳ kế toán tháng. Tuy nhiên, do đặc thù công tác và chế độ quy định chung, các công ty có thể quy định thêm về kỳ kế toán của mình.


1. Kỳ kế toán năm, kỳ kế toán quý, kỳ kế toán tháng

a) Kỳ kế toán năm là mười hai tháng, tính từ đầu ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 năm dương lịch. Đơn vị kế toán có đặc thù riêng về tổ chức, hoạt động được chọn kỳ kế toán năm là mười hai tháng tròn theo năm dương lịch, bắt đầu từ đầu ngày 01 tháng đầu quý này đến hết ngày cuối cùng của tháng cuối quý trước năm sau và thông báo cho cơ quan tài chính biết.

Trường hợp cơ sở giáo dục - đào tạo chọn kỳ kế toán năm theo năm học khác với năm dương lịch thì kỳ kế toán năm phải là mười hai tháng tròn tính từ đầu ngày 01 tháng 7 năm này đến hết ngày 30 tháng 6 năm sau hoặc từ ngày 01 tháng 10 năm này đến hết ngày 30 tháng 9 năm sau. Khi thực hiện phải thông báo cho cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan thuế quản lý trực tiếp biết, cuối năm dương lịch vẫn phải lập báo cáo tài chính theo quy định.

(Điểm này được hướng dẫn bởi Điều 7 Nghị định 128/2004/NĐ-CP - Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế toán áp dụng đối với các đối tượng quy định tại Điều 2 của Nghị định này (sau đây gọi tắt là lĩnh vực kế toán nhà nước).

Khái niệm, phân biệt năm tài chính và năm dương lịch

b) Kỳ kế toán quý là ba tháng, tính từ đầu ngày 01 tháng đầu quý đến hết ngày cuối cùng của tháng cuối quý;

c) Kỳ kế toán tháng là một tháng, tính từ đầu ngày 01 đến hết ngày cuối cùng của tháng.

2. Kỳ kế toán của đơn vị kế toán mới được thành lập

Trung tâm kế toán thực hành Tại bắc ninh a) Kỳ kế toán đầu tiên của doanh nghiệp mới được thành lập tính từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đến hết ngày cuối cùng của kỳ kế toán năm, kỳ kế toán quý, kỳ kế toán tháng theo quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Kỳ kế toán đầu tiên của đơn vị kế toán khác tính từ ngày có hiệu lực ghi trên quyết định thành lập đến hết ngày cuối cùng của kỳ kế toán năm, kỳ kế toán quý, kỳ kế toán tháng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Đơn vị kế toán khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động hoặc phá sản thì kỳ kế toán cuối cùng tính từ đầu ngày kỳ kế toán năm, kỳ kế toán quý, kỳ kế toán tháng theo quy định tại khoản 1 Điều này đến hết ngày trước ngày ghi trên quyết định chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động hoặc phá sản đơn vị kế toán có hiệu lực.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hải phòng 4. Trường hợp kỳ kế toán năm đầu tiên hoặc kỳ kế toán năm cuối cùng có thời gian ngắn hơn chín mươi ngày thì được phép cộng (+) với kỳ kế toán năm tiếp theo hoặc cộng (+) với kỳ kế toán năm trước đó để tính thành một kỳ kế toán năm. Kỳ kế toán năm đầu tiên hoặc kỳ kế toán năm cuối cùng phải ngắn hơn mười lăm tháng.

Trường hợp kỳ tính thuế năm đầu tiên của doanh nghiệp mới thành lập kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có thời gian ngắn hơn 03 tháng thì được cộng với kỳ tính thuế năm tiếp theo để hình thành một kỳ tính thuế  nhưng vượt quá 15 tháng.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận thanh xuân Tổng hợp


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Sự khác biệt với chuẩn mực quốc tế về kế toán công của kế toán Nhà nước Việt Nam



Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đòi hỏi kế toán nhà nước một mặt phải thừa nhận các nguyên tắ , thông lệ phổ biến của quốc tế, đồng thời, phải có mô hình quản lý phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam. Vì vậy, đòi hỏi những người soạn thảo chuẩn mực kế toán Việt Nam phải có nhận thức về sự khác biệt của kế toán nhà nước với kế toán công quốc tế để hài hoà giữa kế toán Nhà nước Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế . Điểm tương đồng với chuẩn mực kế toán quốc tế


Hệ thống chuẩn mực quốc tế về kế toán công đựơc xây dựng trên cơ sở hệ thống chuẩn mực kế toán (CMKT) trong lĩnh vực tư và được thực hiện trên cơ sở kế toán dồn tích . Việt Nam đã thực hiện cải cách hệ thống kế toán DN và hệ thống kế toán hành chính sự nghiệp (HCSN). Chế độ kế toán HCSN về cơ bản đã thực hiện dồn tích, trừ hạch toán ghi nhận TSCĐ, nguồn kinh phí. Mặt khác, Việt Nam cũng đã xây dựng được hệ thống CMKT DN dựa trên CMKT quốc tế trong lĩnh vực tư, do đó, việc tiếp cận kế toán nhà nước với CMKT công quốc tế là tương đối gần và có nhiều thuận tiện trên các mặt như con người, nhận thức, hệ thống pháp lý, cơ chế tài chính…

Sự khác biệt giữa kế toán khu vực nhà nước của Việt Nam với chuẩn mực kế toán công quốc tế

Về đối tượng áp dụng: Kế toán trong lĩnh vực nhà nước của Việt Nam (viết tắt là kế toán nhà nước) áp dụng cho: các đơn vị thu – chi NSNN; các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp có sử dụng kinh phí NSNN; các đơn vị sự nghiệp tổ chức không sử dụng kinh phí NSNN; các quỹ tài chính của Nhà nước. Kế toán nhà nước Việt Nam không áp dụng cho DN nhà nước và các DN khác thuộc mọi thành phần kinh tế .

Trong khi, CMKT  công quốc tế áp dụng cho các đơn vị thuộc chính quyền trung ương, các chính quỳên khu vực; chính quyền địa phương và các đơn vị trực thuộc các đơn vị này; các đơn vị cung cấp dịch vụ công được Nhà nước tài trợ thường xuyên. Nhà nước chịu trách nhiệm về tài sản công nợ khi phá sản. CMKT công không áp dụng cho DNNN, các đơn vị, tổ chức công không được tài trợ thường xuyên để duy trì hoạt động liên tục.

Về phạm vi hợp nhất BCTC của Chính phủ: Kế toán nhà nước Việt Nam quy định vềviệc lập báo cáo quyết toán NSNN nhưng chưa xác lập được nội dung, mẫu biểu và phương pháp hợp nhất BCTC Chính phủ. Còn theo CMKT công quốc tế, toàn bộ các đơn vị dưới sự kiểm soát của Chính phủ trong và ngoài nước hoặc đơn vị Chính phủ phải chịu trách nhiệm về tài sản và công nợ khi giải thể, phá sản đều được tổng hợp vào BCTC Chính phủ. Ngoài ra , tổng hợp lập báo cáo quyết toán chính quyền các cấp.

Về áp dụng cơ sở kế toán: Các đơn vị kế toán nhà nước Việt Nam đang áp dụng các cơ sở kế toán khác nhau . Đơn vị thu – chi ngân sách áp dụng cơ sở kế toán tiền mặt có điều chỉnh (đã theo dõi tạm ứng , nợ phải thu , nợ phải trả ); đơn vị HCSN áp dụng cơ sở kế toán dồn tích có điều chỉnh (đã hạch toán đầy đủ nợ phải thu ,nợ phải trả , tính hao mòn của TSCĐ nhưng chưa tính vào chi phí hoạt động trong kỳ kế toán ). Còn CMKT công quốc tế phân định rõ ràng 2 cơ sở kế toán: kế toán trên cơ sở tiền mặt ; kế toán trên cơ sở dồn tích.

Về hệ thống thông tin: Thông tin đầu vào của kế toán nhà nước Việt Nam do Chính phủ quy định cụ thể, chia làm 3 loại: lĩnh vực ngân sách ; lĩnh vực HCSN; lĩnh vực đặc thù. Còn theo CMKT công quốc tế , các mẫu thông tin đầu vào do Hội nghề nghiệp qui định.

Thông tin đầu ra của kế toán nhà nước Việt Nam mới chỉ dừng lại qui định việc lập BCTC  ở cấp đơn vị và có tổng hợp BCTC  theo từng cấp ngân sách nhằm phục vụ quyết toán kinh phí ở đơn vị. Toàn Chính phủ chưa có qui định BCTC hợp nhất. Hiện tại , mới chỉ có báo cáo thống kê tài sản toàn chính phủ và báo cáo ngân sách cho Quốc hội. CMKT công quốc tế qui định 2 loại báo cáo: BCTC của Chính phủ (báo cáo tổng hợp các đơn vị thuộc đơn vị thuộc sự kiểm soát của Chính phủ) và báo cáo ngân sách (lập theo yêu cầu của Quốc hội).

Những điểm khác biệt cụ thể

Về ghi nhận nguồn vốn: Chế độ kế toán HCSN của Việt Nam qui định số thu được ghi thẳng tăng nguồn vốn . Còn CMKT công quốc tế qui định phải bù trừ giữa thu và chi , số chênh lệch mới được ghi tăng nguồn vốn.

Về danh mục BCTC: Kế toán nhà nước Việt Nam qui định : đơn vị thu – chi ngân sách phải lập 28 báo cáo, đơn vị HCSN phải lập 6 báo cáo và 4 phụ biểu , các đơn vị đặc thù còn có thêm các báo cáo đặc thù của ngành.

CMKT công quốc tế qui định kế toán trên cơ sở tiền mặt lập 1 báo cáo thu – chi tiền mặt, kế toán trên cơ sở dồn tích lập 5 báo cáo (Báo cáo tình hình tài chính của đơn vị ; Báo cáo kết quả hoạt động; Báo cáo sự thay đổi về tài sản thuần / Vốn chủ sở hữu ; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Chính sách kế toán và giải trình BCTC)

Về hàng tồn kho : Kế toán nhà nước Việt Nam quy định cuối năm , nguyên vật liệu , công cụ , dụng cụ đa mua chưa sử dụng hết cũng được tính hết vào chi trong kỳ và được quyết toán .

CMKT công quốc tế (IPSAS 12) lại quy định giá trị hàng tồn kho chỉ được ghi nhận vào chi phí trong kỳ cho phù hợp với doanh thu được ghi nhận.

Về giá trị XDCB dở dang , sửa chữa lớn hoàn thành: Kế toán trong lĩnh vực Nhà nước của Việt Nam qui định cuối năm được tính vào chi và quyết toán ngay trong kỳ , còn CMKT công quốc tế (IPSAS 11) qui định chi phí được công nhận lá chi trong kỳ phù hợp với khối lượng hoàn thành.

Về tài sản cố định: Theo kế toán Nhà nước của Việt Nam, khi mua sắm TSCĐ, tính toán toàn bộ giá trị tài sản vào số chi trong kỳ, hàng năm tính hao mòn TSCĐ, ghi giảm nguồn hình thành TSCĐ mà chưa thực hiện khấu hao TSCĐ vào chi phí trong kỳ đảm bảo phù hợp với doanh thu và chi phí. Kế toán nhà nước Việt Nam qui định tiêu chuẩn TSCĐ hữu hình, vô hình, hướng dẫn phương pháp kế toán tăng, giảm, hao mòn, khấu hao, sửa chữa nhưng chưa hạch toán thiết bị quân sự, tài sản là di sản.

Trong khi đó, CMKT công quốc tế (IPSAS 17) qui định số khấu hao mỗi kỳ được ghi nhận là chi phí; phân chia tài sản phi tài chính là bất động sản, nhà xưởng, thiết bị; kế toán cả phần thiết bị quân sự chuyên dụng, cơ sở hạ tầng và không hướng dẫn kế toán tài sản là di sản.

Về tỉ giá hối đoái và xử lý chênh lệch tỷ gía hối đoái: Kế toán Nhà nước Việt Nam qui định các khoản thu chi ngân sách bằng ngoại tệ được qui đổi theo tỷ  giá do Bộ Tài chính công bố. Chênh lệch tỷ giá được ghi tăng chi hoặc ghi giảm chi trong kỳ.

Còn CMKT công quốc tế (IPSAS 9) qui định tỷ giá hối đoái được ghi nhận theo tỷ giá tại thời điểm phát sinh giao dịch thường được coi là tỷ giá giao ngay. Chênh lệch tỷ giá được ghi nhận là khoản thu hoặc chi phí trong kỳ phát sinh.

Về bất động sản đầu tư , nợ tiềm tàng , công cụ tài chính: Kế toán nhà nước Việt Nam chưa có cơ chế tài chính cụ thể nên chưa có hướng dẫn hạch toán đối với bất động sản đầu tư , nợ tiềm tàng , các công cụ tài chính…

Còn CMKT công quốc tế qui định và hướng dẫn rõ cách xử lý và hạch toán kế toán trong từng trường hợp (bất động sản đầu tư , nợ tiềm tàng , các công cụ tài chính…)

Về giao dịch: Trong kế toán Nhà nước Việt Nam, kế toán thu – chi ngân sách qui định giao dịch một chiều: Kế toán HCSN qui định giao dịch một chiều với thu, chi liên quan đến ngân sách; hai chiều đối với hoạt động dịch vụ. Trong hệ thống CMKT công quốc tế, mới chỉ có CM cho các giao dịch trao đổi mà chưa có chuẩn mực cho các giao dịch một chiều.

Về qui định kế toán trong nền kinh tế siêu lạm phát và các khoản dự phòng , nợ phải trả  tiềm tàng: Trong khi CMKT công quốc tế (IPSAS 10) đã có hướng dẫn cụ thể, thì kế toán nhà nước Việt Nam chưa qui định các khoản dự phòng, các khoản nợ phải trả tiềm tàng.

Về chi phí đi va y: Kế toán trong lĩnh vực nhà nước của Việt Nam qui định chi phí đi vay hạch toán là khoản chi ngân sách, chi hoạt động chưa được vốn hoá. Còn CMKT công quốc tế hướng dẫn hạch toán chi phí đi vay, phương pháp vốn hoá chi phí vay liên quan đến mua tài sản , xây dựng hoặc sản xuất tài sản.

Về thặng dư, thâm hụt: Kế toán Nhà nước Việt Nam qui định thu – chi ngân sách xác định tồn quỹ ngân sách trong đó có tính cả các khoản đi vay (trừ khoản vay cho vay lại ) và các khoản thu, chi chuyển nguồn, chuyển niên độ ngân sách; đơn vị HCSN tính chênh lệch thu, chi hoạt động do tiết kiệm kinh phí và chênh lệch hoạt động kinh doanh dịch vụ để bổ sung nguồn kinh phí, tăng thu nhập, trích lập các quỹ.

Trong khi đó, theo CMKT công quốc tế, thu – chi ngân sách xác định thặng dư, thâm hụt theo thu, chi ngân sách các khoản đi vay hạch toán riêng bù đắp bội chi; đơn vị dịch vụ công được nhà nước tài trợ thường xuyên tính thặng dư thâm hụt hoạt động thông thường, thặng dư thâm hụt hoạt động bất thường.

Tiến tới hài hoà với các CMKT công quốc tế

Để tiến tới sự hài hoà giữa kế toán Nhà nước Việt Nam và CMKT công quốc tế, phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển của Việt Nam thì cần thiết phải xây dựng 1 hệ thống CMKT công của Việt Nam, trên cơ sở chuẩn mực kế toán công quốc tế phù hợp với đặc thù của Việt Nam. Để làm được đìêu đó, phải thực hiện các bước sau:

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất sửa đổi, bổ sung cơ chế tài chính công và kế toán nhà nước phù hợp với CMKT công quốc tế.

Cần đánh giá thực trạng kế toán nhà nước Việt Nam, từ đó, chỉ ra những vấn đề sửa đổi cơ chế tài chính công và những vướng mắc, bất hợp lý so với CMKT công quốc tế.

- Tổ chức biên dịch, nghiên cứu CMKT công quốc tế.

- Xác định hướng và lộ trình áp dụng CMKT công quốc tế để xây dựng hệ thống CMKT nhà nước Việt Nam .

Trung tâm kế toán thực hành Tại thái bình - Sửa đổi, bổ sung cơ chế tài chính công phù hợp với CMKT công quốc tế .

Kế toán nhà nước của Việt Nam chịu sự chi phối bởi Luật Ngân sách và các văn bản qui định cơ chế tài chính cho các đơn vị thuộc lĩnh vực công . Còn đỉêm khác bịêt giữa các qui định của Luật Ngân sách với các qui định của CM công. Vì vậy , để có thể vận dụng được chuẩn mực công quốc tế đòi hỏi phải có sửa đổi , bổ sung.

- Nghiên cứu, xây dựng hệ thống CMKT công của Việt Nam.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại bắc ninh - Triển khai áp dụng các CMKT công của Việt Nam.

Căn cứ vào hệ thống chuẩn mực kế toán công quốc gia, cần có các qui định cụ thể cho các đơn vị trong lĩnh vực công thực hiện. Cần tiến hành các bước :

+  Xây dựng hoàn chỉnh CĐKT nhà nước.

+ Xây dựng quy trình nghiệp vụ phù hợp với định hướng phát triển.

+ Kiểm tra, triển khai thực hiện.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận long biên Theo diendanketoan


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Việt Nam có thêm 18 nhân sự được trao chứng chỉ Kế toán Quản trị Hoa Kỳ CMA



Ngày 14/10/2016, Hiệp hội Kế toán Quản trị Hoa Kỳ IMA và Smart Train, đối tác đào tạo CMA được ủy quyền duy nhất tại Việt Nam, vừa tổ chức Lễ vinh danh học viên hoàn thành xuất sắc chứng chỉ CMA tại Khách sạn Lotte Legend (Q.1, TP.HCM).


Trao chung chi cho 18 người được trao chứng chỉ Kế toán Quản trị Hoa Kỳ CMA trong năm 2016.

18 học viên được vinh danh trong buổi lễ chính là tốp học viên thứ hai đã hoàn thành xuất sắc chương trình Kế toán Quản trị Hoa Kỳ CMA và ghi tên mình vào danh sách gần 50 chuyên viên kế toán – tài chính Việt Nam đầu tiên được sở hữu chứng chỉ CMA danh tiếng thế giới từ Hiệp hội IMA.

Nhân dịp này, IMA và Smart Train cũng trao tặng hơn 25 suất học bổng CMA cho nhân sự Kế toán – Tài chính tài năng, cũng như học bổng thường niên “CMA – The Future CFO” dành cho các bạn sinh viên xuất sắc đến từ Đại học RMIT.

Trung tâm kế toán thực hành Tại bắc ninh Phát biểu tại buổi lễ, Tiến sĩ Joshua Heniro – Giám đốc IMA khu vực Đông Nam Á cho biết: “Tôi tin rằng các anh chị sẽ vận dụng hiệu quả kiến thức, kỹ năng tích lũy từ chương trình CMA để tạo ra giá trị thiết thực cho doanh nghiệp. Với tốc độ phát triển của Việt Nam hiện nay, tôi hy vọng sẽ ngày càng có nhiều chuyên viên kế toán – tài chính Việt Nam sở hữu chứng chỉ CMA, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kế toán – tài chính trong nước.”

“Các doanh nghiệp kỳ vọng người làm kế toán, tài chính có thể trở thành cố vấn tài chính nội bộ, biết tham mưu cho ban lãnh đạo thay vì chỉ tập trung xử lý các giao dịch, chứng từ kế toán như trước đây. Nhu cầu tuyển dụng các Kế toán quản trị giỏi được đào tạo theo chuẩn quốc tế nhằm giúp doanh nghiệp cải thiện năng lực quản trị tài chính đang ngày càng tăng tại Việt Nam”, ông Phạm Ngọc Hoàng Thanh – Giám Đốc Điều hành Smart Train cho biết.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại bắc ninh Nhân dịp này đại diện IMA cũng đã trao chứng nhận chúc mừng những nỗ lực, cống hiến và thành quả của Smart Train với vai trò đối tác đào tạo CMA được ủy quyền duy nhất tại Việt Nam trong 5 năm (tháng 11/2011 – tháng 11/2016).

Từ khi được triển khai vào năm 2011, chương trình đào tạo CMA tại Smart Train đã đón nhận sự quan tâm theo học của hàng trăm học viên ở TP.HCM và gần đây nhất là Hà Nội. Hầu hết học viên CMA đều là các kế toán – kiểm toán – tài chính đến từ những công ty đa quốc gia, ngân hàng và tập đoàn lớn như PwC, EY, KPMG, Deloitte, Bayer, PV Drilling, TPBank, Unilever, SAB Miller, AIA ….
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận long biên Theo baodautu


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Chế độ kế toán mới đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định thế nào?



Những nội dung mới tại Thông tư 133/2016/TT-BTC về hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa đã tạo nhiều bước đột phá mới hướng đến doanh nghiệp là đối tượng áp dụng làm trung tâm, ưu tiên mục đích quản trị doanh nghiệp hơn mục đích quản lý nhà nước.


Theo đánh giá của các chuyên gia, Thông tư 133/2016/TT-BTC bước đầu được ghi nhận là có nhiều đổi mới mang tính cởi mở, linh hoạt cao, đưa ra nhiều lựa chọn cho doanh nghiệp (DN).

Tại Thông tư 133/2016/TT-BTC, Bộ Tài chính cũng đã đưa ra các hướng dẫn về đăng ký sửa đổi Chế độ kế toán. Theo đó, đối với hệ thống tài khoản kế toán, quy định mới hướng dẫn: Trường hợp DN cần bổ sung tài khoản cấp 1, cấp 2 hoặc sửa đổi tài khoản cấp 1, cấp 2 về tên, ký hiệu, nội dung và phương pháp hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đặc thù phải được sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính trước khi thực hiện.

Trung tâm kế toán thực hành Tại bắc ninh Nhằm tạo sự linh hoạt cao cho DNNVV trong việc mở thêm các tài khoản cấp 2 và các tài khoản cấp 3 đối với những tài khoản không có quy định tài khoản cấp 2, tài khoản cấp 3 tại danh mục Hệ thống tài khoản kế toán DN quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này nhằm phục vụ yêu cầu quản lý của DN mà không phải đề nghị Bộ Tài chính chấp thuận.

Đối với báo cáo tài chính, DNNVV căn cứ biểu mẫu và nội dung của các chỉ tiêu của Báo cáo tài chính tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này để chi tiết các chỉ tiêu (có sẵn) của hệ thống Báo cáo tài chính phù hợp với đặc điểm sản xuất, kinh doanh, yêu cầu quản lý của từng đơn vị. Trường hợp DN cần bổ sung mới hoặc sửa đổi biểu mẫu, tên và nội dung các chỉ tiêu của Báo cáo tài chính phải được sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính trước khi thực hiện.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại cầu giấy So với các quy định trước đây, Thông tư 133/2016/TT-BTCchỉ quy định về nguyên tắc kế toán mà không quy định chi tiết các bút toán. Bằng cách vận dụng nguyên tắc kế toán, DNNVV sẽ được tự quyết định các bút toán ghi sổ sao cho phù hợp nhất với quy trình luân chuyển chứng từ và thói quen của mình miễn là trình bày báo cáo tài chính đúng quy định.
Bên cạnh đó, Thông tư mới cũng tạo sự linh hoạt cho DNNVV được tự lựa chọn đồng tiền ghi sổ kế toán khi đáp ứng được các tiêu chí Chế độ quy định; Được tự quyết định ghi hoặc không ghi doanh thu từ các giao dịch nội bộ mà không phụ thuộc chứng từ xuất ra là hóa đơn giá trị gia tăng hay phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ; Được tự quy định cho đơn vị hạch toán phụ thuộc ghi nhận khoản vốn nhận từ DN là nợ phải trả hoặc vốn chủ sở hữu; Được lựa chọn biểu mẫu báo cáo tài chính theo tính thanh khoản giảm dần hoặc phân biệt ngắn hạn, dài hạn theo truyền thống...

Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận hà đông Theo tapchitaichinh


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Ngành kế toán và những băn khoăn tại sao lại có thu nhập thấp?



Một số kế toán hay than rằng: Lương kế toán bèo bọt, là nghề bạc bẽo giống như osin văn phòng rồi hay làm chân chạy vặt cho các phòng ban khác nếu bạn có suy nghĩ như thế thì hãy đọc bài này nhé.


Nếu các bạn ở bậc thang thứ 1:

Chào mừng các bạn đến với Thế giới của những người làm kế toán với những ước mơ to vật vã sau khi cầm tấm bằng Cử nhân Kế toán. Chúng ta bắt đầu chặng đường không ngừng nghỉ Đi Xin Việc.

Chúng ta có thể nộp Hồ sơ đến bất kỳ công ty nào mà chúng ta mong muốn vào làm việc, chúng ta cái gì cũng có: sức khỏe, tinh thần làm việc, kỹ năng mềm, khả năng chém gió và hàng ngàn bạn trên Facebook, bạn chỉ cần hắt hôi sổ mũi là mấy trăm like điều mà bạn thiếu là Kinh nghiệm làm việc, mà hỡi ơi đó là các doanh nghiệp , ông chủ đang cần ở bạn nhất, nhưng không sao bạn có thể được nhận vào làm việc tại 01 cty nào đó, bạn sẽ được gọi với cái tên là Kế toán viên và bắt đầu nghề Kế toán của mình với 8g ngồi trước máy tính và bắt đầu làm việc với những con số, bạn cầm chứng từ lên và tự hỏi mình làm thế nào để hạch toán vào phần mềm kế toán mà bạn nhìn đã hoa cả mắt. Ngày này qua ngày khác, tóc bạn sẽ rụng bớt, mắt bạn sẽ cận thêm và bạn lãnh tháng lương đầu tiên….tháng thứ 12 mới một mức lương y chang như vậy, bạn bắt đầu so đo hơn thiệt và cuối cùng nhận ra rằng sao Lương mình thấp thế, tại sao???? Rồi 12 tháng nữa trôi qua, lúc này bạn đã có 24 tháng kinh nghiệm rồi và bạn cũng đã đến lúc phải có sự lựa chọn, rời khỏi Cty và bước tiếp nấc thang thứ 2.

Vậy rút ra cái gì ở nấc thang đầu tiên này:

1. Cố gắng tìm được việc, lương thấp cũng được, xem như đầu tư và cố gắng học thêm ngoại ngữ hoặc các kỹ năng mềm khác

2. Cố gắng học hỏi kinh nghiệm làm việc từ các anh chị đi trước, phải tích lũy được kinh nghiệm càng nhiều càng tốt.

Nếu các bạn ở bậc thang thứ 2:

Bạn đã được hơn 2 năm kinh nghiệp bạn thay đổi công việc đến một vị trí khác hoặc một Công ty khác với mức lương khá hơn nhiều so với 2 năm trước. Bạn cũng đã sẵn sàng tranh luận trực tiếp với Kế toán Tổng hợp về bất kỳ vấn đề gai góc về kế toán nào, bạn đã bắt đầu tự tin hơn và có thể chém gió khí thế trên Facebook hoặc các Diễn đàn về Kề toán về những chủ đề, vấn đề về kế toán mà bạn hoặc các bạn của bạn đang gặp phải. Bạn bắt đầu có những yêu cầu cao hơn về tiền lương, tiền thưởng, bạn cũng lại than thở rằng sao lương kế toán viên thấp quá làm 3-4 năm kinh nghiệm mà lương vẫn chưa tương xứng với công sức bỏ ra và bạn lại tiếp tục ra đi tìm công ty khác với mức thu nhập hấp dẫn hơn

Vậy rút ra kết luận gì ở nấc thang thứ 2 này:

1. Năng lực, kỹ năng xữ lý công việc là yêu cầu bắt buộc, bạn phải làm việc với sự hướng dẫn nghiệp vụ ngày càng ít từ Kế toán tổng hợp, đòi hỏi bạn không ngừng học hỏi và tích lũy kinh nghiệm để xử lý hạch toán cho đúng với chuẩn mực.

2. Ngoại ngữ: Nếu bạn muốn dấn thân trong nghề kế toán thì Ngoại ngữ là yêu cầu bắt buộc nếu bạn muốn có thu nhập cao ở các cty có vốn dầu tư nước ngoài.


3. Mối quan hệ xã hội: ở nấc thang này bạn phải cố gắng xây dựng được thương hiệu cá nhân cho bạn trên các Diễn đàn, Facebook về kế toán mọc lên như nấm sau cơn mưa.

4. Ở nấc thang này thu nhập của bạn sẽ ở mức từ 8-10 triệu/tháng tùy theo năng lực của bạn và điều kiện của Cty.

Nếu các bạn ở bậc thang thứ 3:

Trung tâm kế toán thực hành Tại hải phòng Chào mừng bạn đến với chức danh Quản lý Kế toán đầu tiên mà Tôi gọi đó là Kế toán Tổng hợp hoặc cao hơn một chút là Kế toán trưởng, Trưởng phòng Kế toán khi bạn đã ứng tuyển vào vị trí này thì bạn phải biết mình đang có những năng lực như thế nào, những kỹ năng làm việc, khả năng ngoại ngữ, kỹ năng phân tích số liệu, phân tích báo cáo kế toán, báo cáo tài chính, bạn sẽ lựa chọn đi theo con đường Kế toán Tài chính hay Kế toán quản trị, hoặc có thể tách ra và đi học chuyên sau về Tài chính nếu bạn mong muốn mình trở thành CFO. Bạn sẽ làm việc trực tiếp với các ông chủ Doanh nghiệp và tham dự các cuộc họp liên tục với các Trưởng phòng trong công ty và lúc này đây bạn sẽ phải chứng tỏ mức lương mà ông chủ Doanh nghiệp trả cho bạn là xứng đáng thông qua năng lực làm việc, kỹ năng tranh luận, thuyết trình, phản bác và thuyết phục các thành phần lãnh đạo công ty, các khách hàng, nhà cung cấp, các cơ quan quản lý nhà nước, ngân hàng và các nhà đầu tư tin tưởng rằng các kế hoạch kinh doanh nếu được duyệt sẽ mang lại hiệu quả cho công ty.

Vậy nấc thang này chúng ta có những cái gì cần lưu ý:

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại long biên 1. Kỷ năng làm việc quản lý cấp trung, cấp cao, kỷ năng quản lý công việc, quản lý nhân viên, kỹ năng phân tích số liệu, lập kế hoạch, theo dõi, tổng hợp phân tích và báo cáo đặc biệt là kỹ năng thuyết trình, đàm phán.

2. Ngoại ngữ: Tôi sẽ vẫn nhắc lại là phải giỏi hoặc khá một ngoại ngữ nào cũng được nhưng tốt nhất tôi khuyên bạn nên giỏi Tiếng Anh.

3. Mối quan hệ xã hội: Bạn đã tự tạo cho mình được một thương hiệu nhất định mà các ông chủ hoặc các nhà môi giới việc làm phải có số điện thoại hoặc email của bạn để làm gì, mời bạn về làm. Bạn là thành viên của Hội nghề nghiệp kế toán nào đó.

4. Lúc này thì thu nhập của bạn đỉnh lắm rồi : 50trieu/tháng là chuyện bình thường.

Như vậy nghề kế toán không bạc bẽo như các bạn nghĩ, nó phụ thuộc vào nhiều vấn đề khác nhau và việc các bạn làm kế toán lương thấp cũng có nhiều lý do nó phụ thuộc vào Cty bạn đang làm, vào năng lực của bạn, phụ thuộc vào cả mục tiêu xây dựng bản thân của bạn.

Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận long biên Theo Webketoan


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hướng kế toán quản trị đến chuẩn hành nghề quốc tế



Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) vừa ký biên bản hợp tác với Hiệp hội Kế toán Quản trị Hoa Kỳ (IMA) trong việc giúp hội viên tiếp cận dần với kế toán quản trị và quản trị tài chính doanh nghiệp theo tiêu chuẩn hành nghề quốc tế.

VACPA hợp tác với IMA nhằm giúp hội viên tiếp cận kiến thức và kinh nghiệm quản trị tài chính DN
theo chuẩn hành nghề quốc tế. Ảnh ST

Lễ ký kết có sự hiện diện của Tiến sĩ Joshua Heniro – Trưởng đại diện IMA khu vực Đông Nam Á, ông Phạm Ngọc Hoàng Thanh – Giám đốc Điều hành Smart Train, đại diện ủy quyền đào tạo của IMA tại Việt Nam và ông Phạm Sỹ Danh – Chủ tịch VACPA, cùng sự chứng kiến của đại diện Bộ Tài chính, các thành viên Ban chấp hành VACPA và các đại biểu.

Trung tâm kế toán thực hành Tại hải phòng Nội dung hợp tác chủ yếu tập trung vào các hoạt động hợp tác như chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp trong nước và quốc tế, đào tạo và phát triển hội viên, tư vấn chuyên môn, tuyên truyền quảng bá nghề nghiệp… Sau lễ ký kết, Smart Train sẽ phối hợp với IMA triển khai các chính sách hỗ trợ nhằm tạo điều kiện cho hội viên VACPA được nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên môn về kế toán quản trị và quản trị tài chính doanh nghiệp theo tiêu chuẩn hành nghề quốc tế.

Kế toán quản trị có ảnh hưởng lớn đến kế toán tài chính và lập báo cáo tài chính theo luật định. Do đó, kế toán quản trị gắn liền và ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm tra báo cáo tài chính của kiểm toán viên. Sự hợp tác giữa IMA và VACPA ngoài việc nâng cao năng lực và chất lượng kiểm toán cho hội viên VACPA còn đóng góp cho sự phát triển của nghề nghiệp kế toán, kiểm toán tại Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại cầu giấy Trước đó, hồi năm 2015, VACPA và IMA cũng ký biên bản hợp tác với thời hạn 5 năm và sau khoảng thời gian trên, hai bên đã và đang có những hoạt động phối hợp hiệu quả cùng nhau.

Được biết, IMA là hiệp hội nghề nghiệp trong lĩnh vực tài chính, kế toán quản trị tại Hoa Kỳ, được thành lập năm 1919, hiện có hơn 80.000 hội viên và chuyên cung cấp các dịch vụ đào tạo nghề nghiệp về kế toán quản trị được thừa nhận trên toàn cầu. Tại Việt Nam, Smart Train là đối tác đào tạo được ủy quyền của IMA trong việc cung cấp chương trình học và thi lấy chứng chỉ Kế toán Quản trị có giá trị trên toàn cầu.
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận tại từ liêm
Theo Thời báo Tài chính Việt Nam


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Bộ Tài Chính: ĐỊnh hướng thay đổi chuẩn mực kế toán VAS, từ năm 2025 sẽ áp dụng IFRS



Dự kiến đến 2020, VAS phải được ban hành lại và ban hành mới trên cơ sở cập nhật những thay đổi của IFRS. Hiệu lực của VAS/VFRS mới sẽ được bắt đầu từ 1/1/2020. Trong đó, các đơn vị có lợi ích công chúng sẽ dần chuyển đổi từ VAS/VFRS sang IFRS và đến 2025 phải hoàn tất quá trình chuyển đổi


Bộ Tài chính đang triển khai thực hiện Quyết định 480/QĐ -TTg ngày 18/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030 và thực hiện Nghị quyết 35/ NQ- CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến 2020. Theo đó việc phát triển và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về Chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách cần phải được sớm triển khai để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế trong giai đoạn mới. Để làm được điều này, Bộ Tài chính đang xây dựng đề án đưa IFRS vào Việt Nam và cập nhật, ban hành mới VAS/VFRS, trong đó đề cập đến hướng đi cho Việt Nam, lộ trình áp dụng, biện pháp triển khai, thực hiện…

Chuẩn mực kế toán Việt Nam cần thay đổi

Theo đánh giá của các định chế tài chính quốc tế và giới chuyên môn, sự khác biệt giữa VAS và IFRS hiện nay còn tương đối lớn, tạo ra một số rào cản và làm giảm niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Một trong số đó là nhiều khoản mục trên BCTC cần được đánh giá lại theo giá trị hợp lý hoặc giá trị có thể thu hồi theo IFRS nhưng vẫn được ghi theo giá gốc theo VAS.

Điều này làm cho giá trị tài sản và nợ phải trả của doanh nghiệp chưa phản ánh đúng như diễn biến trên thực tế của thị trường. Việc chưa ban hành một số Chuẩn mực quan trọng như công cụ tài chính, tổn thất tài sản,… khiến các doanh nghiệp chưa có căn cứ pháp lý để ghi nhận các khoản tổn thất một cách kịp thời, các công cụ tài chính phái sinh chưa được sử dụng rộng rãi để phòng ngừa rủi ro cho hoạt động kinh doanh.

Đặc biệt, một đất nước có tỷ trọng nông nghiệp còn chiếm phần lớn trong nền kinh tế như Việt Nam lại chưa có Chuẩn mực kế toán cho lĩnh vực nông nghiệp.


Hiện nay đã có 116 quốc gia trên Thế giới áp dụng IFRS. Rõ ràng, khi áp dụng IFRS, chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp sẽ tăng lên rõ rệt thông qua việc nâng cao trách nhiệm giải trình, tăng cường tính minh bạch và khả năng so sánh. Xét về lâu dài, việc sử dụng IFRS sẽ giảm chi phí cho doanh nghiệp, đồng thời cũng là một yếu tố để quốc tế công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường đầy đủ.

Lộ trình dự kiến

Theo định hướng của Bộ Tài chính, dự kiến đến 2020, VAS phải được ban hành lại và ban hành mới trên cơ sở cập nhật những thay đổi của IFRS. Hiệu lực của VAS/VFRS mới sẽ được bắt đầu từ 1/1/2020. Trong đó, các đơn vị có lợi ích công chúng sẽ dần chuyển đổi từ VAS/VFRS sang IFRS và đến 2025 phải hoàn tất quá trình chuyển đổi. Như vậy, từ sau năm 2025, việc áp dụng Chuẩn mực kế toán tại Việt Nam sẽ chia thành 3 cấp độ: Các đơn vị có lợi ích công chúng áp dụng IFRS; Các đơn vị khác áp dụng VAS/VFRS; Doanh nghiệp vừa và nhỏ áp dụng Chế độ kế toán riêng cho SME.

Bộ Tài chính xác định cần phải xây dựng lộ trình cụ thể đảm bảo tính khả thi. Dự kiến những công việc chủ yếu phải thực hiện theo từng giai đoạn như sau:

Giai đoạn 2017- 2018:

- Tổ chức các hoạt động nghiên cứu, hội thảo lấy ý kiến của các chuyên gia, doanh nghiệp, trường đại học về các nội dung dự thảo VAS/VFRS và IFRS

- Đào tạo, dịch tài liệu về IFRS

- Khảo sát sự sẵn sàng áp dụng IFRS tại các đơn vị có lợi ích công chúng

- Đánh giá tác động của việc áp dụng IFRS

- Đánh giá các khác biệt về cơ chế tài chính của Việt Nam với IFRS

- Lựa chọn một số đơn vị áp dụng thí điểm IFRS

Giai đoạn 2018 - 2020

- Lựa chọn một số IFRS (khoảng từ 10-20 IFRS) đơn giản phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam và công bố tuân thủ, áp dụng đối với tất cả các đơn vị có lợi ích công chúng từ năm 2020

- Các đơn vị được lựa chọn thí điểm áp dụng từ 2019

- Xây dựng hướng dẫn áp dụng IFRS

- Tiếp tục tuyên truyền, quảng bá, đào tạo IFRS cho các doanh nghiệp, công ty kiểm toán, trường đại học

Giai đoạn 2020 đến 2023:
Trung tâm kế toán thực hành Tại hải phòng
- Tiếp tục công bố, tuân thủ thêm một số IFRS (dự kiến nâng số lượng IFRS được tuân thủ lên 30 Chuẩn mực)

- Khuyến khích các đơn vị không có lợi ích công chúng nhưng có đủ điều kiện và mong muốn được lập và trình bày Báo cáo tài chính theo IFRS

- Tiếp tục xây dựng hướng dẫn áp dụng IFRS

- Tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc triển khai áp dụng, các trường đại học trong việc đào tạo IFRS

Giai đoạn 2023 - 2025:

- Tuyên bố tuân thủ hoàn toàn IFRS

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà nội - Tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp và trường đại học, xây dựng hoàn chỉnh bộ hướng dẫn áp dụng IFRS và sửa đổi, bổ sung, cập nhật hàng năm theo sự thay đổi của quốc tế.

Bộ nhận định rõ vấn đề nguồn nhân lực đóng vai trò then chốt, quyết định đến sự thành công trong việc áp dụng IFRS tại Việt Nam nên công tác tuyên truyền, phổ biến và đào tạo về IFRS là cực kỳ quan trọng. Bộ Tài chính sẽ đề nghị các tổ chức quốc tế như WB, IMF, ADB, EU, JICA…(ít nhất là từ nay đến 2020) cung cấp các chương trình hỗ trợ kỹ thuật dài hạn để giúp Việt Nam lựa chọn các IFRS áp dụng theo lộ trình và đào tạo IFRS cho nhân sự Việt Nam.

Ngoài ra, Bộ Tài chính sẽ biên dịch IFRS từ tiếng Anh sang tiếng Việt để làm căn cứ thực hiện và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi đối tượng nghiên cứu, áp dụng. Các doanh nghiệp, trường đại học, hội nghề nghiệp như VAA, VACPA cần phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính trong quá trình thực hiện bằng cách phản ánh kịp thời những khó khăn, vướng mắc phát sinh, xây dựng lại giáo trình và đổi mới phương pháp đào tạo, tổ chức nhiều khóa cập nhật kiến thức cho kiểm toán viên, kế toán viên hành nghề.

Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận long biên Theo Cafef


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Kinh nghiệm của Malaysia khi áp dụng chuẩn mực kế toán công và lập báo cáo tài chính Chính phủ



Sự ra đời của chuẩn mực kế toán công có ý nghĩa lớn trong định hướngchuyển đổi sang kế toán trên cơ sở dồn tích và phản ánh thông tin trên báo cáo tài chinh. Bộ chuẩn mực kế toán công không chỉ phù hợp với thông lệ quốc tế mà còn đảm bảo phù hợp với đặc thù riêng của kế toán trong lĩnh vực công của từng quốc gia. Nghiên cứu kinh nghiệm của Malaysia để đánh giá những điểm tương đồng và điểm khác biệt giúp đúc rút được kinh nghiệm hữu ích cho Việt Nam trong khi lập báo cáo tài chính nhà nước.


Việc ban hành bộ chuẩn mực kế toán công là một trong những điều kiện cần thiết đối với Malaysia để ghi nhận và trình bày báo cáo tài chính Chính phủ theo các nguyên tắc và thông lệ quốc tế. Trong lộ trình trình chuyển đổi sang áp dụng kế toán cơ sở dồn tích và lập báo cáo tài chính Chính phủ, Malaysia đã ban hành bộ chuẩn mực kế toán công (MPSAS) từ năm 2013.

Tuy có một số điểm khác biệt so với chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS) nhưng MPSAS về cơ bản phù hợp với chuẩn mực kế toán công và lập báo có tài chính Chính phủ như sau:

Phạm vi hợp nhất báo cáo tài chính Chính phủ

Hiện tại, phạm vi hợp nhất báo cáo tài chính Chính phủ gồm các Bộ, đơn vị trực tiếp thuộc chính quyền liên bang. Phạm vi báo cáo tài chính Chính phủ không bao gồm thông tin tài chính của chính quyền Bang.

Chính sách chuyển đổi sang áp dụng kế toán dồn tích

Theo quy định của MPSAS/IPSAS, một số tài sản và công nợ (bất động sản, tài cản cố định, kế hoạch lợi ích được xác định, tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp, tài sản vô hình, tài sản nhượng quyền dịch vụ và công nợ có liên quan và công cụ tài chính) được phép ghi nhận trong vòng 3 năm kể từ ngày áp dụng. Mức độ ghi nhận những tài sản này sẽ được chi tiết trong thuyết minh báo cáo tài chính.

Về việc đo lường tài sản (hàng tồn kho, bất động sản đầu tư, tài sản cố định, tài sản vô hình, công cụ tài chính, tài sản nhượng quyền dịch vụ), trong trường hợp không còn thông tin về giá gốc của tài sản thì giá trị hợp lý của tài sản tại thời điểm hiện tại được coi là nguyên giá.

Đối với tài sản là cơ sở hạ tầng

Tài sản cơ sở hạ tầng, ví dụ như những con đường, được vốn hóa trên chi phí xây dựng ban đầu, chi phí bảo trì sẽ ghi nhận tăng chi phí, chi phí khấu hao được tính dựa trên chất lượng của đường, chi phí vốn hóa tương lai chỉ được ghi nhận tăng công năng sử dụng của con đường.

Để đảm bảo tính hợp lý khi các định giá trị khấu hao và giá trị còn lại của tài sản cơ sở hạ tầng, một số tài sản cơ sở hạ tầng được bóc tách theo dõi giá trị riêng biệt với những cấu phần có chi phí ảnh hưởng đáng kể đến tổng chi phí của tài sản đó. Ví dụ: Hệ thống điều hòa, thang máy được coi là tài sản riêng biệt / cấu phần hoạt động riêng biệt với tòa nhà.

Tài sản an ninh quốc phòng

Tài sản an ninh quốc phòng có mức độ nhạy cảm và tính bảo mật cao, do vậy các chi tiết về nhóm tài sản này không được công bố. Trong báo cáo tài chính của Malaysia, các tài sản quân đội được trình bày ở một khoản mục riêng biệt (số tổng).

Tài sản di sản văn hóa

Tài sản là di sản văn hóa được định nghĩa theo tính chất quan trọng về văn hóa, môi trường và lịch sử, như các khu nhà cổ và các di tích, các công trình kiến trúc, các địa điểm khảo cổ… những tài sản này ít có khả năng tạo ra dòng tiền. Tại Malaysia, đối với những tài sản đã có sẵn thông tin về giá gốc thì sẽ được ghi nhận theo giá gốc. Trong trường hợp không thể xác định theo giá gốc thì sẽ ghi nhận theo giá danh nghĩa là 1 Ringit (đơn vị tiền tệ của Malaysia).

Đánh giá giảm giá trị tài sản

Đối với những tài sản tài chính đặc biệt như các khoản cho vay của Chính phủ cần có đánh giá suy giảm giá trị nếu có dấu hiệu khó khăn trong việc thu hồi khoản cho vay. Tại Malaysia, một số khoản cho vay của chính phủ được xem xét đánh giá suy giảm tài sản như: Các khoản nợ phát sinh do nợ thuế không trả, cá khoản cho vay sinh viên tồn đọng lâu năm, các khoản cho vay nhà nước tồn đọng lâu năm, các khoản đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước có tình hình tài chính xấu.

Ghi nhận nợ phải trả

Theo chuẩn mực kế toán công của Malaysia quy định nguồn vốn từ lĩnh vực công (các khoản nhận tài trợ), các hình thức huy động vốn khác của Chính phủ liên bang cam kết thanh toán hàng năm, các hợp đồng cho thuê tài chính sẽ được ghi nhận là khoản nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán. Hiện tại, Quỹ hưu trí chưa được ghi nhận là nợ phải trả mà sẽ được thuyết minh trong báo cáo tài chính. Ngoài ra, các nghĩa vụ xã hội khác như các khoản thanh toán bảo hiểm… sẽ được ghi nhận là chi phí khi phát sinh.

Ghi nhận tài sản và công nợ trong trường hợp hợp tác công tư

Một số loại hình hợp tác công tư đã được áp dụng tại Malaysia như sau:

Trung tâm kế toán thực hành Tại hải phòng Sáng kiến tài trợ tư nhân – Private Finance Initiative (PFI), gồm: Xây dựng – cho thuê – chuyển giao (BLT), xây dựng – cho thuê – bảo trì – chuyển giao (BLMT);

Tư nhân hóa – Privatization, gồm: Bán tài san, bán vốn, hợp tác, phát triển/chuyển giao đất, xây dựng – vận hành – chuyển giao (BOT), xây dựng – vận hành/quản lý – sở hữu, cho thuê;

Quản lý hợp đồng.

Tùy thuộc vào loại hình hợp tác, việc ghi nhận kế toán tuân theo quy định của chuẩn mực kế toán công về thuê tài sản; bất động sản, nhà xưởng và thiết bị; đầu tư; tài sản vô hình… Trong đó mỗi chuẩn mực lại có hướng dẫn riêng về việc ghi nhận giá trị tài sản, công nợ, chi phí…

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại long biên Một số bài học kinh nghiệm khác của Malaysia

Xác định mức độ trọng yếu, khi lập báo cáo tài chính cần rất cẩn trọng khi đưa ra ngưỡng vốn hóa của tài sản. Mức quy định này không nên quá nhỏ vì sẽ rất phức tạp trong quá trình lập báo cáo tài chính.

Loại trừ các giao dịch nội bộ: Tại Malaysia các Bộ không được coi là tự chủ về hoạt hoạt động, chỉ có Bộ Tài chính được quyền nắm giữ tiền, do vậy số dư tiền mặt trên báo cáo tài chính các đơn vị đều bằng không. Khi phát sinh giao dịch nội bộ giữa các Bộ, chi phí được ghi nhận theo từng Bộ và ghi nhận “Nợ phải thu” với Bộ Tài chính, do vậy khi hợp nhất các giao dịch nội bỗ sẽ được loại trừ.

Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận long biên Theo Tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia số 176 (2/2017)


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Đào tạo Kế toán, Kiểm toán trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế



Cùng với quá trình hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, nhu cầu nhân lực kế toán, kiểm toán chất lượng cao tại Việt Nam được dự báo sẽ tăng nhanh trong thời gian tới. Những cơ hội và thách thức mới đang đặt ra gay gắt hơn bao giờ hết khi các hiệp định tự do hóa thương mại với  dịch chuyển lao động đã và đang trở thành hiện thực. Bài viết trao đổi một số ý kiến liên quan đến thực trạng đào tạo kế toán, kiểm toán trình độ cao hiện nay và đề xuất một số giải pháp nhằm phục vụ phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế.


Thực trạng đào tạo kế toán, kiểm toán

Hiện nay, việc đào tạo kế toán, kiểm toán bậc đại học được thực hiện ở rất nhiều trường đại học kinh tế - tài chính công lập và ngoài công lập trong cả nước. Ở nhiều trường đại học đào tạo chuyên ngành kế toán và kiểm toán, có đủ mọi hệ đào tạo và cấp bậc đào tạo, từ trung cấp, cao đẳng, liên thông đại học, đại học chính quy, cao học và đào tạo tiến sĩ với đủ các hệ chính quy, tại chức, đào tạo từ xa. Đó là chưa kể tới hàng trăm lớp dạy nghề kế toán và kiểm toán do các trường lớp, các trung tâm, các doanh nghiệp tổ chức dưới mọi hình thức.

Do vậy, xét về mặt số lượng, kết quả đào tạo của các trường đã phần nào đáp ứng khá tốt nguồn nhân lực về kế toán, kiểm toán cho giai đoạn vừa qua cũng như trong giai đoạn tới. Chẳng hạn như Đại học Kinh tế quốc dân - trường đại học đầu tiên đào tạo cử nhân Chuyên ngành Kiểm toán ở Việt Nam từ cuối những năm 1990, trung bình mỗi năm đào tạo khoảng 180 cử nhân chuyên ngành Kiểm toán, khoảng hơn 100 thạc sỹ chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán và Phân tích phục vụ cho nhu cầu về nguồn nhân lực Kiểm toán của ngành Kiểm toán Việt Nam.

Các sinh viên, học viên tốt nghiệp ra trường đều được các cơ quan và doanh nghiệp kiểm toán đánh giá cao, có sự phát triển nghề nghiệp tốt, thích ứng với môi trường hội nhập và cạnh tranh quốc tế. Không chỉ cố gắng đáp ứng nhu cầu xã hội về số lượng, Đại học Kinh tế quốc dân luôn chú trọng vấn đề chất lượng, trình độ chuyên môn của cử nhân kiểm toán được đào tạo...

Bên cạnh đó, chương trình đào tạo của nhiều trường hiện cũng được xây dựng theo cách hướng đến tính liên thông với các chương trình đào tạo cấp chứng chỉ nghề nghiệp quốc tế như ACCA, CPA Australia nhằm giúp sinh viên có khả năng học tiếp, phát triển nghề nghiệp một cách thuận tiện.

Việc không ít trường giảng dạy các môn học chuyên ngành bằng tiếng Anh đã giúp khắc phục rào cản ngôn ngữ, phát triển khả năng tiếng Anh trong công việc của sinh viên, hỗ trợ cho sinh viên có khả năng công tác tốt trong môi trường quốc tế khi tốt nghiệp.

Thực tế cho thấy, kế toán và kiểm toán vẫn là chuyên ngành hấp dẫn thu hút nhiều thí sinh dự thi hàng năm nhờ sức hấp dẫn về thu nhập cao, dễ kiếm việc làm ở nhiều lĩnh vực. Đây là lí do hàng năm có hàng nghìn sinh viên chuyên ngành kế toán, kiểm toán đăng kí thi vào hoặc tốt nghiệp ra trường.

Tuy nhiên, nếu xem xét về khía cạnh chất lượng đào tạo thì còn có độ lệch khá lớn giữa các trường và chất lượng nói chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao phù hợp với tình hình phát triển và hội nhập sâu rộng của nền kinh tế nước ta trong dài hạn.

Thực tế cho thấy, số lượng nhân sự ngành kế toán, kiểm toán được đào tạo hàng năm của các cơ sở đào tạo là rất lớn nhưng trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và các kỹ năng mềm khác của đối tượng này chưa cao, chưa đạt được đến mặt bằng chung của khu vực. Hiện tại, số lượng kế toán, kiểm toán viên nắm vững các thông lệ và nguyên tắc kế toán quốc tế chưa nhiều.

Thực tế cho thấy, số lượng nhân sự ngành kế toán, kiểm toán được đào tạo hàng năm của các cơ sở đào tạo là rất lớn nhưng trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và các kỹ năng mềm khác của đối tượng này chưa cao, chưa đạt được đến mặt bằng chung của khu vực. Hiện tại, số lượng kiểm toán viên nắm vững các thông lệ và nguyên tắc kế toán quốc tế chưa nhiều. Tư duy tích lũy am hiểu các vấn đề toàn cầu còn hạn chế, khó hội nhập sâu rộng với kế toán, kiểm toán quốc tế. Không ít trường lại dạy quá nhiều lý thuyết trong khi sinh viên cần hơn một nền tảng kế toán, tài chính vững chắc và những kỹ năng thực hành hiệu quả. Nhiều sinh viên ra trường chưa thể nắm bắt được công việc kế toán hay kiểm toán ngay khi được giao mà phải mất thời gian đào tạo lại.
Bên cạnh đó, đội ngũ giảng viên đảm nhận giảng dạy các học phần về kế toán, kiểm toán phần lớn còn khá trẻ, thiếu kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng công việc thực tế. Nhiều nhà giáo dục đại học hiện nay vẫn cho rằng đào tạo kế toán, kiểm toán ra để làm việc tại doanh nghiệp Việt Nam, theo kế toán Việt Nam, cũng phần nào ảnh hưởng đến định hướng và kế hoạch đào tạo trong tương lai.

Chiến lược kế toán, kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030 được Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 480/QĐ-TTg ngày 18/03/2013 đã chỉ rõ, Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán, tăng nhanh số lượng doanh nghiệp dịch vụ kế toán - kiểm toán và số lượng kiểm toán viên, kế toán viên hành nghề; Mở rộng thị trường dịch vụ kế toán - kiểm toán trong và ngoài nước;

Nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán - kiểm toán; đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ kế toán - kiểm toán đáp ứng yêu cầu quản lý của nền kinh tế quốc dân. Tuy  nhiên, theo dự đoán của các chuyên gia tài chính, nếu không chuẩn bị kỹ lưỡng nguồn nhân lực thì có khả năng kiểm toán viên các nước ASEAN phát triển hơn nước ta như Singapore, Thái Lan, Malaysia, Philippines có thể sang Việt Nam cạnh tranh trực tiếp với người lao động nước ta.

Như vậy, ngay tại sân nhà, đội ngũ này cũng chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước. Do đó, lao động trong nước có thể khó tìm việc ở các công ty kiểm toán lớn (Big Four) ngay trên sân nhà. Từ đó, dẫn đến hệ luỵ bản thân các trường đại học sẽ chịu sức ép đổi mới hoạt động đào tạo đáp ứng nhu cầu của thị trường, bởi một khi các chuyên ngành mà tìm việc làm khó sẽ ít thu hút được sinh viên đăng kí dự thi.

Một số đề xuất

Với việc gia nhập WTO trong những năm qua và gần đây gia nhập AEC, Việt Nam đang đứng trước nhiều thử thách phía trước, trong đó, thách thức lớn về tính chuyên nghiệp và lành nghề của đội ngũ nhân sự có trình độ cao trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán không thể xem nhẹ và cần có giải pháp tháo gỡ một cách nhanh chóng để đáp ứng tốt yêu cầu phát triển và hội nhập sâu rộng của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Rõ ràng, nâng cao chất lượng đào tạo kế toán, kiểm toán bậc đại học để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao đang là một đòi hỏi cấp bách của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay bởi đây luôn được coi là dịch vụ cao cấp, đóng góp tích cực tăng trưởng kinh tế, tạo ra môi trường doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng.

Tuy nhiên, để làm được điều này, ngoài sự nỗ lực của từng các cơ sở đào tạo, chủ yếu là các trường đại học cao đẳng, thì cần phải có sự vào cuộc mạnh mẽ và sự hợp lực hiệu quả giữa các trường, giữa trường với các cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo, về kế toán, kiểm toán cũng như với các tổ chức và hiệp hội nghề nghiệp trong việc thiết lập chuẩn đầu ra thích hợp, đổi mới nội dung chương trình giảng dạy theo hướng quốc tế hoá và phát triển đội ngũ giảng viên có trình độ cao. Theo đó, trong thời gian tới cần chú trọng một số vấn đề trọng tâm sau:

Về phía cơ quan quản lý:

Một là, các hiệp định tự do hóa thương mại và dịch chuyển lao động tạo ra thách thức và cơ hội cho nghề nghiệp kế toán, kiểm toán, để cung cấp nguồn nhân lực cho nghề nghiệp trong giai đoạn mới, cần xem xét lại định hướng đào tạo đáp ứng nhu cầu nội địa hiện nay. Việc duy trì hướng đào tạo đáp ứng nhu cầu nội địa hiện nay sẽ dẫn đến mất dần thị trường lao động kế toán, kiểm toán ngay tại sân nhà, chưa kể đến đánh mất cơ hội mở mang sang các nước trong khu vực. Nhiều ý kiến cho rằng, cần có chiến lược để biến nghề nghiệp kế toán, kiểm toán trở thành một lĩnh vực mang lại GDP cho quốc gia.

Hai là, Bộ Tài chính cần phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo để xây dựng một chiến lược đào tạo kế toán, kiểm toán bậc đại học theo chuẩn quốc tế và tạo điều kiện để từng trường tuỳ theo năng lực hiện có thiết kế chương trình đào tạo phù hợp theo hướng tiếp cận chương trình tiên tiến trên thế giới. Chiến lược này tạo nên nền tảng pháp lý để từng trường chủ động trong việc hoạch định quá trình đào tạo nguồn nhân lực về kế toán, kiểm toán có chất lượng đáp ứng tốt yêu cầu sử dụng tại Việt Nam cũng như các nước trong khu vực và các tổ chức nghề nghiệp quốc tế.

Ba là, đổi mới mô hình đào tạo thi, cấp chứng chỉ kiểm toán viên, kế toán viên hành nghề theo hướng đào tạo, thi theo tín chỉ để cấp chứng chỉ kiểm toán viên, kế toán viên hành nghề; đồng thời mở rộng và tăng cường số lượng các kỳ thi kế toán viên hành nghề, kế toán viên công chứng, kiểm toán viên đã được đề ra trong Chiến lược Kế toán - Kiểm toán năm 2020, tầm nhìn 2030 phê duyệt theo Quyết định 480/QĐ-TTg ngày 18/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

Về phía các tổ chức nghề nghiệp:

Một là, nâng cao vai trò của hội nghề nghiệp như Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), chi hội kế toán hành nghề Việt Nam (VICA)… giúp tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng hành nghề kế toán, kiểm toán để đảm bảo những người đủ điều kiện mới có thể hành nghề, từ đó giúp nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của những công ty kiểm toán Việt Nam trên thị trường.

Hiệp hội cần thể hiện vai trò của mình qua việc trở thành cầu nối thiết lập mối liên kết giữa cơ quan Nhà nước, cơ sở đào tạo, hội nghề nghiệp và DN, tạo đầu ra cho các sinh viên. Đồng thời, khi những chuẩn mực mới ban hành, hội nghề nghiệp nên mời những chuyên gia trao đổi, cập nhật kiến thức mới thông qua các lớp đào tạo để nâng cao trình độ đội ngũ kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề.

Hai là, tăng cường hợp tác với các hội nghề nghiệp ở khu vực ASEAN để tăng cường sự hiểu biết và liên thông trình độ giữa các kế toán, kiểm toán viên trong khu vực. Đẩy mạnh việc thỏa thuận, hợp tác giữa các quốc gia trong khối ASEAN để tiến tới công nhận các bằng cấp và chứng chỉ hành nghề lẫn nhau.

Hợp tác chặt chẽ hơn nữa với các hội nghề nghiệp trên thế giới để đào tạo đội ngũ kế toán viên, kiểm toán viên đạt trình độ ngang bằng với trình độ của khu vực. Trong đó, các cơ quan nhà nước, hội nghề nghiệp đóng vai trò ban hành, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện. Trong quá trình thực hiện, doanh nghiệp sẽ đóng góp ý kiến để cơ quan Nhà nước điều chỉnh lại hệ thống văn bản pháp luật phù hợp hơn với tình hình thực tế.

Về phía các trường đại học:

Một là, đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy. Mạnh dạn phối hợp và tăng cường hợp tác với ACCA, CPA Australia, CIMA... để đổi mới giáo trình đào tạo. Đổi mới nội dung chương trình đào tạo để người học thông qua chương trình này sẽ có được những kiến thức vừa có tính hiện đại, tính thực tiễn, vừa có tính hàn lâm, tính ứng dụng, vừa có năng lực nghiên cứu, kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu phù hợp với các kỹ năng được xác định trong chuẩn đầu ra.

Chương trình đào tạo phải đổi mới theo hướng tiếp cận và kế thừa những mặt tích cực của chương trình đào tạo của các trường đại học tiên tiến trong khu vực và trên thế giới về lĩnh vực kế toán, kiểm toán nhằm giúp sinh viên có thể hội nhập và thực hành một cách có hiệu quả trong môi trường làm việc quốc tế.

Bên cạnh đó, các trường cần thiết kế trong chương trình đào tạo những nội dung chuyên môn có tính chất đặc thù về môi trường pháp lý và môi trường hoạt động tại Việt Nam để người học có thể thực hiện được công việc chuyên môn một cách thành thạo sau khi tốt nghiệp.

Tăng cường áp dụng phương pháp làm việc theo nhóm để thực hiện các bài tập tình huống do giảng viên đưa ra có tác dụng rất quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng quốc tế hoá. Chú trọng tăng cường thời lượng thảo luận tại lớp thông qua những chủ đề do giảng viên yêu cầu theo hướng mở rộng nội dung môn học qua hình thức tiếp cận các công bố trong nước và quốc tế để người học cập nhật kiến thức, nâng cao tính hiện đại và tính hàn lâm trong nội dung môn học.

Hai là, các trường đại học cần phải gắn kết chặt chẽ với các tổ chức nghề nghiệp trong nước và quốc tế để từng bước đưa vào chương trình đào tạo những nội dung có tính ứng dụng chuyên nghiệp đã được các tổ chức này nghiên cứu, tổng hợp và áp dụng trong quá trình đào tạo các loại chứng chỉ hành nghề được công nhận rộng rãi ở Việt Nam và quốc tế.

Việc gắn kết này sẽ tạo nên sự hài hoà giữa đào tạo hàn lâm và đào tạo kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu, giữa thực tế về kế toán, kiểm toán của một quốc gia với tính chất quốc tế hoá theo xu hướng hội tụ kế toán toàn cầu, từ đó nâng cao tính hiện đại, tính chuyên nghiệp cho chất lượng đầu ra ở bậc đại học. Thực hiện kiểm định chất lượng bởi các tổ chức độc lập. Các nhà kiểm định đối với ngành kế toán, kiểm toán sẽ dựa trên các tiêu chuẩn này để đánh giá và công bố kết quả, qua đó, xã hội có đủ thông tin để quyết định về việc sử dụng lao động cũng như chọn lựa trường để học.

Ba là, các trường đại học cần phối hợp và thông qua các hiệp hội nghề nghiệp như Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA), Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) Câu lạc bộ Kế toán trưởng,... để tạo nên mối quan hệ rộng rãi và sâu sắc với các loại hình doanh nghiệp khác nhau trong nền kinh tế nhằm một mặt giúp người học có điều kiện tiếp cận dễ dàng công việc thực tế tại các doanh nghiệp nhằm rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp trước khi tốt nghiệp, mặt khác với việc tạo ra mối quan hệ này sẽ giúp các trường thường xuyên lắng nghe được từ phía các doanh nghiệp - các nhà tuyển dụng chủ lực - những yêu cầu về chất lượng sản phẩm đào tạo được cung cấp cũng như sự thích hợp của chương trình đào tạo để đáp ứng yêu cầu về chất lượng được đặt ra.

Chính những ý kiến và đóng góp của doanh nghiệp sẽ là cơ sở quan trọng để các trường điều chỉnh kịp thời chuẩn đầu ra và đổi mới chương trình đào tạo một cách thích ứng.

Bốn là, nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên. Đội ngũ giảng viên không chỉ là những người có phẩm chất đạo đức tốt mà còn phải là những người có kiến thức chuyên môn sâu rộng, không ngừng cập nhật để kiến thức luôn được đổi mới, có tính hiện đại đồng thời phải có những am hiểu tình hình thực tiễn của hoạt động chuyên môn để bên cạnh tính hàn lâm còn phải có tính thực tiễn sâu sắc trong nội dung giảng dạy.

Bên cạnh đó, việc thành thạo ngoại ngữ để phục vụ cho việc nghiên cứu và trao đổi học thuật cũng là một trong những yêu cầu cơ bản mà đội ngũ giảng viên cần phải có để đáp ứng tốt nhu cầu đào tạo theo chương trình tiên tiến quốc tế. Quá trình hội nhập quốc tế cũng sẽ làm xuất hiện các cơ sở đào tạo mới trên nền tảng tự do hóa việc cung cấp dịch vụ đào tạo.

Vì vậy, ngay bản thân các cơ sở giáo dục đại học hiện tại cũng phải đối mặt với thách thức về sự chuyển dịch chất xám đội ngũ, áp lực đòi hỏi có sự điều chỉnh trong chính sách lương thưởng, chính sách thu hút nhân tài, thay đổi việc tiếp cận và duy trì mối quan hệ với các doanh nghiệp kiểm toán, các cơ quan quản lý nghề nghiệp trong quá trình đào tạo. Chủ động thu hút được đội ngũ chuyên gia, giảng viên giỏi trong và ngoài nước tham gia vào quá trình đào tạo.

Năm là, tăng cường các hoạt động ngoại khoá để phát triển nghề nghiệp cho sinh viên. Các trường cần tăng cường mời các chuyên gia kiểm toán từ cơ quan kiểm toán nhà nước, các doanh nghiệp kiểm toán đến nói chuyện chuyên đề với sinh viên; Giao lưu giữa Hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp kiểm toán với sinh viên được tổ chức đều đặn hàng năm.

Trung tâm kế toán thực hành Tại bắc ninh Sự tiếp xúc với các chuyên gia kiểm toán giúp cho sinh viên có được định hướng tốt hơn về nghề nghiệp tương lai, có sự chuẩn bị sớm hơn và tốt hơn cho nghề nghiệp, tiếp cận tốt hơn với công việc kế toán, kiểm toán trong tương lai.

Đây cũng là cách thức mà nhiều trường đại học trên thế giới thực hiện. Ngoài ra, các trướng cần tăng cường giảng dạy ngoại ngữ và ngoại ngữ chuyên ngành để sinh viên có thể chuyển đổi sang bằng cấp quốc tế dễ dàng hơn. Đối với sinh viên chuyên ngành kế toán, kiểm toán cần quy định chuẩn đầu ra về ngoại ngữ nâng cao hơn nữa so với hiện nay.

Về phía các doanh nghiệp kiểm toán:

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại bắc ninh Một là, phối hợp với các cơ sở đào tạo nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhân viên tham gia tập huấn, cập nhật các kiến thức, các chuẩn mực kế toán, các chế độ kế toán mới, các quy định về thuế hiện hành. Khuyến khích nhân viên tham gia học các chứng chỉ kiểm toán quốc tế.

Hai là, tích cực tham gia đóng góp các ý kiến về nhu cầu, định hướng và giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho ngành kế toán, kiểm toán, phục cho quá trình hội nhập kinh tế của đất nước. Phối hợp với các trường đại học thông qua việc phản hồi tích cực về chất lượng sinh viên mới ra trường để các trường đẩy mạnh đổi mới chương trình đào tạo và tham gia biên soạn, phản biện giáo trình và đào tạo tại các trường đại học các chính sách chế độ kế toán, kiểm toán mới trên cơ sở các chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế...

Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận long biên Theo Tạp chí Tài chính


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Đề xuất phạt vi phạm trong lĩnh vực kế toán



Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập.


Dự thảo nêu rõ đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính gồm cảnh cáo; phạt tiền.

Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân là 50.000.000 đồng, đối với tổ chức tối đa là 100.000.000 đồng. Đối với tổ chức vi phạm thì mức phạt tiền bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân có cùng hành vi vi phạm hành chính.

Bên cạnh đó, thu hồi giấy phép, đình chỉ hành nghề, kinh doanh dịch vụ kế toán, kiểm toán trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập.

Các hình thức phạt bổ sung trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán như sau: Tước quyền sử dụng giấy phép, đình chỉ hành nghề, kinh doanh dịch vụ kế toán, kiểm toán; đình chỉ việc tổ chức cập nhật kiến thức.

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập, ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt còn có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả khác.

Khai man chứng từ kế toán bị phạt tới 30 triệu đồng

Trung tâm kế toán thực hành Tại long biên Dự thảo đề xuất cụ thể mức xử phạt hành vi vi phạm quy định về chứng từ kế toán. Theo đó, phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: Sử dụng chứng từ kế toán khi chưa đầy đủ các nội dung chủ yếu theo quy định của pháp luật về kế toán; tẩy xóa, sửa chữa chứng từ kế toán; ký chứng từ bằng mực màu đỏ, mực phai màu; ký chứng từ bằng đóng dấu chữ ký khắc sẵn; chứng từ chi tiền không ký theo từng liên.

Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Lập chứng từ kế toán không đủ số liên theo quy định của mỗi loại chứng từ kế toán; ký chứng từ kế toán khi chưa ghi đủ nội dung chứng từ thuộc trách nhiệm của người ký; ký chứng từ kế toán mà không có thẩm quyền ký hoặc không được ủy quyền ký; chữ ký của một người không thống nhất hoặc không đúng với sổ đăng ký mẫu chữ ký...

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà nội Cũng theo dự thảo, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: Giả mạo, khai man chứng từ kế toán; thỏa thuận hoặc ép buộc người khác giả mạo, khai man chứng từ kế toán; lập chứng từ kế toán có nội dung các liên không giống nhau trong trường hợp phải lập chứng từ kế toán có nhiều liên cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh; không lập chứng từ kế toán khi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh; lập nhiều lần chứng từ kế toán cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh

Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận tại từ liêm
Theo Báo chính phủ


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Nhanh chóng áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế tại Việt Nam



Chiều 6/10, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn đã có buổi làm việc với Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán và các cục, vụ liên quan về công tác xây dựng Đề án áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS) tại Việt Nam.


Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn (ngoài cùng bên phải)
phát biểu chỉ đạo việc xây dựng đề án áp dụng IFRS tại Việt Nam. Ảnh: Hải Anh

Ngày 23/5/2017, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký Quyết định số 918/QĐ- BTC thành lập Ban chỉ đạo và Ban soạn thảo Đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) vào Việt Nam.

Tại buổi làm việc, Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán Vũ Đức Chính đã trình bày nhưng nội dung cơ bản của dự thảo đề án và sự cần thiết của việc áp dụng IFRS tại Việt Nam; kinh nghiệm áp dụng IFRS của hơn 10 quốc gia…

Trung tâm kế toán thực hành Tại hải phòng Theo ông Chính, việc áp dụng IFRS vào Việt Nam là yêu cầu khách quan, tất yếu trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Thực tế, IFRS ngày càng được nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới áp dụng hoặc cam kết áp dụng. Theo Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế, có 119/143 (chiếm tỷ lệ 83,2%) quốc gia và vùng lãnh thổ yêu cầu áp dụng IFRS.

Các tổ chức quốc tế (WB, IMF…) thường xuyên có các khuyến nghị Việt Nam áp dụng IFRS, từ đó sẽ có những đánh giá tích cực hơn về tính minh bạch trong hoạt động tài chính của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong việc đàm phán quốc tế, thu hút vốn đầu tư và các hoạt động viện trợ hoặc hỗ trợ kỹ thuật khác.

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại long biên Tại buổi làm việc, Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn yêu cầu Ban soạn thảo đề án cần quan tâm nghiên cứu làm rõ được mục tiêu, nội dung, lộ trình thực hiện…, sao cho việc áp dụng IFRS phải phù hợp với các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế tài chính đa dạng như doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước cho đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, siêu nhỏ.

”Đây là công việc khó và nhiều thách thức nhưng cũng rất cần khẩn trương thực hiện. Đề án cần đặt mục tiêu trước năm 2020 cơ bản thực hiện IFRS tại Việt Nam. Theo đó, từ nay đến tháng 3/2018, phải hoàn thành đề án (kèm kế hoạch và lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2018 – 2020), để lấy ý kiến các bộ, ngành, đối tượng liên quan, trình Chính phủ phê duyệt...” - Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn chỉ đạo.

Dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận hà đông Theo Thời báo tài chính


Read More Add your Comment 0 nhận xét