Tìm hiểu qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp lý ở Việt Nam



Trải qua gần 14 năm hoạt động, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã phát triển mạnh cả về lượng và chất, trở thành kênh dẫn vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Cùng với sự phát triển của thị trường, sự gia tăng của số lượng công ty niêm yết trên TTCK, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông luôn được đặt lên hàng đầu trong việc xây dựng một TTCK công khai, minh bạch, công bằng và hiệu quả. Bài viết dưới đây mong muốn giới thiệu một cách khái quát nhất các quy định pháp luật của Việt Nam liên quan đến cổ đông, quyền lợi của cổ đông và việc tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ).

Cổ đông có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Ngày 21/12/1990, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Công ty quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần (CTCP). Theo đó, lần đầu tiên khái niệm CTCP đã được đề cập và việc triệu tập ĐHĐCĐ bước đầu cũng đã được quy định. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, những quy định tại Luật Công ty về vấn đề quyền và nghĩa vụ của cổ đông còn chưa đầy đủ. Việc phân định cụ thể thẩm quyền và trách nhiệm của ĐHĐCĐ, Hội đồng quản trị (HĐQT), Giám đốc điều hành và Ban Kiểm soát chưa được quy định cụ thể trong Luật Công ty; đồng thời một số nội dung khác như quản trị công ty (QTCT) hay công khai, minh bạch thông tin… là các khái niệm mới mẻ và hoàn toàn chưa được quy định.
Mặc dù Luật Công ty đã phát huy tích cực vai trò của mình, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước, tuy nhiên, Luật này mới chỉ dừng lại ở việc khái quát sơ lược về cơ cấu quản lý nội bộ CTCP gồm ĐHĐCĐ, HĐQT và Ban Kiểm soát. Quyền và nghĩa vụ của cổ đông chưa được quy định đầy đủ. Thẩm quyền, thể thức triệu tập ĐHĐCĐ chưa được quy định cụ thể tại Luật Công ty, mà được quy định trong Điều lệ công ty. Trong giai đoạn này, chưa có các hướng dẫn cụ thể liên quan đến việc tổ chức ĐHĐCĐ. Ngoài ra, nhiều quy định của Luật Công ty đã bộc lộ nhiều bất cập và lạc hậu so với cách thức tổ chức một công ty theo cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế. Vì vậy, sau gần 10 năm thực hiện, việc sửa đổi, thay thế Luật này được đặt ra như một yêu cầu tất yếu, khách quan.
Ngày 12/6/1999, Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp số 13/1999/QH10 (Luật Doanh nghiệp 1999) để thay thế cho Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân. Có thể nói, Luật Doanh nghiệp 1999 là bước tiến lớn trong công cuộc cải cách của đất nước. Luật Doanh nghiệp 1999 đã dành 45 điều để quy định chi tiết hơn về CTCP và hoạt động của CTCP. Đặc biệt, Luật đã quy định cụ thể hơn về quyền và nghĩa vụ của cổ đông phổ thông, quyền và nhiệm vụ của ĐHĐCĐ, thẩm quyền và thể thức tiến hành họp ĐHĐCĐ. Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp 1999 cũng đã phân định rõ trách nhiệm của ĐHĐCĐ, HĐQT và Ban Kiểm soát.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn và nhu cầu cần phải có khung pháp lý bình đẳng cho mọi loại hình doanh nghiệp và đáp ứng yêu cầu hội nhập, ngày 29/11/2005, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã thông qua Luật Doanh nghiệp 2005, có hiệu lực từ ngày 01/7/2006, thay thế Luật Doanh nghiệp 1999. Tại Luật Doanh nghiệp 2005, CTCP, quyền của cổ đông, các quy định về họp ĐHĐCĐ đã được quy định cụ thể hơn so với Luật Doanh nghiệp 1999 theo hướng từng bước tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về quản trị CTCP, cụ thể như sau:
Về quyền của cổ đông phổ thông
Tại Luật Doanh nghiệp 2005, ngoài các quyền như tham dự và phát biểu trong các Đại hội cổ đông, thực hiện biểu quyết, được nhận cổ tức, được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần trong công ty, được tự do chuyển nhượng cổ phần, cổ đông đã được bổ sung thêm quyền xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông có quyền biểu quyết, yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác; quyền xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ biên bản họp ĐHĐCĐ và các nghị quyết của ĐHĐCĐ.
Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty cũng được Luật Doanh nghiệp 2005 bổ sung thêm các quyền mới so với Luật Doanh nghiệp 1999 như:
– Xem xét, trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của HĐQT, báo cáo tài chính (BCTC) giữa năm và hàng năm và các báo cáo của Ban Kiểm soát;
– Yêu cầu Ban Kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty trong trường hợp cần thiết;
– Yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ khi HĐQT vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao; nhiệm kỳ của HĐQT vượt quá 06 tháng mà HĐQT mới chưa được bầu thay thế.
Có thể nói, các quy định nêu trên đã mở rộng hơn nữa quyền của cổ đông trong việc giám sát hoạt động quản lý, điều hành công ty, giúp tăng cường hơn nữa tính minh bạch thông tin trong điều hành nhằm đảm bảo tối đa hóa quyền lợi của cổ đông. Đồng thời, cùng với việc mở rộng quyền của cổ đông phổ thông, Luật Doanh nghiệp 2005 cũng đã bổ sung thêm nghĩa vụ của cổ đông phổ thông như không được rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, tuân thủ Điều lệ và Quy chế quản lý nội bộ của công ty, chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty dưới mọi hình thức để thực hiện một trong các hành vi như vi phạm pháp luật, tiến hành kinh doanh và các giao dịch khác để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác; thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn trước nguy cơ tài chính có thể xảy ra đối với công ty.
Về quyền của ĐHĐCĐ
Về cơ bản, Luật Doanh nghiệp 2005 vẫn giữ nguyên các quyền đã được quy định tại Luật Doanh nghiệp 1999. Tuy nhiên, ĐHĐCĐ được bổ sung thêm quyền quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong BCTC gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác (trước đây, ĐHĐCĐ chỉ có quyền quyết định bán tài sản). Ngoài ra, theo Luật Doanh nghiệp 2005, ĐHĐCĐ còn có quyền xem xét và xử lý các vi phạm của HĐQT, Ban Kiểm soát gây thiệt hại cho công ty và cổ đông của công ty.
Về thẩm quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ
Luật Doanh nghiệp 2005 đã quy định thêm về việc họp ĐHĐCĐ thường niên; theo đó, quy định ĐHĐCĐ thường niên phải họp trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính (có thể gia hạn, nhưng không quá 06 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính). Ngoài ra, Luật này cũng quy định chi tiết các vấn đề được thảo luận tại ĐHĐCĐ thường niên. Đây là một bước tiến mới trong Luật Doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền lợi của cổ đông, để cổ đông thông qua cuộc họp ĐHĐCĐ thường niên có thể hiểu rõ hơn tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với công ty.
Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp 2005 cũng đã quy định chi tiết về thể thức tiến hành triệu tập và họp ĐHĐCĐ như quy định chi tiết về danh sách cổ đông có quyền dự họp ĐHĐCĐ, chương trình và nội dung họp ĐHĐCĐ, quy định về mời họp ĐHĐCĐ, quyền dự họp ĐHĐCĐ, điều kiện tiến hành họp ĐHĐCĐ…
Bên cạnh Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán năm 2006 đã được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007. Việc xây dựng và ban hành Luật Chứng khoán được ghi nhận là một bước phát triển mới nhằm từng bước hoàn thiện khung pháp lý về chứng khoán và TTCK, khắc phục cơ bản những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật trước đây về chứng khoán và TTCK; tạo môi trường kinh doanh, đầu tư chứng khoán thuận lợi, bình đẳng và phù hợp với nền kinh tế thị trường. Đồng thời, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã xây dựng và trình Bộ Tài chính ban hành các quyết định, thông tư hướng dẫn thực hiện đối với lĩnh vực chứng khoán và TTCK, trong đó, những nội dung như công bố thông tin (CBTT) của các công ty đại chúng (CTĐC), công ty niêm yết (CTNY), bảo vệ nhà đầu tư, nâng cao QTCT… được đặc biệt quan tâm.
Ngày 13/3/2007, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC về việc ban hành Quy chế QTCT áp dụng cho các CTNY trên Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK). Quy chế này được xây dựng theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và vận dụng những thông lệ quốc tế tốt nhất về QTCT phù hợp với điều kiện của Việt Nam, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của TTCK và góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế. Quy chế này quy định những nguyên tắc cơ bản về QTCT để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông, thiết lập những chuẩn mực về hành vi, đạo đức nghề nghiệp của các thành viên HĐQT, Ban Giám đốc, Ban Kiểm soát và cán bộ quản lý của các CTNY. Quy chế này cũng là cơ sở để đánh giá việc thực hiện QTCT của các CTNY (Điều 1).
Quy chế QTCT áp dụng cho các CTNY trên SGDCK đã dành hẳn một chương để quy định chi tiết về cổ đông và ĐHĐCĐ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Quy chế này, “Cổ đông có quyền bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình. Trong trường hợp nghị quyết của ĐHĐCĐ, nghị quyết của HĐQT vi phạm pháp luật hoặc vi phạm những quyền lợi cơ bản của cổ đông theo quy định của pháp luật, cổ đông có quyền đề nghị không thực hiện các quyết định đó theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Trường hợp các quyết định vi phạm pháp luật nêu trên gây tổn hại tới công ty, HĐQT, Ban Kiểm soát, Ban Giám đốc phải đền bù cho công ty theo trách nhiệm của mình. Cổ đông có quyền yêu cầu công ty bồi thường theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định”.
Quy chế này cũng quy định CTNY phải xây dựng Điều lệ Công ty theo Điều lệ mẫu do Bộ Tài chính quy định; đồng thời CTNY có trách nhiệm xây dựng và ban hành Quy chế nội bộ về QTCT. Ngoài ra, Quy chế QTCT cho các CTNY còn quy định những vấn đề liên quan đến cổ đông lớn, về việc họp ĐHĐCĐ thường niên và bất thường.
Có thể nói, cùng với Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và các văn bản pháp luật khác, việc ban hành Quy chế QTCT áp dụng cho các CTNY đã góp phần từng bước hoàn thiện khung pháp lý về QTCT tại Việt Nam nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông. Đây có thể coi là một nỗ lực rất lớn của các cơ quản quản lý Nhà nước trong việc xây dựng một TTCK công khai, minh bạch, công bằng và hiệu quả. Mặc dù vậy, Quy chế này vẫn còn có những hạn chế nhất định như chưa đảm bảo quyền lợi của cổ đông nói chung, mức độ công khai hóa còn thấp và chưa có văn bản pháp luật về QTCT áp dụng cho CTĐC nói chung.
Ngày 26/7/2012, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 121/2012/TT-BTC quy định về QTCT áp dụng cho các CTĐC có hiệu lực từ ngày 17/9/2012 (Thông tư 121). Thông tư này bao gồm một số nội dung chủ yếu về cổ đông và ĐHĐCĐ, các quy định về HĐQT, thành viên HĐQT, các quy định về Ban kiểm soát, thành viên ban kiểm soát, các quy định về ngăn ngừa xung đột lợi ích giữa các thành viên, chế độ báo cáo và CBTT.
Theo Thông tư 121, các quy định về cổ đông và ĐHĐCĐ được quy định như sau:
Về quyền và nghĩa vụ của cổ đông
Cổ đông có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Doanh nghiệp, các văn bản pháp luật liên quan và Điều lệ công ty, đặc biệt là những quyền dưới đây:
– Quyền tự do chuyển nhượng cổ phần đã được thanh toán đầy đủ và được ghi trong sổ cổ đông của công ty, trừ một số trường hợp bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định của pháp luật, Điều lệ công ty và quyết định của ĐHĐCĐ;
– Quyền được đối xử công bằng;
– Quyền được thông báo đầy đủ thông tin định kỳ và thông tin bất thường về hoạt động của công ty;
– Quyền và trách nhiệm tham gia các cuộc họp ĐHĐCĐ và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được ủy quyền hoặc thực hiện bỏ phiếu từ xa;
– Quyền được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần trong công ty.
– Cổ đông có quyền bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình. Trong trường hợp quyết định của ĐHĐCĐ, quyết định của HĐQT vi phạm pháp luật hoặc vi phạm những quyền lợi cơ bản của cổ đông theo quy định của pháp luật, cổ đông có quyền đề nghị hủy quyết định đó theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Trường hợp các quyết định vi phạm pháp luật gây tổn hại tới công ty, HĐQT, Ban Kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc) điều hành phải đền bù cho công ty theo trách nhiệm của mình. Cổ đông có quyền yêu cầu công ty bồi thường tổn thất theo quy định của pháp luật.
Về cuộc họp ĐHĐCĐ thường niên và bất thường
Trung tâm kế toán thực hành Tại bắc ninh
Thông tư 121 quy định CTĐC phải xây dựng và công bố trên trang thông tin điện tử của công ty quy định về trình tự, thủ tục triệu tập và biểu quyết tại ĐHĐCĐ, cách thức đăng ký tham dự ĐHĐCĐ, cách thức bỏ phiếu, kiểm phiếu, cách thức phản đối quyết định của ĐHĐCĐ, hướng dẫn thủ tục ủy quyền và lập giấy ủy quyền cho các cổ đông.
Ngoài ra, CTĐC không được hạn chế cổ đông tham dự ĐHĐCĐ, phải tạo điều kiện cho cổ đông thực hiện việc ủy quyền đại diện tham gia ĐHĐCĐ hoặc bỏ phiếu bằng thư bảo đảm khi cổ đông có yêu cầu. Quyền dự họp của cổ đông cũng được mở rộng với các hình thức bỏ phiếu từ xa, biểu quyết thông qua họp ĐHĐCĐ trực tuyến.
Hàng năm, CTĐC phải tổ chức họp ĐHĐCĐ thường niên theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Việc họp ĐHĐCĐ thường niên không được tổ chức dưới hình thức lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản.
CTĐC quy định trong Điều lệ công ty hoặc trong các quy định nội bộ các nguyên tắc, nội dung, trình tự, thủ tục lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản để thông qua quyết định của ĐHĐCĐ. Trường hợp lấy ý kiến bằng văn bản, CTĐC phải đảm bảo gửi, công bố đầy đủ tài liệu và đảm bảo thời gian hợp lý cho các cổ đông xem xét tài liệu trước khi gửi phiếu biểu quyết như trường hợp tổ chức họp ĐHĐCĐ.
Thông tư 121 cũng quy định rõ các nội dung tối thiểu trong Báo cáo hoạt động của HĐQT trình ĐHĐCĐ thường niên gồm:
– Đánh giá tình hình hoạt động của công ty trong năm tài chính;
– Hoạt động, thù lao và chi phí hoạt động của HĐQT và từng thành viên HĐQT;
– Tổng kết các cuộc họp của HĐQT và các quyết định của HĐQT;
– Kết quả giám sát đối với Giám đốc (Tổng Giám đốc) điều hành;
– Kết quả giám sát đối với các cán bộ quản lý khác;
– Các kế hoạch trong tương lai.
Báo cáo hoạt động của Ban Kiểm soát trình ĐHĐCĐ thường niên tối thiểu phải bao gồm các nội dung sau:
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại biên hòa
– Hoạt động, thù lao và chi phí hoạt động của Ban Kiểm soát và từng thành viên Ban Kiểm soát;
– Tổng kết các cuộc họp của Ban Kiểm soát và các quyết định của Ban Kiểm soát;
– Kết quả giám sát tình hình hoạt động và tài chính của công ty;
– Kết quả giám sát đối với thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng Giám đốc) điều hành và các cán bộ quản lý khác;
– Báo cáo đánh giá sự phối hợp hoạt động giữa Ban Kiểm soát với HĐQT, Giám đốc (Tổng Giám đốc) điều hành và cổ đông.
Cho đến thời điểm hiện tại, Thông tư 121 là một văn bản pháp luật tương đối đầy đủ và phù hợp với thông lệ quốc tế về QTCT nói chung và việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông nói riêng. Chính phủ, Bộ Tài chính, UBCKNN và các cơ quan có liên quan khác đã nỗ lực để từng bước hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm tạo ra sân chơi bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp, nhà đầu tư, cổ đông và những người có lợi ích liên quan khác. 
Việc xây dựng một TTCK công khai, minh bạch, công bằng và hiệu quả cùng với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi của mình tốt hơn nữa, nhà đầu tư và cổ đông cần phải trang bị thêm những kiến thức cơ bản về QTCT. Các cổ đông nên phát huy quyền và nghĩa vụ của mình để bảo vệ lợi ích của cá nhân, cũng như đóng góp thêm nhiều ý kiến trong các cuộc họp ĐHĐCĐ để xây dựng công ty ngày càng phát triển.
dịch vụ làm báo cáo tài chính tại Huyện Gia Lâm


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Nhiều hỗ trợ khiến triển vọng của vàng khá “sáng” trong tuần tới



Căng thẳng tại Ukraina cộng thêm nhu cầu vàng vật chất có thể tăng do lễ hội Akshaya Tritiya của Ấn Độ khiến nhiều nhà phân tích dự báo, vàng sẽ tiếp tục tăng trong tuần tới bất chấp việc Fed có thể tiếp tục cắt giảm gói QE3 tại phiên họp chính sách tới.

Trái với dự báo của nhiều nhà phân tích về một tuần giảm giá nữa của vàng, cú “lội ngược dòng” ngoạn mục trong các phiên cuối tuần đã giúp giá vàng thế giới vượt qua ngưỡng cản 1.300 USD/oz và có thêm hơn 9USD/oz trong tuần qua.
Trên thực tế, giá vàng cũng đã giảm khá mạnh trong những phiên đầu tuần do căng thẳng chính trị tại Ukraina có phần dịu bớt khi Nga và Mỹ nhất trí hợp tác để giải quyết vấn đề này. Trong khi nhưng số liệu kinh tế được công bố trong tuần tiếp tục khẳng định xu thế phục hồi vững chắc của kinh tế Mỹ. Theo đó, có thời điểm giá vàng thế giới đã rơi xuống sát 1.271 USD/oz, thấp nhất trong 10 tuần qua.
Tuy nhiên, căng thẳng chính trị tại Ukraina bất ngờ bùng phát trở lại đã thúc đẩy nhu cầu trú ẩn vào vàng, giúp giá vàng “lội ngược dòng” trong hai phiên cuối tuần để rồi đóng cửa ở mức 1.303,8 USD/oz, tăng 9,2 USD/oz. Giá vàng kỳ hạn tháng 6 cũng đóng cửa ở 1.300,8 USD/oz, tăng 8 USD/oz.
Đáng chú ý việc vàng đóng cửa ở trên ngưỡng cản kỹ thuật quan trọng là 1.300 USD đã làm thay đổi tâm lý của các nhà đầu tư và xu hướng của vàng.
Trung tâm kế toán thực hành Tại nam định
Trên thị trường trong nước, giá vàng SJC cũng biến động theo sát với diễn biến của giá vàng thế giới. Theo đó, giá vàng SJC đã giảm khá mạnh trong những ngày đầu tuần, thậm chí đã xuống đến 35,35 triệu đồng/lượng thời điểm mở cửa sáng thứ Tư.
Tuy nhiên, sự phục hồi của giá vàng thế giới cũng kéo giá vàng trong nước đảo chiều đi lên từ mức giá này và hiện đang dừng ở sát 35,6 triệu đồng/lượng. Tính chung tuần qua, giá vàng trong nước cũng đã tăng thêm hơn 100.000 đồng/lượng.
Căng thẳng tại Ukraina cộng thêm nhu cầu vàng vật chất có thể tăng do lễ hội Akshaya Tritiya của Ấn Độ, trong khi việc Fed có thể tiếp tục cắt giảm gói QE3 tại phiên họp sách sắp tới đã được dự báo trước… là những lý do khiến nhiều nhà phân tích nghiêng về khả năng vàng sẽ tiếp tục tăng trong tuần tới.
Theo cuộc khảo sát của Kitco với 33 thành viên thị trường, trong số 19 ý kiến phản hồi có tới 12 ý kiến cho rằng vàng sẽ tiếp tục tăng, trong khi chỉ có 4 ý kiến cho rằng vàng sẽ giảm và 3 ý kiến trung lập.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại biên hòa
Frank Lesh, nhà môi giới và phân tích hàng hóa tương lai của FuturePath Trading cho rằng, chỉ cần một bế tắc ngoại giao và chính trị là đủ để hỗ trợ vàng, trong khi hiện bạo lực đang leo thang tại Ukraina. Hơn nữa, sự phục hồi ấn tượng của vàng trong hai phiên cuối tuần cũng đang khiến các nhà đầu tư phấn khích.
Nhiều nhà phân tích cũng cho rằng, việc vàng đóng cửa tuần qua ở trên ngưỡng cản 1.300 đã làm thay đổi xu hướng của vàng trong ngắn hạn và cả tâm lý của các nhà đầu tư.
Tuy nhiên không phải ai cũng nghĩ như vậy. Ira Epstein, Giám đốc bộ phận Ira Epstein của Tập đoàn Linn cho rằng, giá vàng sẽ giảm trong tuần tới bởi xung đột tại Ukraina khó mà tiến xa hơn do châu Âu sẽ phải phải cân nhắc vấn đề nguồn cung năng lượng tại Nga.
dịch vụ làm báo cáo tài chính tại Quận Ba đình


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Cổ tức doanh nghiệp bảo hiểm: Không cao nhưng ổn định



Mùa đại hội năm nay, tại các doanh nghiệp (DN) bảo hiểm là công ty đại chúng dù niêm yết hay chưa, cổ tức chi trả dự kiến trình cổ đông có “kẻ tăng, người giảm”, nhưng mức độ biến động không nhiều.

Mức cổ tức được chi trả trong các năm 2013, 2014 quanh ngưỡng 10%.
Hai chiều cổ tức…
Giảm có Tổng Công ty cổ phần (CTCP) Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (Vinare), Tập đoàn Bảo Việt, Tổng CTCP Bảo hiểm Sài Gòn – Hà Nội (BSH). Tăng có CTCP PVI (PVI), Công ty Tái bảo hiểm PVI (PVI Re). Trong khi Tổng CTCP Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIC) và Tổng CTCP Bảo hiểm Bưu điện (PTI) giữ nguyên tỷ lệ trả cổ tức 10%, nhưng BIC trả bằng cổ phiếu thay vì tiền mặt như nhiều năm trước.
Dẫu giảm kế hoạch trả cổ tức năm 2014 từ 20% xuống 15%, nhưng Vinare vẫn là DN bảo hiểm đại chúng trả cổ tức cao nhất khi Tập đoàn Bảo Việt giảm tỷ lệ cổ tức từ 15% xuống 13%. BSH giảm từ 6% năm 2012 xuống 3,5% năm 2013.
Ở chiều ngược lại, một số DN như PVI Holdings… lại lên kế hoạch tăng cổ tức cho cổ đông, dù mức tăng không quá lớn.
Với PVI Holdings thì việc tăng cổ tức được áp dụng ngay trong năm 2013. Cụ thể, DN này đã quyết định dự chi thêm 22 tỷ đồng để tăng cổ tức cho cổ đông từ 9% như cam kết ban đầu lên 10%. Tuy nhiên, năm 2014, Công ty vẫn để kế hoạch trả cổ tức 9% bằng tiền mặt. Trong khi các năm từ năm 2012 trở về trước, PVI luôn duy trì đều đặn tỷ lệ 15% cổ tức bằng tiền.
Dẫu giữ nguyên mức trả cổ tức như năm 2013, nhưng với PTI, mức cổ tức năm nay cũng giảm so với các năm trước đó (12%).

… trong bài toán chia – giữ
Trung tâm kế toán thực hành Tại hải phòng
Theo lãnh đạo Vinare, năm 2014, Công ty dự kiến bổ sung vốn điều lệ 30% từ thặng dư phát hành và lợi nhuận chưa phân phối, nên cần thiết phải điều chỉnh tỷ lệ trả cổ tức từ 20% xuống 15%.
Tại PVI Re, năm 2014, Công ty đặt kế hoạch trả cổ tức 12%, trong khi năm 2013 là 3,5%. Tuy nhiên, tỷ lệ 12% không được nói rõ là trả theo hình thức nào, tiền mặt hay cổ phiếu.
Lãnh đạo PVI Re cho biết, nhiều khả năng Công ty sẽ chi trả cổ tức bằng tiền do kế hoạch lợi nhuận mà DN này đặt ra cho năm 2014 khá cao, 109 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 184,7% so với thực hiện năm 2013. Còn về mức cổ tức 3,5% trả cho năm 2013 thì thực chất chỉ là mức chi trả cho 3 tháng cuối năm 2013 do Công ty mới đi vào hoạt động.
Hay với PVI Holdings, với kế hoạch trả 9% cổ tức năm 2014, theo lãnh đạo DN này, nếu kế hoạch kinh doanh thay đổi do tình hình thực tế thì HĐQT cũng trình cổ đông ủy quyền phê duyệt kế hoạch kinh doanh điều chỉnh nhưng vẫn đảm bảo tỷ lệ chia cổ tức 9%. Năm 2014, Công mẹ- PVI Holdings đặt kế hoạch doanh thu 528 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 243 tỷ đồng.
Và câu chuyện cổ đông lớn
Nhìn vào mức cổ tức được chi trả trong các năm 2013, 2014 quanh ngưỡng 10%, có thể thấy tính ổn định tương đối trong hoạt động của các DN bảo hiểm. Cổ tức có tăng, có giảm nhưng hầu hết chỉ tăng/giảm không đáng kể. Chính bởi vậy, cổ phiếu DN bảo hiểm lâu nay vẫn được coi là địa chỉ tin cậy của các nhà đầu tư dài hạn.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức
Trong mùa đại hội cổ đông năm nay, trong số 8 DN bảo hiểm công bố kế hoạch tăng vốn là Bảo Việt, PJICO, Vinare, PTI, PVI Re, BSH, BIC và Bảo Long thì có 3 DN lên kế hoạch phát hành cho cổ đông chiến lược là Bảo Việt, BIC và PTI. Tính đến thời điểm nay, trong số các DN bảo hiểm đại chúng, có 5 DN đã có cổ đông chiến lược nước ngoài, đó là Bảo Minh (AXA), Bảo Việt (Sumitomo Life), PVI (Talanx, OIF), AAA (IAG) và GIC (ERGO).
Có thể thấy, tại các mùa đại hội cổ đông của DN bảo hiểm vài năm gần đây, do trong cơ cấu cổ đông chủ yếu là cổ đông lớn, cổ đông chiến lược nên với cái nhìn dài hạn, các cổ đông này không quá đặt nặng vấn đề cổ tức ít hay nhiều. Thậm chí, trước ngày diễn ra đại hội, các bên thường ngồi bàn trước, nên sự chất vấn của cổ đông với ban lãnh đạo DN ngay tại đại hội về việc cổ tức tăng hay giảm cũng không còn “nóng”.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại cầu giấy từ liêm


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Cổ đông nhỏ bị lép vế, nói nữa cũng … vậy thôi!



Mùa đại hội cổ đông (ĐHCĐ) ngân hàng năm nay chứng kiến nhiều phiên chất vấn nảy lửa của cổ đông về việc ngân hàng không chia cổ tức, cũng như không đồng tình với các chủ trương của hội đồng quản trị (HĐQT), Ban điều hành đưa ra.

SouthernBank không chia cổ tức 2013.
Tuy nhiên, kết quả cuối cùng vẫn được thông qua, cho dù các phản đối của cổ đông nhỏ vẫn còn gay gắt. Điều này cho thấy, cổ đông nhỏ đang bị lép vế và bị “ép” buộc nhiều hơn là sự tự nguyện.
Khó đảo ngược tình thế?
Tại ĐHCĐ thường niên 2014 của Sacombank, ngay trước khi khai mạc Đại hội đã có không ít cổ đông nhỏ tìm đến nguyên Chủ tịch HĐQT của Ngân hàng là ông Phạm Hữu Phú để bày tỏ nỗi bức xúc trong vấn đề Sacombank sáp nhập thêm SouthernBank. Trong phiên chất vấn HĐQT mới, vấn đề này cũng được rất nhiều cổ đông phản đối và nhiều cánh tay đã không giơ lên biểu quyết phương án sáp nhập. Nhưng kết quả tỷ lệ cổ phiếu sở hữu của cổ đông nhỏ, lẻ không thể “thắng” nổi người cầm quyền tại Sacombank.
Theo một nguồn tin đáng tin cậy, tỷ lệ cổ phần người cầm quyền tại nhà băng này khá lớn, có thể quyết định được tất cả mọi vấn đề. Vì thế, việc sáp nhập thêm Southern Bank không còn gì phải bàn cãi và việc đệ trình cổ đông thông qua cũng chỉ là hình thức.
Tại ĐHCĐ SouthernBank diễn ra chiều 16/4, nhiều cổ đông của ngân hàng này đã phẫn nộ khi nhiều năm liền không nhận được một đồng lợi tức, trong khi thù lao Ban lãnh đạo vẫn lên tới hàng tỷ đồng. Mức thù lao HĐQT, Ban Kiểm soát của SouthernBank trong năm 2013 được HĐQT trình là 14 tỷ đồng, cho dù lãi trước thuế của Ngân hàng chỉ 18 tỷ đồng, phần lợi nhuận để chia cổ tức là 2 tỷ đồng cho 1.800 cổ đông. Vì thế, HĐQT Ngân hàng đã trình cổ đông thông qua không chia cổ tức năm 2013.
Không ngồi ghế “nóng” Chủ tịch HĐQT, song ông Trầm Bê vẫn giữ vị trí chủ tọa đoàn tại ĐHCĐ SouthernBank năm nay. Ông Bê cho rằng, gia đình ông hiện vẫn là cổ đông lớn (chiếm hơn 20% cổ phần tại SouthernBank tính đến cuối năm 2013) tại Ngân hàng, nên cũng chịu thiệt thòi khi không có cổ tức. Nhưng theo ông Bê, kinh tế khó khăn, nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, thậm chí phá sản đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Nợ xấu tăng đòi hỏi SouthernBank phải trích dự phòng rủi ro cao để đảm bảo an toàn cho hoạt động, nên HĐQT và Ban điều hành không thể làm khác được.
Vì thế, cuối cùng ĐHCĐ của SouthernBank cũng phải thông qua tờ trình không chia cổ tức 2013, trong khi thù lao HĐQT, Ban Kiểm soát giữ nguyên 14 tỷ đồng.
Ngoài ra, Đại hội cũng thông qua việc kéo dài nhiệm kỳ của HĐQT thêm 1 năm bất chấp vẫn còn có những ý kiến phản đối của cổ đông.
Về phương án sáp nhập với Sacombank, theo ông Bê, đó là theo chủ trương tái cơ cấu hệ thống của Ngân hàng Nhà nước và tin tưởng phương án này sẽ có lợi cho cổ đông cho dù đến thời điểm này, thông tin về đề án cũng như tỷ lệ chuyển đổi cổ phiếu ra sao vẫn chưa được 2 bên tiết lộ. Trung tâm kế toán thực hành Tại bắc ninh

Không nên xem nhẹ cổ đông nhỏ
Mặc dù phản ứng gay gắt về cổ tức thấp, thù lao HĐQT cao hay không muốn về chung một nhà với ngân hàng khác, nhưng cuối cùng các vấn đề đều được thông qua. Bởi tiếng nói của cổ đông nhỏ – vốn được xem là “thấp cổ bé họng” vẫn không thể át được “quyền” của cổ đông có tỷ lệ sở hữu cổ phần lớn. Điều này được thể hiện khá rõ tại ĐHCĐ của cả Sacombank và SouthernBank.
Thực tế, trong các phiên chất vấn tại ĐHCĐ của các ngân hàng diễn ra gần đây, không phải bất cứ câu hỏi nào của cổ đông cũng được chủ tọa đoàn và các thành viên trong ban chủ tọa trả lời. Phần giải đáp cũng chưa đáp ứng được thắc mắc của cổ đông. Một cổ đông nhỏ của một ngân hàng bức xúc: “Chúng tôi thấp cổ bé họng, nhưng một năm chỉ được trao đổi với HĐQT, Ban lãnh đạo ngân hàng một lần, nên chúng tôi muốn được thông tin cụ thể, rõ ràng, trong khi phần thảo luận rất ngắn và trả lời toàn chung chung. Đầu tư cổ phiếu ngân hàng xem như trắng tay khi giá giảm mạnh, lại không cổ tức”.
Điều này cũng được lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước nhắc nhở các ngân hàng khi tham gia cuộc họp ĐHCĐ. Theo vị đại diện Ngân hàng Nhà nước, việc trả lời thắc mắc và chất vấn của cổ đông tại kỳ đại hội là chính đáng và cần được lãnh đạo các ngân hàng thông tin một cách rõ ràng, chi tiết.
“Cho dù nợ xấu cao, lợi nhuận thấp và cổ đông không còn cổ tức…, nhưng nếu được giải thích một cách cặn kẻ và rõ ràng để cổ đông có thể thấu hiểu, chia sẻ, cũng là điều rất cần thiết”, đại diện Ngân hàng Nhà nước phát biểu tại ĐHCĐ của một ngân hàng.
Luật Doanh nghiệp quy định, tất cả cổ đông phổ thông đều có quyền tham dự và biểu quyết mọi vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHCĐ. Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng Mỗi phiếu biểu quyết tương ứng với một cổ phần phổ thông. Như vậy, theo luật, đã là cổ đông, thì dù góp vốn nhiều hay ít đều có quyền tham dự và biểu quyết.
Trên thực tế, các công ty cổ phần hiện nay luôn tìm cách trốn tránh thực hiện điều này, nhất là khi kinh tế khó khăn, nhiều doanh nghiệp thua lỗ mất vốn… Trong khi các cổ đông nhỏ hy vọng có ý kiến để cải thiện, thay đổi một số chủ trương mà HĐQT đưa ra, cũng như có một cuộc họp hiệu quả, được nghe những kết quả báo cáo, kết quả kiểm toán, thì một số ban lãnh đạo doanh nghiệp lại tìm mọi cách hạn chế quyền của cổ đông nhỏ. Tuy nhiên, theo đánh giá của một thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ, một khi đã có xung đột lợi ích sẽ khó tránh được ngọn lửa bùng cháy bất cứ lúc nào. Vì thế, không nên coi thường cổ đông nhỏ.
dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại ba đình


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Mở room hút vốn ngoại



Dù chiếm tỷ trọng không lớn về số lượng tài khoản (hơn 16.700 tài khoản) nhưng nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) lại đóng góp khá lớn về giá trị giao dịch. Vì thế, tăng tỷ lệ sở hữu NĐTNN để thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam hấp dẫn hơn, đồng thời thu hút nhiều hơn dòng vốn ngoại đang là đòi hỏi cấp thiết.


Tăng tỷ lệ sở hữu NĐTNN để hút vốn ngoại.
Chạm trần room NĐTNN
Theo HOSE, từ năm 2011 đến nay, giao dịch của NĐTNN chiếm khoảng 15-18% tổng giao dịch toàn thị trường. NĐTNN tính chung trong các năm đều ở trạng thái mua ròng, thể hiện mức độ quan tâm nhất định đến TTCK Việt Nam. Chỉ tính trên HOSE, trong tổng vốn hóa hơn 842.100 tỷ đồng vào ngày 31/12/2013, NĐTNN nắm giữ 148.000 tỷ đồng, chiếm 17,5% (các năm trước đó ở mức trên 20%). Trong đó nhiều doanh nghiệp đã hoặc gần chạm mức trần sở hữu 49%.
Trong khi đó, TTCK Việt Nam đang bộc lộ một số hạn chế trong việc thu hút vốn đầu tư gián tiếp (FII). Đó là quy mô thị trường nhỏ đối với các NĐT quốc tế. Giá trị vốn hóa tại HOSE và HNX hơn 45 tỷ USD – nhỏ hơn nhiều so với TTCK trong khu vực như Thái Lan 460 tỷ USD, Indonesia 427 tỷ USD, Philippines 186 tỷ USD.
Các công ty lớn nhất trong nước tại thời điểm này chưa có vốn hóa vượt quá 5 tỷ USD so với các công ty trong khu vực vào khoảng 30 tỷ USD. Số lượng các công ty có vốn hóa lớn hơn 1 tỷ USD niêm yết tại HOSE là 8, trong khi Thái Lan có 23 công ty và giá trị giao dịch hàng ngày bình quân trên 10 triệu USD.
Bên cạnh giới hạn sở hữu của NĐTNN là 49% hoặc 30% đối với ngân hàng, việc tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng thấp càng làm TTCK Việt Nam kém hấp dẫn đối với NĐTNN. Tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng trung bình của các cổ phiếu trên HOSE 44,6%. Đặc biệt, có 3 doanh nghiệp lớn có tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng dưới 10% là VCB, CTG và BVH.
Theo HOSE, việc giới hạn sở hữu cho NĐTNN không chỉ làm giảm khả năng tiếp nhận dòng vốn của TTCK Việt Nam mà còn làm giá cả giao dịch thực tế giữa các NĐTNN kém minh bạch. Bởi tỷ lệ sở hữu của NĐTNN tại các công ty niêm yết được đánh giá tốt và triển vọng đã hoặc gần chạm ngưỡng tối đa, trong khi nhu cầu của họ khá lớn, nên để sở hữu các cổ phiếu này họ phải mua thông qua các giao dịch ngoài sàn với giá cao hơn trên sàn 20-30%.
Nới room là cần thiết
Theo Dragon Capital, hiện tỷ lệ vốn hóa toàn thị trường khoảng 56 tỷ USD, nhưng cổ phiếu có tỷ lệ tự do chuyển nhượng ở mức 45% là rất thấp. Với việc room cho NĐTNN ở mức 49%, tổng giá trị cổ phiếu (bất chấp tốt xấu) NĐTNN có thể mua khoảng gần 6 tỷ USD.
Còn nếu chỉ xét các công ty thỏa mãn điều kiện về vốn hóa và thanh khoản để được vào VN30, NĐTNN chỉ có thể mua được thêm tối đa 3,1 tỷ USD. Với quy mô và thanh khoản như vậy, TTCK Việt Nam thiếu hấp dẫn và không đủ khả năng hấp thụ mạnh dòng vồn FII dài hạn. Dragon khuyến nghị cần nâng từ 49% lên 100% cho quyền sở hữu của NĐTNN trong các doanh nghiệp tuân theo quy định của WTO.
Dịch vụ làm báo cáo tài chính tại quận cầu giấy TS. Vũ Nhữ Thăng, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (Bộ Tài chính), cho rằng cùng với quá trình hội nhập và thực hiện các cam kết WTO, việc nới lỏng tỷ lệ sở hữu của NĐTNN trên TTCK Việt Nam là cần thiết.
Việc sửa đổi Quyết định 55/2009/QĐ-TTg theo hướng nâng tỷ lệ tham gia của NĐTNN ở các công ty niêm yết lên mức tối đa 60% có thể giải quyết nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, cũng như góp phần thu hút vốn nước ngoài, nâng cao tính thanh khoản cho TTCK.
Trung tâm kế toán thực hành Tại hải phòng Tuy nhiên, việc nới lỏng tỷ lệ sở hữu của NĐTNN cần đi kèm một số biện pháp quản lý thận trọng, tránh việc thị trường quá phụ thuộc vào nguồn vốn này, đồng thời đảm bảo việc bảo hộ doanh nghiệp nội địa. Cụ thể tại Malaysia, Philippines, Brazil, Thái Lan vẫn cho phép NĐTNN được sở hữu cổ phần vượt quá giới hạn quy định nhưng phần vượt quá không được quyền biểu quyết. Do đó, có thể nghiên cứu nới lỏng tỷ lệ sở hữu của NĐTNN bằng cách cho doanh nghiệp phát hành thêm một tỷ lệ nhất định cổ phiếu không có quyền biểu quyết cho NĐTNN.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại biên hòa Việc nới room sẽ thay đổi cơ cấu cổ đông của các ngân hàng theo hướng tăng tỷ lệ sở hữu của NĐT tổ chức. Khi tỷ lệ sở hữu NĐT tổ chức tăng, năng lực quản trị của các ngân hàng nội sẽ được cải thiện theo hướng tốt hơn do tận dụng được kinh nghiệm của các đối tác nước ngoài.
Và khi tỷ lệ sở hữu NĐTNN tăng, tính minh bạch và hiệu quả trong hoạt động quản trị sẽ tăng theo, bởi lúc đó cổ đông tổ chức sẽ thực hiện việc giám sát ngân hàng chặt chẽ hơn. dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại tây hồ


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Lợi nhuận ngân hàng bao giờ chạm đáy?



“Tạm thoát” khỏi quy định nghiêm ngặt của Thông tư 02, các ngân hàng vẫn dè dặt trong kế hoạch lợi nhuận năm 2014.


Phần lớn các ngân hàng đã công bố lợi nhuận kế hoạch năm 2014 trong tài liệu Đại hội cổ đông. Thống kê từ 12 ngân hàng lớn nhất (không bao gồm Agribank) cho thấy, tổng lợi nhuận trước thuế sẽ tăng 7% sau khi giảm 2 năm liên tiếp.
Mức tăng trưởng này được đóng góp chủ yếu từ BIDV (13%) và EIB (118%). So với năm 2013, mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận của BIDV đã chậm lại gần 1 nửa (2013: 21%). Trong khi đó, EIB vừa trải qua một năm “sẩy chân” với lợi nhuận suy giảm 71%.
Hai ông lớn Vietcombank và Vietinbank đều đặt mục tiêu lùi với mức giảm -4% và -6%. Đây sẽ là năm thứ 3 liên tiếp Vietinbank giảm lợi nhuận trước thuế. Còn lợi nhuận của Vietcombank không biến động nhiều trong suốt 5 năm qua.
Dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại quận thanh xuân MBB và Sacombank là hai ngân hàng có quy mô lợi nhuận đứng ngay sau các ngân hàng nhà nước, cũng chỉ đặt mục tiêu tăng trưởng khiêm tốn 1 – 3% trong năm 2014. MBB đã giảm đà tăng trưởng trong 2 năm gần đây xuống mức 1 con số, so với mức trung bình 40% trong giai đoạn 2008 – 2012.
Ngược lại Sacombank sau cú sốc 2012, đã tăng trưởng mạnh trở lại năm 2013 (116%).
Mức tăng trưởng cao trong số các ngân hàng thống kê được ghi nhận ở nhóm sau bao gồm Techcombank, ACB, SHB. Cả ba nhà băng này đều đang nỗ lực lấy lại đà tăng trưởng sau giai đoạn khó khăn của thị trường ngân hàng.
Trung tâm kế toán thực hành Tại long biên VPBank là cái tên sáng nhất với mức tăng trưởng 40% cho năm 2014, sau khi đã tăng 59% năm ngoái. Ngân hàng này đã tiến rất nhanh để gia nhập nhóm có lợi nhuận khoảng 2.000 tỷ đồng, chỉ đứng sau các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước. Tính từ năm 2008, lợi nhuận của VPBank đã tăng gấp 10 lần.
Maritime Bank là cái tên đáng ngại nhất trong số 12 ngân hàng này, với mục tiêu lợi nhuận 36%, từ 411 tỷ đồng xuống 265 tỷ đồng. Ngân hàng này sẽ sáp nhập với Mekong Bank theo một đề án sáp nhập tự nguyện.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh Theo báo cáo của ban lãnh đạo MSB, lợi nhuận trước dự phòng của ngân hàng này vẫn sẽ tăng 20% trong năm 2014, tuy nhiên một khoản dự phòng lớn sẽ được sử dụng khiến cho lợi nhuận ngân hàng suy giảm mạnh. Đến cuối năm 2013, MSB có tổng dư nợ 46.000 tỷ và nợ xấu khoảng 2,7%. Ngân hàng không công bố báo cáo tài chính chi tiết để cho biết số tiền dự phòng đã trích lập.

LỢI NHUẬN TRƯỚC THUẾ VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG LỢI NHUẬN
dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại ba đình CỦA CÁC NGÂN HÀNG 2008 – 2014


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Giám sát chặt hàng TN-TX tại lối mở Co Sa



Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng vừa có công văn đề nghị UBND tỉnh Lạng Sơn quản lý chặt hàng hóa tạm nhập, tái xuất tại lối mở Co Sa thuộc KKT cửa khẩu Chi Ma.


Hàng hóa chờ thông quan tại lối mở Co Sa. Ảnh: internet.
Theo Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, từ tháng 1-2014 có 7 DN nhập quặng từ Trung Quốc qua lối mở Co Sa sau đó tái xuất đi nước thứ ba. Để các hoạt động trên đúng quy định pháp luật, đảm bảo an ninh trật tư khu vực biên giới, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đề nghị UBND tỉnh Lạng Sơn trao đổi với các bộ, ngành liên quan về việc NK quặng từ Trung Quốc qua lối mở Co Sa.
Dịch vụ làm báo cáo tài chính tại quận thanh xuân Theo Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, UBND tỉnh Lạng Sơn chỉ nên lựa chọn 1 DN có đầy đủ cơ sở về pháp lý, năng lực hoạt động XNK, có bến bãi, cơ sở hạ tầng tại cửa khẩu, lối mở và trực tiếp ký hợp đồng tạm nhập, tái xuất với công ty, đối tác nước ngoài; Không để lợi dụng việc XK, NK để XNC trái phép, buôn lậu, gian lận thương mại gây mất trật tự khu vực cửa khẩu, biên giới.
Trung tâm kế toán thực hành Tại hải phòng Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng cho rằng, UBND tỉnh Lạng Sơn cần tiếp tục đầu tư xây dựng hệ thống đường giao thông, cơ sở hạ tầng cho các lực lượng làm nhiệm vụ tại lối mở, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu của hoạt động quản lý nhà nước.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng Cũng tại Công văn này, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng yêu cầu Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Lạng Sơn phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng như: Hải quan, Công an kiểm tra, kiểm soát, giám sát quản lý chặt các hoạt động tại lối mở, đảm bảo công tác an ninh trật tự. dịch vụ làm báo cáo tài chính tại Quận Hà Đông


Read More Add your Comment 0 nhận xét


AEC và thách thức mở cửa thị trường



ASEAN hiện là thị trường XK lớn thứ 3 của Việt Nam, sau Mỹ và EU. Khi Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chính thức được thành lập vào năm 2015, cơ hội cho DN Việt Nam XK sang thị trường này càng lớn. Tuy vậy, việc giảm thuế về 0% cũng đang tạo ra những thách thức không nhỏ trong việc gia tăng XK vào thị trường ASEAN.


Gạo là mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn khi xuất khẩu sang ASEAN. Ảnh: PHAN THU.
Lợi thế hàng nông sản
Theo thống kê của Vụ Thị trường châu Á, Thái Bình Dương (Bộ Công Thương), kim ngạch thương mại của Việt Nam và ASEAN đã tăng gần 4 lần, từ khoảng 9 tỷ USD năm 2003 lên gần 40 tỷ USD vào năm 2013. Năm 2013 ASEAN là thị trường XK lớn thứ 3 của Việt Nam chỉ đứng sau Mỹ và EU với kim ngạch đạt 18,47 tỷ USD, tăng 4,4% so với năm trước đó. Ba tháng đầu năm nay, ASEAN tiếp tục duy trì vị trí này với kim ngạch ước đạt 4,7 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm ngoái.
Hiện nay, trong khối ASEAN, Việt Nam tham gia ký kết Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) và Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), trong đó, Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN quy định rõ số dòng thuế được lùi thời hạn xóa bỏ thuế quan đến năm 2018 với nhóm nước Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam. Bà Phạm Thị Hồng Thanh, Hàm Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Á, Thái Bình Dương cho biết, các mặt hàng XK sang ASEAN rất đa dạng như gạo, dầu thô, xăng dầu, sắt thép, điện thoại, phụ tùng, linh kiện…, trong đó 2 mặt hàng XK có kim ngạch và tỷ trọng lớn nhất là dầu thô (thường chiếm tỷ trọng xung quanh mức 40%) sau đó là gạo (chiếm tỷ trọng trên 10%).
Như vậy có thể thấy rằng, XK của Việt Nam sang ASEAN chủ yếu là nông sản, hải sản và khoáng sản thô, sơ chế có giá trị thấp, hàm lượng giá trị gia tăng không cao. Những mặt hàng này tuy hầu hết đều được hưởng thuế NK ưu đãi CEPT tại các nước NK nhưng do có giá trị thấp, giá cả phụ thuộc vào biến động trên thế giới, nên kim ngạch XK không ổn định. Trừ linh kiện điện tử và vi tính, hàng công nghiệp tiêu dùng có hàm lượng chế biến và giá trị gia tăng như may mặc, giày dép… chỉ chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng kim ngạch XK sang ASEAN.

Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam – ASEAN
Cơ hội gia tăng XK
Cuối năm 2015, AEC sẽ được hình thành, nếu tận dụng tốt các ưu đãi thuế quan trong thương mại với các nước AEC, Việt Nam sẽ có cơ hội lớn để XK các mặt hàng chủ lực như dệt may, gạo, thủy sản, linh kiện điện tử… sang các nước ASEAN. Bà Thanh dự báo, trước thềm AEC (năm 2015), XK của Việt Nam sang thị trường ASEAN sẽ tiếp tục duy trì mức tăng trưởng ổn định nhờ hưởng ưu đãi thuế quan với tổng số trên 99% dòng thuế của ASEAN 6 (gồm Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan) sẽ về mức 0% vào năm 2015. “Đây sẽ là một cơ hội lớn để Việt Nam cải thiện cán cân thương mại”, bà Thanh nói.
Trung tâm kế toán thực hành Tại hải phòng Tuy nhiên, theo ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục XNK (Bộ Công Thương), khi AEC được hình thành, thuế suất hàng hóa dần về 0%, khi đó các nước trong ASEAN trở thành một thị trường, hàng hóa lưu chuyển từ Việt Nam sang các nước gần không còn chênh lệch về giá, chỉ còn chi phí vận tải. DN là chủ thể quan trọng trong việc xây dựng AEC nhưng có tới gần 80% DN được hỏi chưa biết rõ hết về lợi ích mà ASEAN mang lại cũng như thách thức đặt ra. Đây là thách thức lớn với các DN khi AEC hình thành.
Bên cạnh việc thuế suất giảm về 0% ông Hải cho rằng vẫn có nhiều khó khăn về hàng rào thương mại. Ví dụ như quy tắc xuất xứ, khi chúng ta không đáp ứng được quy tắc xuất xứ thì thuế suất giảm cũng trở nên vô nghĩa, tức là hàng hóa không được hưởng ưu đãi 0%. Muốn được hưởng ưu đãi thuế thì ít nhất 40% hàm lượng của sản phẩm phải được sản xuất trong khu vực ASEAN.
Nâng sức cạnh tranh
Để tận dụng hiệu quả cơ hội từ AEC, theo ông Hải, DN Việt Nam phải đáp ứng các tiêu chí về quy tắc xuất xứ. Chủ động xây dựng năng lực sản xuất, kinh doanh, cải thiện chất lượng, mẫu mã sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh và xây dựng thương hiệu, hình ảnh.
Còn theo bà Thanh, trong ngắn hạn, DN Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh XK sang ASEAN những mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch XK như: Điện thoại các loại và linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; phương tiện vận tải và phụ tùng; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác, sắt thép các loại, gạo…
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng Ngoài ra, DN Việt Nam cần tận dụng ưu thế XK sang thị trường Lào, Campuchia thông qua các bản thỏa thuận ưu đãi thuế suất thuế NK với Lào, thỏa thuận thúc đẩy thương mại song phương với Campuchia.
Đặc biệt, để có chỗ đứng trên thị trường các nước, hàng hóa Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt với hàng hóa của các nước khác trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là hàng hóa của Thái Lan và Trung Quốc vốn có những lợi thế lớn về giá cả, chất lượng và từ lâu đã chiếm lĩnh thị trường. Do đó, việc đổi mới mặt hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sẽ giúp các DN nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, dần chiếm lĩnh sự quan tâm của người tiêu dùng.
Dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại quận thanh xuân Các DN cũng được khuyến cáo cần tăng tỷ lệ nội địa hóa nguyên phụ liệu của ngành và giảm thiểu phụ thuộc vào các nhà cung cấp nước ngoài; tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ; đầu tư vào các vùng trồng cây nguyên liệu, cần phát triển mối quan hệ hợp tác với các nhà sản xuất nước ngoài có công nghệ tiên tiến; quan tâm đào tạo nguồn lực đáp ứng nhu cầu phát triển thị trường; xây dựng chiến lược phát triển liên kết nội khối tạo chuỗi sản xuất lớn để có khả năng nhận những đơn hàng lớn. dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại hoàn kiếm


Read More Add your Comment 0 nhận xét


4 tháng đầu năm 2014, xuất siêu bằng 1,5% kim ngạch xuất khẩu



Kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đầu năm ước đạt 45,74 tỷ USD, tăng trưởng 16,9% so với cùng kỳ năm 2013. Kim ngạch nhập khẩu tăng 13,7%, ước đạt gần 45,1 tỷ USD. Tính chung 4 tháng 2014 xuất siêu khoảng 683 triệu USD, bằng 1,5% kim ngạch xuất khẩu. Trong đó, khối các doanh nghiệp trong nước nhập siêu hơn 3,4 tỷ USD, khối các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu gần 4,1 tỷ USD. Xuất siêu cả nước ước 683 triệu USD, bằng khoảng 1,5% kim ngạch xuất khẩu. Đây là kết quả tích cực của hoạt động xuất khẩu những tháng đầu năm 2014.


Kim ngạch xuất khẩu tăng…
Tính chung 4 tháng năm 2014 ước đạt 45,74 tỷ USD, tăng 16,9% so với cùng kỳ năm 2013 (tương đương với tăng 6,61 tỷ USD), trong đó KNXK của khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 15,38 tỷ USD, chiếm 33,6% tổng KNXK của cả nước, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm ngoái; KNXK của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) ước đạt 30,35 tỷ USD, chiếm 66,4% tổng KNXK của cả nước, tăng 17,2%, nếu không kể dầu thô KNXK của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt gần 28,24 tỷ USD tăng 20,1% so với cùng kỳ năm 2013. Tính riêng háng 4, kim ngạch xuất khẩu (KNXK) ước đạt 12,2 tỷ USD, giảm 0,6% so với tháng 3 và tăng 23,2% so với tháng 4 năm 2013, trong đó: xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt 7,5 tỷ USD, giảm 0,1% so với tháng 3 và tăng 24,2% so với tháng 4 năm 2013.
Trong đó, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng xuất khẩu, chiếm hơn 70% kim ngạch tăng thêm (Kim ngạch của khu vực FDI (không kể dầu thô) tăng khoảng 4,7 tỷ USD trên tổng kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2014 của cả nước tăng thêm 6,6 tỷ USD so với cùng kỳ). Các mặt hàng có kim ngạch lớn gồm: điện thoại các loại và linh kiện (chiếm 99,6% tổng kim ngạch mặt hàng này của cả nước); máy vi tính linh kiện và điện tử (98,4%); giầy dép (76,7%); hàng dệt may (60%)…
Bên cạnh đó, nhóm hàng công nghiệp chế biến vẫn giữ vai trò quan trọng góp phần vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chung. Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này tăng trưởng khoảng 19,4% so với cùng kỳ. Đóng góp chủ yếu cho nhóm hàng này gồm: hàng dệt may, hàng giày dép, gỗ và sản phẩm gỗ là các mặt hàng có kim ngạch lớn và đều có tốc độ tăng trưởng trên 20%. Nhóm hàng nông sản, thủy sản tăng 14% với sự tăng trưởng khá cao của các mặt hàng thủy sản (32%), cà phê (29,5%), hạt tiêu (41,3%), rau quả (23%). Nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản giảm 10,5% với sự sụt giảm cả về lượng và kim ngạch của dầu thô và than đá.
Xuất khẩu nhóm hàng nông lâm thủy sản tăng 13,2% so với cùng kỳ với nhiều mặt hàng có mức tăng khá tuy nhiên giá xuất khẩu hai mặt hàng thế mạnh là cao su và cà phê giảm so với cùng kỳ.
Biểu đồ: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC
VÀ DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI


Xét về giá: 4 tháng năm 2014 giá bình quân xuất khẩu của một số mặt hàng tăng như: nhân điều tăng 1,1%; chè tăng 0,7%; hạt tiêu tăng 3,7%; gạo tăng 2,1%; than đá tăng 6,4%; dầu thô tăng 0,1%; xăng dầu tăng 1,0%; quặng và khoáng sản khác tăng 89,6%; Clanhke và xi măng tăng 1,1%; xơ, sợi dệt các loại tăng 1,7%… Một số mặt hàng có giá bình quân giảm như: cà phê giảm 6,9%; sắn và các sản phẩm từ sắn giảm 1,1%; cao su giảm 24,9%; phân bón các loại giảm 0,4%; chất dẻo các loại giảm 5,3%; sắt thép các loại giảm 9,0%… Do ảnh hưởng của giá xuất khẩu đã làm kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng nông sản giảm khoảng 207 triệu USD; nhóm nhiên liệu, khoảng sản tăng khoảng 97 triệu USD. Tính chung 2 nhóm mặt hàng do giá xuất khẩu giảm đã làm giảm 110 triệu USD KNXK.
Xét về lượng: Tính chung 4 tháng năm 2014, lượng một số mặt hàng xuất khẩu tăng so với cùng kỳ, cụ thể: nhân điều tăng 15,3%; cà phê tăng 39,1%; hạt tiêu tăng 36,3%; xăng dầu các loại tăng 5,4%; Clanhke và xi măng tăng 44,2%; chất dẻo nguyên liệu tăng 13,4%; xơ, sợi các loại tăng 22,0%; sắt thép các loại tăng 19,3%… Một số mặt hàng xuất khẩu giảm như: chè các loại giảm 11,0%; gạo giảm 3,7%; sắn và các sản phẩm từ sắn giảm 16,1%; cao su giảm 14,8%; than đá giảm 30,4%; dầu thô giảm 11,0%; quặng và khoáng sản khác giảm 61,8%; phân bón các loại giảm 16,0%…
Xét về thị trường: 4 tháng năm 2013, xuất khẩu sang hầu hết các khu vực thị trường đều tăng (trừ một số nước Tây Âu, Đông Âu và Bắc Âu giảm 7,5%). Thị trường Châu Á ước tăng 13,6%, trong đó khu vực các nước Đông Á tăng cao nhất (tăng 20,0%), tiếp đó là thị trường các nước Tây Á (tăng 12,3%), Đông Nam Á (tăng 3,3%) và Trung Nam Á (tăng 1,8%). Thị trường Châu Âu tăng 12,1%, trong đó, hầu hết các nước có KNXK tăng trưởng khá (Ailen tăng 9,1%, Bỉ tăng 57,3%, Đan Mạch tăng 8,4%, Italia tăng 26,9%, Pháp tăng 18,8%, Tây Ban Nha tăng 23,9%, Thụy Điển tăng 9,3%, Cộng hòa Séc tăng 31,8%, Latvia tăng 35,2%, Ba Lan tăng 46,8%, Slovakia tăng 11,8%…), tuy nhiên, một số nước có KNXK giảm như: Anh giảm 1,7%, Bồ Đào Nha giảm 7,5%, Phần Lan giảm 5,6%. Thị trường Châu Mỹ ước tăng 27,8%, trong đó Hoa Kỳ tăng 26,8%, tăng cao nhất là Braxin tăng 49,0%. Thị trường Châu Phi ước xuất khẩu tăng 14,1%, trong đó, xuất khẩu sang một số thị trường giảm mạnh như: Ăngôla giảm 46,3%, Bờ biển Ngà giảm 66,4%.
Biểu đồ: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU THEO THỊ TRƯỜNG (Tr USD)
Dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại quận cầu giấy
Và kiểm soát tốt những mặt hàng cần hạn chế
Trong 4 tháng vừa qua, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt gần 45,1 tỷ USD, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm 2013. Kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt gần 26,3 tỷ USD, tăng 18,2%, chiếm tỷ trọng 58,3% tổng KNNK cả nước; Kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt gần 18,86 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 41,7% tổng KNNK cả nước, tăng 8,0% so với cùng kỳ năm 2013. Tính riêng tháng 4, kim ngạch nhập khẩu (KNNK) hàng hoá ước đạt 12,6 tỷ USD, tăng 1,0% so với tháng 3 và tăng 16,1% so với tháng 4 năm 2013, trong đó: kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước 7,4 tỷ USD, tương đương tháng 3 và tăng 22,8% so với tháng 4 năm 2013.
Xét về giá: so với cùng kỳ, giá nhập khẩu bình quân của một số mặt hàng tăng, cụ thể: hạt điều tăng 14,1%; Quặng và khoáng sản khác tăng 6,8%; khí đốt hóa lỏng tăng 3,3%; chất dẻo nguyên liệu tăng 3,5%; bông các loại tăng 2,6%… Bên cạnh đó, giá nhập khẩu bình quân của một số mặt hàng giảm: lúa mỳ giảm 13,3%; ngô giảm 24,1%; đậu tương giảm 3,7%; dầu thô giảm 1,5%; xăng dầu các loại giảm 0,3%; phân bón giảm 12,3%; cao su các loại giảm 12,5%; giấy giảm 5,9%; sắt thép các loại giảm 6,1%; kim loại thường khác giảm 0,9%; phế liệu sắt thép giảm 7,1%…
Trung tâm kế toán thực hành Tại bắc ninh Xét về lượng: những mặt hàng tính được về lượng nhập khẩu tăng cao so với cùng kỳ là lúa mỳ tăng 40,1%, ngô tăng 211,6%, đậu tương tăng 56,3%, quặng và khoáng sản khác tăng 21,0%, xăng dầu các loại tăng 13,3%, khí đốt hóa lỏng tăng 9,4%, giấy các loại tăng 18,6%, bông các loại tăng 27,6%, xơ, sợi dệt các loại tăng 11,2%, kim loại thường tăng 18,1%, ô tô nguyên chiếc các loại (trừ xe dưới 9 chỗ) tăng 89,8%… Trong khi đó, một số mặt hàng lượng nhập khẩu giảm như: hạt điều giảm 14,9%, dầu thô giảm 81,3%, phân bón giảm 5,5%, thép các loại giảm 1,6%…
Biểu đồ: NHẬP KHẨU PHÂN THEO NHÓM HÀNG 4 THÁNG NĂM 2014

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng Xét về thị trường: KNNK từ Châu Á vẫn chiếm tỉ trọng lớn nhất trong số các thị trường nhập khẩu của cả nước chiếm 79,8%. Trong đó, KNNK từ ASEAN chiếm hơn 16,2%, các nước Đông Á chiếm 59,2%, riêng Trung Quốc chiếm gần 27,5% trong tổng KNNK của cả nước. Về tốc độ tăng, trong 4 tháng đầu năm nhập khẩu từ thị trường Châu Mỹ tăng 38,0%, trong đó nhập khẩu từ Mỹ tăng 30,8%, tiếp đến là Châu Phi tăng 29,7%, Châu Đại Dương tăng 29,3%, Châu Á tăng 12,0%. Nhập khẩu từ Châu Âu giảm 13,3%, trong đó nhập khẩu từ Ailen, Đức, Nga, Ucraina.. giảm mạnh so với cùng kỳ (giảm trên 20,0%). Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng cần cho sản xuất, tiêu dùng trong nước cũng như các mặt hàng nhập khẩu phục vụ gia công, xuất khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng 88,5% tổng kim ngạch nhập khẩu. Nhiều nhóm hàng nguyên liệu được đẩy mạnh lượng nhập khẩu khi giá nhập khẩu có xu hướng giảm.
Nhóm hàng cần kiểm soát và hạn chế nhập khẩu được kiểm soát tốt. Tuy nhiên, kim ngạch nhập khẩu một số nhóm hàng như điện thoại di động, ô tô nguyên chiếc dưới 9 chỗ cũng có mức tăng khá cao so với cùng kỳ. dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại ba đình


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Cần liên kết giữa khu vực kinh tế trong nước và khu vực FDI



Chuyển giá không những gây thất thu thuế cho nhà nước mà còn gây bất lợi cho các DN làm ăn chân chính. Đây là mối nguy hại tiềm ẩn rất lớn đối với nền kinh tế Việt Nam.


TS Phạm Hùng Tiến, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Phóng viên Báo Hải quan phỏng vấn TS Phạm Hùng Tiến, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội – người có nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy liên quan đến lĩnh vực kinh doanh quốc tế, đặc biệt có nhiều nghiên cứu về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Một báo cáo công tác của Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) cho hay, qua tổng hợp số liệu của hơn 300 nghìn DN nộp tờ khai tạm tính thuế TNDN năm 2013, cho thấy DN FDI lỗ 68.203 tỉ đồng, tỉ lệ tăng lỗ cao nhất là 37,6%. Ông có đánh giá gì về con số này?
Rõ ràng là có hiện tượng chuyển giá, bởi hầu hết các DN đầu tư nước ngoài không triển khai hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm công nghệ tại Việt Nam. Điều này thể hiện đang tồn tại những khoảng trống giữa năng lực quản lí thuế tại các Chi cục thuế và nhu cầu chống chuyển giá đối với các DN FDI có giao dịch liên kết và liên tục khai lỗ. Đồng thời, công cuộc chống chuyển giá đang là một nhiệm vụ bức thiết không chỉ của Tổng cục Thuế trong việc xây dựng một môi trường kinh doanh bình đẳng.

Theo nghiên cứu của ông, chuyển giá xuất hiện ở Việt Nam từ bao giờ?
Ở Việt Nam, hoạt động chuyển giá bắt đầu diễn ra từ những năm 1990 do hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài diễn ra theo chiều ngang để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của người dân, nhiều ngành hàng sản xuất đã ra đời trong thời gian này (điện tử, ô tô, xe máy…). Nhất là khi Luật Đầu tư nước ngoài ban hành lần đầu có hiệu lực (tháng 1-1988), các ưu đãi đầu tư hầu như không còn, việc chuyển giá ở một số DN FDI mới lộ rõ bản chất lách luật và trốn thuế.
Có một đặc điểm là, việc chuyển giá với mục đích lách luật, trốn thuế diễn ra khá dễ dàng và xảy ra chủ yếu ở hai nhóm đối tượng: Thứ nhất là các DN đến từ các nền kinh tế có thuế TNDN thấp hơn Việt Nam và tập trung ở các DN có hàm lượng công nghệ thấp và thiếu chiến lược kinh doanh; thứ hai là các DN sản xuất cung ứng hàng tiêu dùng có thương hiệu nổi tiếng.
Mặc dù có nhiều nỗ lực, nhưng theo ông vì sao công tác chống chuyển giá chưa thể thực hiện thành công?
Việc xác định đúng giá thành sản xuất trên bình diện quốc tế là vấn đề phức tạp không chỉ đối với Việt Nam mà ngay cả với các quốc gia đã phát triển.
Trong những năm vừa qua, công tác chống chuyển giá trong khu vực FDI tại tất cả 63 địa phương trong nước đã đạt được những thành công ban đầu. Số lượng DN bị thanh tra hoặc kiểm tra lại tăng dần theo các năm, riêng năm 2013 vừa qua là trên 2.100 DN. Tuy nhiên, với sự gia tăng hội nhập kinh tế quốc tế thì hoạt động quản lí thuế cũng bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục cấp bách. Năm 2011, ở Việt Nam mới có một trường hợp duy nhất thành công trong việc chống chuyển giá, đó là phát hiện và xử lí hành vi gian lận của nhà đầu tư Đài Loan thu mua và chế biến chè XK tại Lâm Đồng. Nhưng để đạt được kết quả như vậy, địa phương này đã phải áp dụng biện pháp hành chính, chứ không phải dùng công cụ giá giao dịch độc lập để tìm ra giá XK chè.
Một nguyên nhân khác, do phải tập trung giải quyết việc làm cho người lao động và nhu cầu vốn, công nghệ nước ngoài để đưa nền kinh tế mau chóng thoát khỏi trình độ lạc hậu, trong thời gian qua vấn đề chuyển giá chưa được các cơ quan quản lí trong nước quan tâm nhiều. Hơn nữa, một số DN nước ngoài cũng vận dụng những hành vi có biểu hiện chuyển giá ngày càng tinh vi, ví dụ như thông qua chi trả lãi vay góp vốn kinh doanh với mức lãi suất cao bất thường.
Vậy làm thế nào để phát hiện ra một DN có hành vi chuyển giá, thưa ông?
Hiện tượng chuyển giá tồn tại ở khắp nơi và dưới nhiều hình thức, thông thường các cơ quan Thuế giám sát vấn đề dựa trên nguyên tắc xác định giá thị trường hay còn gọi là nguyên tắc so sánh bên ngoài. Tuy nhiên, việc xác định giá chuyển giao nội bộ cần nhìn vào chuỗi giá trị gia tăng của chi tiết, sản phẩm đó. Chẳng hạn, đối với một chi tiết sản xuất ở Việt Nam rồi xuất sang Hàn Quốc, chúng ta cần xem chi tiết đó nằm trong một sản phẩm gồm tổng thành bao nhiêu chi tiết, bán bao nhiêu tiền, sâu hơn nữa là những chi tiết đó được sản xuất ở những khu vực nào trên thế giới…
Dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại quận tại từ liêm So sánh giữa tổng chi phí đầu vào với giá bán ra có thể nhận thấy có hiện tượng chuyển giá hay không. Nếu chi phí đầu vào lớn hơn nhiều lần so với giá bán, chắc chắn hiện tượng chuyển giá đã được thực hiện. Ví dụ, giá thành 1kg trà thành phẩm sau chế biến tại Lâm Đồng thường dao động từ 8-9 USD, nhưng DN XK khai bán với giá chỉ từ 2,8-4 USD/kg, tức là đã chuyển giá nhằm chuyển lợi nhuận về cho DN mua hàng.
Theo ông để giải quyết “tận gốc” vấn đề chuyển giá, cơ quan quản lí phải làm gì?
Trước mắt hỗ trợ thông tin tối đa để các DN trong nước có thể tham gia vào các chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu, từ đó chủ động ngăn chặn ý đồ thực hiện hành vi chuyển giá của nhà đầu tư nước ngoài. Song song với đó cần xây dựng chiến lược dài hạn để giải quyết “tận gốc” vấn đề chuyển giá, theo hướng tạo dựng được mối liên kết giữa khu vực kinh tế trong nước (bao gồm khu vực kinh tế Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân) với khu vực kinh tế FDI, không chỉ liên kết về mặt kinh tế, mà còn liên kết với nhau về các mặt văn hóa, giáo dục, đào tạo…
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh Mạng lưới liên kết đó giống như mô hình của hợp tác xã. Hợp tác xã không làm tất cả nhưng hợp tác xã sẽ làm tất cả những gì hội viên cần đến. Thông qua đó, các dịch vụ chung hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của các DN FDI được cung cấp, trong đó có sự tham gia của DN trong nước. Nếu các bên hay các nhóm lợi ích thiết kế được mô hình như vậy thì sẽ tăng mức độ trao đổi giữa các thành viên trong mạng lưới liên kết. Qua đó, các bên sẽ hiểu biết lẫn nhau dựa trên sự tin cậy. Đầu tiên là sử dụng một dịch vụ chung, sau đó sẽ sử dụng những dịch vụ của người trong mạng lưới đó cung cấp ra. Nếu những dịch vụ đó đem lại cho DN nhiều lợi ích thì có thể DN không phải dùng đến biện pháp chuyển giá nữa.
Xin cảm ơn ông!
Trung tâm kế toán thực hành Tại bắc ninh  So sánh giữa tổng chi phí đầu vào với giá bán ra có thể nhận thấy có hiện tượng chuyển giá hay không. Nếu chi phí đầu vào lớn hơn nhiều lần so với giá bán, chắc chắn hiện tượng chuyển giá đã được thực hiện. Ví dụ, giá thành 1kg trà thành phẩm sau chế biến tại Lâm Đồng thường dao động từ 8-9 USD, nhưng DN XK khai bán với giá chỉ từ 2,8-4 USD/kg, tức là đã chuyển giá nhằm chuyển lợi nhuận về cho DN mua hàng. dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại hoàng mai


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường EU



Ngày 13-5, tại TP.HCM, Phái đoàn EU tại Việt Nam và Chi nhánh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tại TP.HCM (VCCI TP.HCM) phối hợp tổ chức Diễn đàn DN Việt Nam- EU.


Quang cảnh diễn đàn. Ảnh: Nguyễn Huế
Diễn đàn DN Việt Nam – EU là sự kiện thường niên được tổ chức nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa DN hai bên, giúp DN Việt Nam cập nhật thông tin về môi trường kinh doanh, quan hệ thương mại và đầu tư song phương Việt Nam – EU. Diễn đàn lần này diễn ra trong khuôn khổ tuần lễ châu Âu tại Việt Nam.
Ông Võ Tân Thành, Giám đốc Chi nhánh VCCI tại TP.HCM cho biết, trong những năm qua với nỗ lực của Chính phủ, cộng đồng DN Việt Nam và EU, quan hệ hợp thương mại và hợp tác đầu tư giữa Việt Nam và EU đã liên tục tăng trưởng. Từ năm 2012, EU đã vượt qua Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu (XK) lớn nhất và là đối tác thương mại thứ hai của Việt Nam. Năm 2013, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam- EU đạt 33,6 tỉ USD, trong đó XK của Việt Nam sang EU đạt 24,4 tỉ USD, nhập khẩu từ EU đạt 9,2 tỉ USD. Các nhóm hàng XK chủ lực của Việt Nam sang EU là giày dép, dệt may, cà phê, đồ gỗ, hải sản.
Dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại quận thanh xuân Về lĩnh vực đầu tư, EU là một trong những nhà đầu tư trực tiếp lớn nhất vào Việt Nam. Tính đến hết năm 2013 EU có 1.402 dự án đầu tư trực tiếp vào Việt Nam còn hiệu lực, với tổng vốn lũy kế đăng kí là 18.024 tỉ USD. Số vốn FDI cam kết của EU tại Việt Nam năm 2013 là trên 656 triệu USD, đứng thứ 6 trong các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Các nhà đầu tư EU đã có mặt tại hầu hết các ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, tập trung nhiều nhất vào công nghiệp, xây dựng và một số ngành dịch vụ.
Hiện EU là nhà tài trợ song phương lớn thứ 2 của Việt Nam với tổng vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) bao gồm các khoản viện trợ và cho vay ưu đãi cam kết giai đoạn 2007-2013 là 7,2 tỉ USD, trong đó có 43% là viện trợ không hoàn lại.
Trung tâm kế toán thực hành Tại bắc ninh Theo nhận định của các chuyên gia tại diễn đàn, quan hệ thương mại Việt Nam- EU trong thời gian vừa qua có nhiều động thái tích cực. Bắt đầu từ đầu năm nay, EU đã áp dụng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) cho hàng XK Việt Nam, tạo thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam có sức cạnh tranh hơn khi tiếp cận thị trường EU. Hiện quá trình đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU FTA đã diễn ra đến vòng thứ 7 và dự kiến sẽ kết thúc vào cuối năm 2014.
Hiệp định khi được kí kết sẽ tạo ra một khuôn khổ và hành lang pháp lí rõ ràng, giúp DN có được định hướng lâu dài để xây dựng các chiến lược kinh doanh dài hạn. Với các DN XK mối quan tâm hàng đầu là vấn đề cơ hội tiếp cận thị trường. Tuy nhiên, quá trình hội nhập kinh tế đòi hỏi bản thân từng DN cũng như nền kinh tế phải nâng tầm để thích ứng với những khuôn khổ thể chế và luật chơi chung nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh, biến thách thức thành cơ hội.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức Nhằm hỗ trợ các DN tiếp cận tốt thị trường quan trọng này, tại diễn đàn ngoài bài thuyết trình về FTA Việt Nam – EU, cơ hội và thách thức cho các DN Việt Nam, các chuyên gia trong và ngoài nước còn cung cấp những thông tin về hệ thống phân phối của thị trường EU, các công cụ hỗ trợ XK vào EU, hàng rào kĩ thuật và những vấn đề DN cần lưu ý khi XK vào thị trường này. dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại ba đình


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Yên Bái: Số thu 4 tháng tăng 74% so với cùng kỳ



4 tháng đầu năm, tỉnh Yên Bái đã có nhiều giải pháp tạo điều kiện tốt nhất để các dự án đầu tư phát huy hiệu quả. Nhờ đó, tổng vốn đầu tư phát triển toàn tỉnh đạt 966,5 tỷ đồng, tăng 0,19% so với cùng kỳ năm 2013.
Quan trọng hơn, UBND tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 42 DN thành lập mới, tổng vốn đăng ký 1.052,7 tỷ đồng; cấp mới Giấy chứng nhận đầu tư cho 09 dự án và Giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh cho 8 dự án với tổng vốn đăng ký 762,7 tỷ đồng và 12 triệu USD. Thêm vào đó, khi tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn ước đạt 2.097,8 tỷ đồng, bằng 23,4% kế hoạch năm, tăng 12% so cùng kỳ năm 2013, thì Yên Bái càng có điều kiện thuận lợi để phục hồi nhịp độ phát triển kinh tế và tăng thu NSNN.


Chủ động chỉ đạo, đôn đốc ngay từ đầu năm
Với đặc thù là tỉnh nghèo, các DN chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, nên dễ bị tổn thương khi phải đối mặt với các diễn biến bất lợi từ ngoại cảnh. Những DN nào đã rơi vào hoàn cảnh không có khả năng thanh toán thì số nợ thuế cứ thế mà tăng cao, không cách nào để trả. Ngoài ra, việc thực hiện một số chính sách mới theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế, Luật Thuế TNCN (nâng mức khởi điểm chịu thuế TNCN từ 4 triệu đồng/tháng lên 9 triệu đồng/tháng và mức giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc từ 1,6 triệu đồng/tháng lên 3,6 triệu đồng/tháng), Luật Thuế TNDN (giảm mức thuế suất thuế TNDN phổ thông từ 25% xuống 22%, riêng đối với DN vừa và nhỏ áp dụng mức thuế suất 20%), cũng đang tạo những áp lực lớn đến tình hình thu ngân sách trên địa bàn.
Xác định được những khó khăn tiềm ẩn, Cục Thuế Yên Bái đã tập trung chỉ đạo, điều hành, đôn đốc tiến độ thu, phát động phong trào thi đua phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ công tác thuế ngay từ ngày đầu, tháng đầu năm; chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương nhiều giải pháp quản lý hoạt động kinh doanh nông, lâm sản, khai thác khoáng sản… phù hợp với từng địa bàn; tổ chức hơn 20 lớp tập huấn các luật thuế sửa đổi, bổ sung cho người nộp thuế (NNT) và công chức thuế với hàng nghìn lượt người tham gia; đẩy mạnh công tác truyên truyền hỗ trợ, tổ chức tọa đàm đối thoại dưới nhiều hình thức phong phú, kịp thời giải quyết vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện cũng như kê khai, quyết toán thuế năm 2013.
Công tác thu hồi nợ và cưỡng chế nợ thuế cũng đã được cơ quan thuế các cấp tập trung rà soát, phân tích và phối hợp với các cơ quan chức năng, các đơn vị có liên quan để có biện pháp đôn đốc thu hồi nợ hiệu quả. Đặc biệt, với mục tiêu nâng cao chất lượng công tác chống thất thu thuế ngay từ đầu năm, Cục Thuế đã yêu cầu toàn ngành triển khai thông báo các đối tượng được kiểm tra, thanh tra theo kế hoạch đã duyệt; đôn đốc nộp kịp thời số thuế phát sinh sau thanh tra, kiểm tra và quyết toán thuế; phối hợp quản lý hiệu quả hoạt động xây dựng cơ bản vãng lai, thuế nhà thầu dự án đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai; phối hợp kiểm tra, quản lý hộ mới ra kinh doanh, rà soát, điều chỉnh doanh thu đối với hộ khoán thuế để có cơ sở lập bộ khoán ổn định, phù hợp với thực tế kinh doanh, gắn với việc quản lý và hoàn thành mục tiêu thu thuế môn bài ngay trong tháng 1.
Số thu 4 tháng tăng 74% so với cùng kỳ
Với nhiều giải pháp chủ động, linh hoạt, kết hợp nhịp nhàng giữa việc thực hiện quy trình quản lý và kinh nghiệm trong công tác tuyên truyền hỗ trợ, ngành thuế đã hoàn thành tốt mục tiêu thu. Hết 4 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã thu đạt 387 tỷ đồng, bằng 40% dự toán, tăng 74% so cùng kỳ năm 2013. Nhiều nguồn thu đạt tỷ lệ cao so với dự toán cả năm như: thu thuế TNCN đạt 73%; xổ số 29%; thu khác ngân sách 39%; thuế công thương nghiệp dịch vụ ngoài quốc doanh, thu từ khối DN quốc doanh và phí, lệ phí đều đạt 36%; lệ phí trước bạ đạt 31%, thuế bảo vệ môi trường đều đạt 32%. Đây là năm đầu tiên, Yên Bái có số thu 4 tháng đạt cao nhất từ trước đến nay.

Trung tâm kế toán thực hành Tại long biên Tính đến hết tháng 4/2014, toàn tỉnh Yên Bái có 247 DN thực hiện việc khai thuế qua mạng với tổng số tờ khai điện tử đã nhận vào hệ thống quản lý thuế là 4.218 tờ khai. Hiện nay, ngành thuế vẫn đang tích cực hỗ trợ, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, tạo điều kiện để các DN đã được tập huấn tiếp tục triển khai kê khai thuế qua mạng. Dự kiến đến năm 2015, Cục Thuế Yên Bái sẽ tổ chức triển khai cho 80% DN đủ điều kiện được kê khai thuế qua mạng.
Các đơn vị số thu tương đối đồng đều và đạt tỷ lệ khá cao so với dự toán cả năm, cụ thể: huyện Văn Yên đạt 54%, huyện Mù Căng Chải đạt 56%; Trạm Tấu đạt 52%; Nghĩa Lộ 40%; Trấn Yên và TP Yên Bái đạt 35%; Lục Yên 37%; Văn Chấn 34%.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại biên hòa Nguyên nhân chính khiến các nguồn thu đạt cao so cùng kỳ năm trước là do các nhà thầu đều tập trung thanh toán các gói thầu thi công đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai đã hoàn thành cuối năm 2013, phát sinh thuế phải nộp vào đầu năm 2014; cùng lúc thu nhập của người nước ngoài thực hiện dự án đường cao tốc, kết thúc vào tháng 6/2014 đã được nộp dồn khi quyết toán thuế năm 2013.
Theo ông Hoàng Văn Diểm – Cục trưởng Cục Thuế Yên Bái, mặc dù số thu quý I đạt khá, song số thuế nợ còn tăng cao so với cuối năm 2013. Do đó trong quý II, ngành thuế sẽ tập trung tháo gỡ các vướng mắc trong công tác thu hồi nợ thuế, kiểm tra hồ sơ khai thuế, sử dụng hóa đơn GTGT khi xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ và đẩy nhanh tiến độ đối chiếu nợ thuế với các đơn vị liên quan để có số liệu khớp đúng; tập trung rà soát hồ sơ hoàn thuế, đảm bảo đúng các quy định của pháp luật, phấn đấu trong 6 tháng đầu năm thu đạt trên 50% dự toán, trong đó quý II phải thu đạt 290 tỷ đồng trở lên, để đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị cả năm 2014. dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại bắc ninh


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Phát hiện khách xuất cảnh mang theo 60.000 USD trái phép



Ngày 13-5, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất phát hiện, tạm giữ 2 hành khách xuất cảnh mang theo 60.000 USD không khai báo hải quan.


Ngoại tệ xuất lậu do Hải quan sân bay TSN bắt giữ ngày 13-5-2004.
Hai hành khách vi phạm làm thủ tục xuất cảnh trên chuyến bay PR 592 đi Philippines. Khi phát hiện có nghi vấn, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã kiểm tra trọng điểm, phát hiện 2 hành khách cất giấu, không khai báo hải quan 60.000 USD.
Trong đó, hành khách C.A.V. 22 tuổi, quốc tịch Việt Nam cất giấu 20.000 USD trong hành lý và hành khách N.T.H. 37 tuổi quốc tịch Việt Nam mang theo người 40.000 USD.

Tang vật ngoại tệ xuất lậu của hành khách C.A.V
Theo quy định tại Thông tư số 15/2011/TT-NHNN ngày 12-8-2011 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cá nhân khi xuất cảnh, nhập cảnh qua các cửa khẩu quốc tế của Việt Nam bằng hộ chiếu mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt trên mức quy định (5.000 USD hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương; hoặc 15.000.000 VNĐ) phải khai báo Hải quan cửa khẩu.
Trung tâm kế toán thực hành Tại long biên Căn cứ vào quy định nêu trên, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tiến hành lập biên bản vi phạm, tạm giữ người và tang vật vi phạm, bàn giao cho Công an quận Tân Bình- TP.HCM mở rộng điều tra, xử lý theo quy định.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh Trước đó, vào ngày 7-5, qua theo dõi, điều tra ,xác minh đối tượng trọng điểm, Chi cục đã phát hiện và bắt giữ, lập biên bản vi phạm đối với hành khách A.Ahmad và M.A.Mustifa, quốc tịch Ấn Độ, xuất cảnh trên chuyến bay VN603 đi Thái lan đem theo 25.000 USD không khai báo hải quan khi làm thủ tục xuất cảnh. dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại hoàng mai


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Kiều hối về TP.HCM đạt 1 tỷ USD



Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP.HCM, trong quý 1/2014, lượng kiều hối chuyển về TP.HCM đạt khoảng 1 tỷ USD, tương đương với cùng kỳ năm trước.


Ngoi ra, trong 4 tháng đầu năm 2014, tỷ giá ngoại hối luôn được duy trì ổn định. Theo đó, tỷ giá niêm yết của các ngân hàng thương mại vẫn ở mức thấp hơn biên độ quy định của Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá trên thị trường tự do xoay quanh tỷ giá niêm yết của các ngân hàng thương mại.
Tình trạng đầu cơ, nắm giữ ngoại tệ trong nền kinh tế tiếp tục giảm, không còn xảy ra những cơn sốt ngoại tệ. Tiền gửi ngoại tệ tiếp tục giảm, 3 tháng đầu năm vốn huy động ngoại tệ giảm 3,36% so với cuối năm 2013, cơ cấu huy động ngoại tệ trong tổng vốn huy động giảm, hiện chiếm 15,3% (cuối năm 2013 là 16%, năm 2012 là 17,8%).
Trung tâm kế toán thực hành Tại bắc ninh Quan hệ cung cầu ngoại tệ tiếp tục ổn định, đảm bảo đáp ứng nhu cầu ngoại tệ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu của cá nhân, DN trên địa bàn. Trong quý 1/2014, doanh số mua ngoại tệ lũy kế từ các tổ chức kinh tế và cá nhân của các ngân hàng thương mại đạt 10.131 triệu USD, bằng 30 % so với cả năm 2013, doanh số bán ngoại tệ đạt 8.735 triệu USD, bằng 22,6% so với cả năm 2013.
Thị trường vàng cũng được duy trì ổn định và diễn biến theo định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước. Lũy kế quý 1/2014, doanh số mua bán vàng miếng trên địa bàn TP.HCM đạt 787.621 lượng (tương đương 29 tấn) mua vào và 833.759 lượng (tương đương 31 tấn) bán ra.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng Đến cuối tháng 3-2014, số điểm giao dịch kinh doanh mua bán vàng miếng trên địa bàn TP.HCM đã được Ngân hàng Nhà nước cấp phép là 905 điểm giao dịch, trong đó có 832 điểm của 18 tổ chức tín dụng và 73 điểm của 12 DN (không thay đổi so với cuối năm 2013). dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại tây hồ


Read More Add your Comment 0 nhận xét