Chi Phúc Lợi Cho Người Lao Động



 Chi Phúc Lợi Cho Người Lao Động



*Căn cứ pháp lý:


- Khoản 1 Điều 6 Thông tư số78/2014/TT-BTCngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn về các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế


- Điều 1 Chương I Thông tư số151/2014/TT-BTCngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điểm 2.31 Khoản 2 Điều 6 Thông tư số78/2014/TT-BTCngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính


- Khoản 1 Điều 14 Thông tưsố219/2013/TT-BTCngày 31/12/2013 của Bộ Tàichínhhướng dẫn về nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào

Trung tâm kế toán thực hành Tại đà nẵng


- Điểm 4Thông tư 96/2015/ TT-BTC sửa đổi, bổ sung Điểm 2.31 Khoản 2 Điều 6Thông tư 78/2014/TT-BTC quy định những khoản chi không được trừ, có quy định về mức chi cho các khoản chi có tính chất phúc lợi


*Theo đó:


+ Về Thuế TNDN:Chi phúc lợi cho người lao động như chi hỗ trợ chi phí đi lại ngày lễ, tết, chi nghỉ mát,… được tính vào chi phí được trừ nếu có đầy đủ hóa đơn chứng từ và tổng số chi có tính chất phúc lợi không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp.


Học kế toán tổng hợp thực hành Tại đà nẵng

+ Về Thuế GTGT:doanh nghiệp được khấu trừ thuế GTGT đối với những khoản chi phúc lợi tương ứng với khoản tiền được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế nêu trên nếu đáp ứng được các điều kiện về khấu trừ theo quy định.


*Chi tiết tại: Công văn 4005/TCT-CS kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng khoản chi phúc lợi cho người lao động

dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại bắc ninh


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Chấm dứt hiệu lực mã số thuế và quyết toán giải thể doanh nghiệp




 Căn cứ các quy định tại:



– Điểm a, Khoản 1, Điều 15 Thông tư số 80/2012/TT-BTCngày 22/5/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn Luật quản lý thuế về đăng ký thuế:


– Điểm b, Khoản 8.2, Điều 16 Thông tư số151/2014/TT-BTCngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số91/2014/NĐ-CPngày 01/10/2014 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế


– Điểm d, Khoản 2, Điều 165 Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005


– Điểm c, Khoản 1, Điều 211 Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014


– Điểm a, Khoản 1, Điều 29 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006


Nội dung :


1.Chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với doanh nghiệp giải thể:


Trường hợp doanh nghiệp nộp hồ sơ giải thể, nhưng kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đến thời điểm giải thể, doanh nghiệp:


– Không phát sinh hàng hóa dịch vụ mua vào, bán ra (không phát sinh doanh thu và chi phí),


– Chưa đăng ký phát hành sử dụng hóa đơn, không nợ thuế


Trung tâm kế toán thực hành Tại hải phòng

– Thuộc Các trường hợp giải thể, chấm dứt hoạt động cơ quan thuế không phải thực hiện quyết toán thuế


2. Chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với doanh nghiệp nhiều tháng liên tục (kể từ khi thành lập) không phát sinh doanh thu, chưa đăng ký phát hành sử dụng hóa đơn, không nợ thuế


Doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và bịxóatên trongsổđăng ký kinh doanh trong các trường hợp sau đây:


Học kế toán tổng hợp thực hành Tại quận 3

– Không hoạt động tại trụ sở đăng ký trong thời hạn sáu tháng liên tục, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc chứng nhận thay đổi trụ sở chính;”


– Doanh nghiệp ngừng hoạt động kinh doanh 01 năm mà không thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế;...”


Chi tiết tại: Công văn 2811/TCT-KK 2015 ngày 10 tháng 07 năm 2015 chấm dứt hiệu lực mã số thuế và quyết toán giải thể doanh nghiệp

dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại hải phòng


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Thời điểm xuất hóa đơn đối với công ty xây dựng



-Nghiệm thu có cân xuất hóa đơn đúng thời điểm khi cả hai bên chủ đầu tư và đơn vị thi công chưa làm quyết toán công trình



-Nếu xuất hóa đơn sai thời điểm sẽ bị phạt hay không?


-Hậu quả của việc xuất hóa đơn sai thời điểm?




+Thời điểm xuất hóa đơn GTGT:


Căn cứ theo: Thông tư 39/2014/TT-BTC hướng dẫn 51/2010/NĐ-CP 04/2014/NĐ-CP hóa đơn bán hàng hóa dịch


Điều 16. Lập hoá đơn


2. Cách lập một số tiêu thức cụ thể trên hoá đơn


a) Tiêu thức “Ngày tháng năm” lập hóa đơn


Ngày lập hóa đơn đối với xây dựng, lắp đặt là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.


Trường hợp giao hàng nhiều lần hoặc bàn giao từng hạng mục, công đoạn dịch vụ thì mỗi lần giao hàng hoặc bàn giao đều phải lập hoá đơn cho khối lượng, giá trị hàng hoá, dịch vụ được giao tương ứng.


= > Nghiệm thu là phải xuất hóa đơn không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiềnkhông phụ thuộc vào quyết toán công trình hay chưa quyết toán


= > Thời điểm nghiệm thu là thời điểm xác định xuất hóa đơn GTGT nếu:


-Xuất sai thời điểm có thể phạt theo: phạt xuất hóa đơn sai thời điểm theo TT10 + phạt vi phạm hành chính hành vi kê khai sai TT166


-Nếu xuất hóa đơn mà sau này khi quyết toán bị giảm giá trị công trình tất cả cụ thể tại:


-Tại khoản 3 Điều 20 Thông tư 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/1/2014 của Chính phủ về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ quy định:


-" Điều 20. Xử lý đối với hoá đơn đã lập



-3. Trường hợp hóa đơn đã lập và giao cho người mua, đã giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ, người bán và người mua đã kê khai thuế, sau đó phát hiện sai sót thì người bán và người mua phải lập biên bản hoặc có thoả thuận bằng văn bản ghi rõ sai sót, đồng thời người bán lập hoá đơn điều chỉnh sai sót. Hoá đơn ghi rõ điều chỉnh (tăng, giám) số lượng hàng hoá, giá bán, thuế suất thuế giá trị gia tăng…, tiền thuế giá trị gia tăng cho hoá đơn số…, ký hiệu… Căn cứ vào hoá đơn điều chỉnh, người bán và người mua kê khai điều chỉnh doanh số mua, bán, thuế đầu ra, đầu vào. Hoá đơn điều chỉnh không được ghi số âm (-).”


-Tại khoản 2.10 Phụ lục 4 Hướng dẫn lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ đối với một số trường hợp ban hành kèm theo Thông tư 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính:


-“Cơ sở xây dựng có công trình xây dựng, lắp đặt mà thời gian thực hiện dài, việc thanh toán tiền thực hiện theo tiến độ hoặc theo khối lượng công việc hoàn thành bàn giao, phải lập hoá đơn thanh toán khối lượng xây lắp bàn giao. Hóa đơn GTGT phải ghi rõ doanh thu chưa có thuế và thuế GTGT. Trường hợp công trình xây dựng hoàn thành đã lập hóa đơn thanh toán giá trị công trình nhưng khi duyệt quyết toán giá trị công trình XDCB có điều chỉnh giá trị khối lượng xây dựng phải thanh toán thì lập hóa đơn, chứng từ điều chỉnh giá trị công trình phải thanh toán.”


-Ví dụ: trong tháng 6/2011 Công ty TNHH Xây dựng Công trình ngầm Việt Nam (bên bán) đã xuất hóa đơn theo biên bản thanh lý hợp đồng với Ban quản lý dự án thủy điện 7 (bên mua). Đến tháng 5/2014, sau khi kiểm toán và phê duyệt quyết toán thì giá trị giảm 18.000.000đồng. Trong trường hợp này Công ty TNHH Xây dựng Công trình ngầm Việt Nam phải xuất hóa đơn điều chỉnh giảm giá trị công trình (18.000.000đồng) cho Ban quản lý dự án thủy điện 7 theo qui định khoản 3 Điều 20 Thông tư 39/2014/TT-BTC.





+Thời điểm tính thuế GTGT:


Căn cứ: THÔNG TƯ Số: 219/2013/TT- BTC Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2013 Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng


Điều 8. Thời điểm xác định thuế GTGT


5. Đối với xây dựng, lắp đặt, bao gồm cả đóng tàu, là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.


= > Thời điểm nghiệm thu là thời điểm xác định tính thuế GTGT nếu:


-Kê khai thuế theo tháng mà tháng đó nghiệm thu mà chưa xuất hóa đơn để sau này mới xuất hóa đơn = > truy lại thuế VAT đúng thời điểm của tháng nghiệm thu kê khai thuế những sai sót phải trả giá bằng tiền đó là : truy VAT + phạt chậm nộp 0.05%/ngày + phạt xuất hóa đơn sai thời điểm theo TT10 + phạt vi phạm hành chính hành vi kê khai sai TT166



-Kê khai thuế theo quý mà quý đó nghiệm thu mà chưa xuất hóa đơn để sau này mới xuất hóa đơn = > truy lại thuế VAT đúng thời điểm của quý nghiệm thu của kê khai theo quý những sai sót phải trả giá bằng tiền đó là : truy VAT + phạt chậm nộp 0.05%/ngày + phạt xuất hóa đơn sai thời điểm theo TT10 + phạt vi phạm hành chính hành vi kê khai sai TT166



-Hóa đơn sai ngày trong tháng/ quý không khớp ngày nghiệm thu thì chỉ bị phạt: phạt xuất hóa đơn sai thời điểm theo TT10 + phạt vi phạm hành chính hành vi kê khai sai TT166




-Khi thanh kiểm tra thuế tại doanh nghiệp nếu DN sổ sách chứng từ sạch sành sanh từ chân đến đầu thì những lỗi này là lỗi moi ra để phạt, nếu Quý công ty làm sai từa lưa hột dưa những sai sót trọng yếu mà tiền truy thu thuế GTGT, TNDN và phạt VI PHẠM đủ mang chỉ tiêu về cho đội kiểm tra thuế thì những sai sót này sẽ được bỏ qua => dĩ nhiên các bạn sẽ ko biết mình đang làm sai và tự cho mình chân lý đúng cứ việc xuất hóa đơn sai và xuất chậm thoải mái



Trung tâm kế toán thực hành Tại quận 3



+Thời điểm tính Thuế TNDN:


Căn cứ:Thông tư 96/2015/TT-BTC Hướng dẫn về thuế TNDN tại Nghị định 12/2015/NĐ-CP


Điều 3. Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 78/2014/TT-BTC như sau:



Căn cứ: Thông tư Số: 78/2014/TT-BTC Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 2014 Hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp


Điều 5. Doanh thu


2.Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định như sau:


m) Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, giá trị hạng mục công trình hoặc giá trị khối lượng công trình xây dựng, lắp đặt nghiệm thu.


-Trường hợp xây dựng, lắp đặt có bao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiêt bị là sô tiên từ hoạt động xây dựng, lăp đặt bao gôm cả giá trị nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại nam định


-Trường hợp xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị là số tiền từ hoạt động xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị.



= > Thời điểm xác định doanh thu là thời điểm nghiệm thu hoàn thành không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền


-Việc ghi nhận doanh thu sai thời điểm nếu xuất trong cùng năm thì chỉ truy lại thuế GTGT trong năm


-Nếu sai năm truy lại doanh thu tính thuế TNDN cho năm đó


-Ví dụ: nghiệm thu tháng 1/2016 xuất hóa đơn tháng 8/2016 thì chỉ bị truy lại vat đúng thời điểm, còn thuế TNDN vì trong cùng năm không xét đến, nhưng nếu để đến tháng 2/2017 thì sẽ truy lại thuế TNDN đúng năm tài chính là năm 2016

lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải phòng


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hướng dẫn cách tính khấu trừ thuế TNCN đối với lao động thử việc, thời vụ



-Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lênthì doanh nghiệptrả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế luỹ tiến từng phần, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ ba (03) tháng trở lên tại nhiều nơi.


-Đối với lao động có ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng, hoặc không ký hợp độngthì khi trả thu nhập cho người lao động, doanh nghiệp phải tiến hành khấu trừ 10% trên tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên.

Trung tâm kế toán thực hành Tại tphcm

Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết thu nhập theo mẫu 23/CK-TNCN ( Theo thông tư 156 mới nhất) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.


Chú ý: Mức khấu trừ 10% áp dụng cho cả đối tượng có mã số thuế TNCN và chưa có MST.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại quận 3


Cam kết 23/CK-TNCN chỉ làm khi cá nhân đó đã có MST.


Khi doanh nghiệp tiến hành khấu trừ thuế TNCN đối với các lao động thời vụ, thử việc ký hợp đồng dưới 3 tháng, doanh nghiệp phải cấp chứng từ khấu trừ thuế ( làm đơn xin cấp với cơ quan thuế theo Mẫu số:17/TNCNBan hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính) cho cá nhân đó. và phải làm báo cáo tình hình sử dụng chứng từ khấu trừ thuế.


-Đối với các cá nhân thuộc đối tượng không cư trú ( người nước ngoài): khấu trừ 20% tổng thu nhập tại nguồn.

dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại bắc ninh Học kế toán tổng hợp thực hành Tại quận 3


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Thanh tra thuế công ty xây dựng các điểm nhấn chính xác và có thể bị phạt



 Thanh tra thuế công ty xây dựng các điểm nhấn chính xác và có thể bị phạt trong các nguyên nhân sau:


- Làm mất các báo cáo đã nộp cho cơ quan thuế: TNDN, GTGT, TNCN….


- Nộp không đúng thời hạn các báo cáo trên: TNDN, GTGT, TNCN….


- Kê khai thuế bị sai bị thiếu sót: TNDN, GTGT, TNCN….


- Các chi phí đầu vào không hợp lệ: chi phí quảng cáo tiếp khách vượt định mức (chú ý từ 2015 ko còn giới hạn) bạn tìm đọc (đi từ TT130-TT123-TT218-TT78-TT96…bạn tự đọc và tìm hiểu thêm


- Hóa đơn đầu vào > 20.000.000 làm mất ủy nhiệm chi thì lên ngân hàng xin trích lục lại, còn ko được thì loại luôn, hoặc không thanh toán qua ngân hàng hoặc thanh toán qua ngân hàng nhưng không đúng thủ tục theo luật thuế


Trung tâm kế toán thực hành Tại đà nẵng

- Mua bán phải hóa đơn doanh nghiệp bỏ trốn, hóa đơn ma…


- Các chi phí quản lý đầu vào quá cao hoặc chi phí không hợp lý hợp lệ, không có hóa đơn hoặc có hóa đơn nhưng kế toán không chứng mình được khi giải trình nên bị loại thường đa phần là: điện thoại, phòng nghỉ, hóa đơn ăn uống, hóa đơn card điện thoại…..


- Xuất hóa đơn không đúng thời điểm nghiệm thu


Học kế toán tổng hợp thực hành Tại đà nẵng

- Vật tư đầu vào cho công trình không đúng chủng loại


- Giá thành đưa vào vượt dự toán


- Nghiệm thu giai đoạn không xuất hóa đơn


Các giải trình khác:


- Giải trình phát sinh TK 152,621,627,623,154…..


- Giải trình chi phí tiền lương


- Giải trình bên Có Tk 131,331


- …..

dịch vụ làm báo cáo tài chính tại Quận Long Biên


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Công việc của kế toán kho????????



Sưu tầm lượm lặt ko phải của mình


MÔ TẢ CÔNG VIỆC KẾ TOÁN KHO

1.Trách nhiệm :


- Lập chứng từ nhập xuất, chi phí mua hàng, hoá đơn bán hàng và mua hàng


- Hạch toán doanh thu, giá vốn, công nợ.


- Theo dõi công nợ, lập biên bản xác minh công nợ theo định kỳ (hoăc khi có yêu cầu), nộp về PKT-TV


- Tính giá nhập xuất vật tư hàng nhập khẩu, lập phiếu nhập xuất và chuyển cho bộ phận liên quan.


- Lập báo cáo tồn kho, báo cáo nhập xuất tồn


- Kiểm soát nhập xuất tồn kho


- Thường xuyên: kiểm tra việc ghi chép vào thẻ kho của thủ kho, hàng hoá vật tư trong kho được sắp xếp hợp lý chưa, kiểm tra thủ kho có tuân thủ các qui định của công ty. Đối chiếu số liệu nhập xuất của thủ kho và kế toán.

Trung tâm kế toán thực hành Tại đà nẵng


- Trực tiếp tham gia kiểm đếm số lượng hàng nhập xuất kho cùng thủ kho, bên giao, bên nhận nếu hàng nhập xuất có giá trị lớn hoặc có yêu cầu của cấp có thẩm quyền


- Tham gia công tác kiểm kê định kỳ (hoặc đột xuất). Chịu trách nhiệm lập biên bản kiểm kê, biên bản đề xuất xử lý nếu có chênh lệch giữa sổ sách và thực tế, nộp về PKT-TV.


- Nộp chứng từ và báo cáo kế toán theo qui định.


2.Quyền hạn :


- Đề xuất, và kiến nghị những vấn đề vướng mắc thuộc trách nhiệm của mình.


Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức

3.Quan hệ :


- Nhận sự chỉ đạo và báo cáo phụ trách phòng Kế toán-tài vụ


- Nhận thông tin và thông tin trực tiếp các kế toán viên, thủ kho.


4.Tiêu chuẩn yêu cầu :


- Trình độ: Tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp trở lên.


- Hiểu biết về nghiệp vụ kế toán, chế độ kế toán.


- Cần mẫn , có trách nhiệm với công việc.


- Thi hành nghiệp vụ chính xác và đúng qui định.


- Sử dụng máy vi tính thành thạo (phần mềm excel, phầm mềm kế toán).

dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại thanh trì


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Sẽ có nghị quyết về tái cơ cấu nợ cho Vinalines



Tái cơ cấu, cổ phần hóa (CPH) DNNN, trong đó có Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) là vấn đề đang được dư luận quan tâm. Liên quan đến tái cơ cấu, CPH tại Vinalines, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Hồng Trường, Thứ trưởng Bộ GTVT, Trưởng ban Chỉ đạo tái cơ cấu Vinalines.


Ông Nguyễn Hồng Trường, Thứ trưởng Bộ GTVT, Trưởng Ban chỉ đạo tái cơ cấu Vinalines.

Ông có thể cho biết một số định hướng chính trong quá trình tái cơ cấu tại Vinalines?

Trong Đề án tái cơ cấu Vinalines đã được Chính phủ phê duyệt, ngoài việc thực hiện sắp xếp lại Vinalines theo hướng tập trung vào các ngành nghề chính (vận tải, dịch vụ, cảng biển) và thoái vốn đầu tư ngoài ngành, Vinalines còn phải thực hiện CPH các DN, tiến tới CPH công ty mẹ. Trên tinh thần đó, Bộ GTVT đã thành lập Ban chỉ đạo Đề án tái cơ cấu Vinalines, đồng thời Tổng công ty Vinalines cũng thành lập Ban chỉ đạo tái cơ cấu.

Về CPH Vinalines, hiện nay đang tập trung để CPH các đơn vị thành viên, trước hết là các cảng biển. Tất cả các cảng biển lớn đều phải CPH, như Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng, Quy Nhơn… Trong đó, ngoại trừ một số cảng lớn như Hải Phòng, Sài Gòn, các cảng biển còn lại Nhà nước không nhất thiết giữ cổ phần chi phối,

Tiến độ CPH Vinalines hiện nay như thế nào và nhà đầu tư nước ngoài được phép tham gia đầu tư vào Vinalines ở mức độ nào, thưa ông?

Năm 2014 sẽ tiến hành làm các bước xác định giá trị DN, xây dựng phương án CPH, trình Chính phủ phê duyệt. Hiện nay đang phải tiến hành xác định giá trị DN. Chúng tôi đang cố gắng để hoàn thiện các nội dung liên quan đến CPH công ty mẹ trong năm 2014, chậm nhất là quý I-2015 sẽ CPH xong.

Thời gian qua đại đa số các khoản nợ của Vinalines chỉ được xử lý theo hướng giãn nợ và lãi phải trả từ 1 đến 3 năm, trong khi theo các chuyên gia khoảng thời gian tối thiểu mà Vinalines cần là 5 – 6 năm. Các khoản nợ không thay đổi, thời gian giãn nợ ngắn là gánh nặng tài chính lớn khiến quá trình tái cơ cấu Vinalines rất khó khăn. Bên cạnh đó, hiện nay các ngân hàng cũng đang thực hiện tái cơ cấu, cho nên giữa vấn đề tái cơ cấu tài chính cho Vinalines song song với việc tái cơ cấu các ngân hàng cũng ảnh hưởng, làm chậm quá trình tái cơ cấu Vinalines. Được biết, hiện nay Vinalines còn số nợ khoảng gần 56.000 tỷ (bao gồm cả số nợ gần 20.000 tỷ của 5 đơn vị từ Vinashin chuyển sang).

Về tiến độ CPH, tất cả các đơn vị thành viên trong kế hoạch CPH 2014 sẽ phải CPH xong trong năm nay. Đến nay cơ bản đã xác định giá trị DN được 5 DN, các DN còn lại sẽ xác định giá trị DN từ nay cho đến hết tháng 6-2014 và tiến hành làm thủ tục CPH.

Trong quá trình CPH Vinalines, điều quan trọng là tập trung để tìm được các nhà đầu tư chiến lược, có thế mạnh về tài chính, về khai thác cảng biển và cho phép một số cảng biển được sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài làm cổ đông chiến lược với cổ phần có thể đạt đến 20% vốn điều lệ, tùy theo cơ cấu vốn điều lệ của DN và số lượng cổ phần phát hành lần đầu trên sàn chứng khoán. Chủ trương đối với CPH công ty mẹ là Nhà nước không nhất thiết giữ cổ phần chi phối, ưu tiên cho nhà đầu tư trong nước còn nhà đầu tư nước ngoài tham gia cổ đông chiến lược, tỷ lệ tham gia cụ thể sẽ được đưa vào phương án CPH trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Trung tâm kế toán thực hành Tại hải phòng

Những khó khăn gặp phải trong quá trình tái cơ cấu, CPH Vinalines là gì, thưa ông?

Trong quá trình tái cơ cấu, CPH, Vinalines gặp rất nhiều khó khăn. Ví dụ, vấn đề đối chiếu công nợ để xác định giá trị DN. Do trước đây Vinalines hoạt động trên phạm vi khá rộng, trải dài trên địa bàn cả nước. Do vậy việc đối chiếu công nợ hoàn thành trước khi CPH đòi hỏi phải có thời gian, nhưng vẫn phải đáp ứng được yêu cầu về tiến độ, cho nên đây cũng vấn đề rất khó khăn.

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện sản xuất kinh doanh, Vinalines có liên doanh với một số nước để xây dựng các cảng biển, hiện nay các liên doanh này đang trong quá trình đầu tư và khai thác mà hiệu quả chưa được rõ, một số còn phải bù lỗ, như Cảng CMIT, cảng SSIT… Việc thoái vốn ở các công ty liên doanh liên kết rất khó khăn, mất nhiều thời gian. Việc phải tách các DN này ra để CPH là một điều kiện phải tính tới, khi mà các liên doanh đang còn thua lỗ.

Bên cạnh đó, hiện nay đội tàu vận tải của Vinalines đang hoạt động trên các tuyến hàng hải quốc tế, cho nên việc xác định giá trị sổ sách cũng như giá trị thực tiễn của các tàu đó rất khó khăn, đòi hỏi mất nhiều thời gian và từng bước phải xử lý. Ngoài ra, Vinalines trước đây có tiếp nhận một số DN từ Vinashin chuyển sang như Công ty Vận tải Viễn dương Vinashin (Vinashinlines) và Công ty TNHH một thành viên Vận tải Biển Đông, cho nên hiện nay phải xử lý các khoản nợ của các DN này, đồng thời xử lý các khoản nợ Vinalines đang tồn tại. Hiện Vinalines đang tiến hành làm thủ tục phá sản Vinashinlines và Công ty cổ phần vận tải dầu khí Việt Nam (Falcon), nên đòi hỏi nhiều thời gian.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại đà nẵng

Ông đánh giá như thế nào về tiến trình tái cơ cấu, CPH Vinalines, liệu công tác tái cơ cấu, CPH Vinalines có về đích đúng hẹn không, thưa ông?

Bên cạnh những khó khăn vừa nêu, quá trình tái cơ cấu Vinalines cũng có nhiều thuận lợi và với những thuận lợi đó, tôi tin tưởng Vinalines sẽ tái cơ cấu thành công. Trước hết, Chính phủ đã thông qua đề án tái cơ cấu Vinalines. Về vấn đề tài chính, Bộ GTVT hiện đang trình Chính phủ và Chính phủ nhất trí sẽ ban hành một nghị quyết riêng về vấn đề tái cơ cấu nợ cho Vinalines. Nghị quyết này chủ yếu là để giải quyết vấn đề công nợ hiện nay của Vinalines, tạo điều kiện để Vinalines tái cơ cấu, CPH.

Bên cạnh đó, một trong những khó khăn trong xác định giá trị DN là đối chiếu công nợ. Tuy nhiên, với những kinh nghiệm đã có, Vinalines cũng được Bộ GTVT cho phép là nếu đối chiếu được trên 90% thì chấp nhận được, hoặc thuê tổ chức tư vấn định giá, các công ty kiểm toán nhà nước. Ngoài ra, Vinashinline và các đơn vị Vinashin chuyển sang được hưởng cơ chế chính sách xử lý như các đơn vị của Vinashin nên cũng có thuận lợi.

Ngoài sự quyết tâm rất cao của cán bộ nhân viên, Vinalines còn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của Bộ GTVT trong việc tái cơ cấu, từ đó sẽ tháo gỡ khó khăn để tái cơ cấu, CPH các đơn vị thành viên và công ty mẹ trong năm 2014.

dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại ba đình


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Hải quan Quảng Ninh: Bắt giữ vụ vận chuyển lậu gần 2.500 tấn than



Hải quan Quảng Ninh vừa phát hiện, bắt giữ phương tiện vận chuyển lậu khoảng 2.500 tấn than cám không rõ nguồn gốc, không hóa đơn chứng từ.


Theo Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh, ngày 03/4/2014, tại vùng biển Hạ Mai, vịnh Bái Tử Long, hai đơn vị thuộc Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh là Đội Kiểm soát Hải quan số 2 và Chi cục Hải quan Vạn Gia đã phối hợp kiểm tra tầu QN 6698. Kết quả kiểm tra phát hiện phương tiện đang vận chuyển khoảng 2.500 tấn Than cám không rõ chất lượng, nguồn gốc và không có hoá đơn, chứng từ chứng minh tính hợp pháp của lô hàng.

Qua đấu tranh, khai thác, ông Lê Văn Thiếm trú tại Quảng Yên, Quảng Ninh là thuyền trưởng cho biết: Ngày 26/3/2014, ông được một người tự giới thiệu tên Hưng thoả thuận bằng miệng thuê tầu ông vận chuyển khoảng 2.500 tấn than cám từ Cẩm Phả, Quảng Ninh đi Nghệ An.

Trung tâm kế toán thực hành Tại hải phòng

Tổ công tác yêu cầu ông Lê Văn Thiếm đưa phương tiện và hàng hoá về vùng nước cầu cảng Hải quan (phố Bến Đoan, tp. Hạ Long, Quảng Ninh) để tiếp tục xử lý.

Từ ngày 03-21/4/2014, ông Thiếm đã liên tục gọi điện cho chủ hàng nhưng đều không liên lạc được. Cơ quan Hải quan cũng ra thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng tìm đại diện hợp pháp của lô hàng nói trên, tuy nhiên, hiện tại không thấy cá nhân, tổ chức nào nhận là chủ sở hữu lô hàng than nêu trên.

Hải quan Quảng Ninh đã tiến hành trưng cầu giám định đối với lô hàng than trên tầu QN 6698. Theo Giấy chứng nhận kết quả giám định số 0002840 ngày 20/4/2014 của QUACONTROL xác định hàng vận chuyển trên tầu là Than cám 7B, số lượng 2.715,67 tấn.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng

Ngày 21/4/2014, cơ quan Hải quan đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Lê Văn Thiếm về hành vi vận chuyển Than không có nguồn gốc hợp pháp và tiến hành xử lý theo quy định.

dịch vụ làm báo cáo tài chính tại Quận Ba đình


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tham gia đoàn cấp cao ngành Tài chính thăm chính thức Hoa Kỳ



Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) Vũ Bằng đã tham gia đoàn cán bộ cao cấp của ngành Tài chính Việt Nam thăm và làm việc chính thức tại Hoa Kỳ.


Bộ Trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng (thứ 2) và Chủ tịch UBCKNN Vũ Bằng (thứ 3 từ phải sang trái) chụp ảnh lưu niệm tại NYSE. Nguồn: ssc.gov.vn


Chuyến thăm được thực hiện theo lời mời của Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Jacob J. Lew. Bộ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam Đinh Tiến Dũng dẫn đầu đoàn công tác thăm và làm việc với phía bạn. 

Tham dự chuyến công tác còn có ông Nguyễn Quốc Cường – Đại sứ nước CHXHCN Việt Nam tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, ông Lê Hoài Trung – Đại sứ, Trưởng phái đoàn bên cạnh Liên hợp quốc cùng lãnh đạo các đơn vị khác trong Bộ Tài chính như Vụ Hợp tác Quốc tế, Cục Quản lý Nợ và Tài chính Đối ngoại, Vụ Ngân sách Nhà nước.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại quận 3

Tại Hoa Kỳ, đoàn đã có nhiều hoạt động quan trọng, cả về song phương và đa phương, như cuộc hội đàm với đoàn Bộ Tài chính Hoa Kỳ do Bộ trưởng Jacob J. Lew dẫn đầu, các buổi làm việc với ông Naoyuki Shinohara, Phó Tổng Giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), ông Axel Van Trotsenburg – Phó Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB), và bà Janet L. Yellen, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED). 

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng đã thông tin cho phía bạn về tình hình và kết quả phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam trong năm 2013 và kế hoạch, dự báo cho năm 2014. Bộ trưởng chia sẻ những giải pháp của Chính phủ Việt Nam trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, bình ổn giá, đặc biệt là chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian tới. 

Bộ trưởng và Chủ tịch UBCKNN đã thông báo với phía bạn về tình hình phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam, một trong 10 thị trường phục hồi và tăng trưởng tốt nhất châu Á năm 2013, với giá trị giao dịch bình quân toàn thị trường (cổ phiếu + trái phiếu) tăng 38,1% so với năm 2012 và giá trị vốn hóa thị trường chiếm 29,24% GDP. 

Trung tâm kế toán thực hành Tại nam định

Phía chủ nhà đã chúc mừng và ghi nhận những nỗ lực và thành công của Chính phủ Việt Nam trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế – xã hội và xóa đói giảm nghèo: Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế đánh giá cao Việt Nam trong việc sử dụng hiệu quả các chương trình hỗ trợ của Ngân hàng và của Quỹ, nhất trí với đề nghị của phía Việt Nam, tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực chứng khoán, thực hiện tốt những hợp tác về Chương trình Đánh giá Khu vực Tài chính (FSAP), đào tạo về quản trị công ty, nâng cao tính minh bạch cho các doanh nghiệp niêm yết.

Tại Thủ đô Washington, đoàn đại biểu cấp cao của ngành Tài chính Việt Nam cũng đã tiếp xúc và làm việc với Đại diện Thương mại Hoa Kỳ, Phòng Thương mại và Công nghiệp Hoa Kỳ, Hội đồng Kinh doanh Mỹ – ASEAN. Tại TP. New York, đoàn đã thăm và làm việc tại Sở Giao dịch Chứng khoán 

New York (NYSE), sàn giao dịch lớn nhất thế giới phục vụ việc mua và bán cổ phiếu. Đây là nguồn thanh khoản quan trọng, cho phép các nhà đầu tư giao dịch hàng triệu cổ phiếu mỗi ngày tại một thương trường thiết thực và hiệu quả. Năm 2013, NYSE được Sở Gio dịch Chứng khoán Liên lục địa (IntercontinentalExchange – ICE) mua lại để phát triển thành một sàn giao dịch hàng đầu thế giới.

Bộ trưởng và Chủ tịch UBCKNN đã trao đổi và chia sẻ với phía bạn về những kinh nghiệm trong việc xây dựng và phát triển ngành Chứng khoán, công tác quản lý thành viên và áp dụng công nghệ tối tân vào hoạt động của các sở giao dịch.

dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại huyện thường tín


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Chi hơn 27 tỷ đồng tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ



Bộ Tài chính tạm ứng từ ngân sách trung ương năm 2014 cho tỉnh Điện Biên số tiền 27,2 tỷ đồng để tỉnh chuẩn bị và tổ chức Lễ kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.


Bộ Tài chính tạm ứng từ ngân sách trung ương năm 2014 cho tỉnh Điện Biên số tiền 27 tỷ 200 triệu đồng. Nguồn: internet

Trung tâm kế toán thực hành Tại đà nẵng

Đây là nội dung công văn số 4998 của Bộ Tài chính vừa gửi UBND tỉnh Điện Biên về việc tạm ứng kinh phí phục vụ các hoạt động Kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.

Theo Bộ Tài chính, số tiền này bằng 80% kinh phí Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ vốn sự nghiệp cho tỉnh Điện Biên thực hiện Lễ kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.

Sau khi Thủ tướng Chính phủ có ý kiến cụ thể về việc hỗ trợ tỉnh Điện Biên kinh phí tổ chức 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Bộ Tài chính sẽ bổ sung kinh phí cho địa phương, đồng thời thu hồi kinh phí đã tạm ứng.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại nam định

Được biết, mới đây Bộ Tài chính cũng vừa có văn bản bổ sung 8 tỷ đồng cho tỉnh Quảng Nam tổ chức các hoạt động Festival di sản Quảng Nam lần thứ V đã diễn ra trong năm 2013.

dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại hải phòng


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Trưởng Ban Kinh tế Trung ương chỉ đạo sơ kết Nghị quyết Trung ương 6 khóa X tại các tỉnh Miền Trung



Trong các ngày 16 và 17/4, đoàn công tác Trung ương do ông Vương Đình Huệ, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Kinh tế Trung ương, Phó Ban Chỉ đạo sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (khóa X) về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm việc với Tỉnh ủy các tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi.


Toàn cảnh buổi làm việc của đoàn công tác Trung ương tại Quảng Ngãi. Nguồn: financePlus.vn

Đoàn công tác Trung ương còn có các đồng chí: Nguyễn Ngọc Bảo, Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương; Nguyễn Cao Lục, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Nguyễn Toàn Thắng, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Nguyễn Cẩm Tú, Thứ trưởng Bộ Công thương; Bùi Hồng Lĩnh, Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và xã hội; các đồng chí Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng thuộc Ban Kinh tế Trung ương và các Bộ: Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công thương, Bộ Tư pháp. 

Tại các buổi làm việc, lãnh đạo các tỉnh, thành phố cùng đại diện các sở, ban, ngành đã báo cáo quá trình triển khai nghị quyết đồng thời đưa ra các ý kiến đề xuất, kiến nghị Trung ương giúp tháo gỡ khó khăn trong thực hiện nghị quyết. Các đại biểu đều đánh giá Nghị quyết Trung ương 6 khóa X đã tác động mạnh vào đời sống phát triển kinh tế xã hội, giúp tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi có những đột phá phát triển kinh tế trong thời gian qua. Thực tế khách quan, đặc thù ở hai địa phương cho thấy, vai trò điều tiết, sự giúp sức của Nhà nước về kinh tế thị trường là rất quan trọng, bởi thị trường khu vực này sức mua yếu, rủi ro cao, việc thu hút đầu tư còn thấp.

Qua 05 năm (2008-2013) thực hiện Nghị quyết, theo báo cáo của các tỉnh cho thấy, kinh tế tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá. Cơ cấu kinh tế của Quảng Ngãi chuyển dịch theo hướng tích cực; GDP bình quân đầu người tăng từ 608 USD năm 2008 lên 2.058 USD năm 2013 (gấp 3,4 lần so với năm 2008). Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2013 đạt 30.563 tỷ đồng, gấp 19,4 lần so với năm 2008 (năm 2008 đạt 1.577 tỷ đồng). Trong đó thu từ Nhà máy lọc dầu Dung Quất năm 2013 đạt trên 24.210 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2008-2013 khoảng 92 ngàn tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách tỉnh khoảng 13.267 tỷ đồng. 

Đối với Quảng Nam, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm 2008 – 2013 là 11,86% (theo giá so sánh năm 2010); tổng kim ngạch xuất khẩu thực hiện hơn 2,2 tỷ USD, tăng bình quân hằng năm 20%; khách du lịch lưu trú tăng nhanh, từ 779 ngàn lượt năm 2008 lên 1,12 triệu lượt năm 2013 (tăng hằng năm 7,5%), doanh thu từ hoạt động du lịch tăng bình quân 21%/năm, góp phần tạo thêm nhiều việc làm, giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng liên tục, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong 5 năm hơn 26.400 tỷ đồng. 

Trung tâm kế toán thực hành Tại bắc ninh

Tính đến cuối năm 2013, toàn tỉnh Quảng Nam có 4.250 doanh nghiệp trong nước đang hoạt động với tổng vốn điều lệ 26.000 tỷ đồng; 94 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, đóng góp 70% giá trị xuất khẩu. Các loại thị trường được thiết lập, công tác quản lý nhà nước được đổi mới, tạo môi trường đầu tư thuận lợi để các thành phần kinh tế phát triển, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ (tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội hơn 69.200 tỷ đồng). 

Phát biểu tại các buổi làm việc, ông Vương Đình Huệ, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Vương Đình Huệ đánh giá cao những kết quả đạt được của các tỉnh trong quá trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (khóa X) và những ý kiến đánh giá, góp ý vào thực tiễn triển khai nghị quyết. Trưởng Ban Kinh tế Trung ương nhấn mạnh, trong điều kiện khó khăn, nhưng quy mô phát triển kinh tế của Quảng Nam và Quảng Ngãi cũng đã lớn hơn, tăng trưởng kinh tế tốt, chú trọng công tác xóa đói giảm nghèo; các lĩnh vực đã có những cố gắng, tiến bộ. 

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại quận 3

Trưởng Ban Kinh tế Trung ương cho rằng, trong điều kiện khó khăn chung, chúng ta thấy vai trò của Nhà nước càng rõ hơn. Tuy nhiên đồng chí cũng nhấn mạnh, tới đây cần xem xét xây dựng được thể chế cho một số ngành, một số vùng làm sao để địa phương có thể chủ động, năng động, sáng tạo; tiến tới bộ, ngành chủ yếu là quản lý nhà nước, phát huy vai trò cá nhân, vai trò cộng đồng là rất quan trọng, tính bài toán phân cấp, gắn với hiệu quả các dự án. Theo đồng chí Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Quảng Nam và Quảng Ngãi cần tiếp tục phát huy vai trò Nhà nước trong các chính sách an sinh xã hội, quan tâm đến hộ nghèo, tính toán chuyển dịch cơ cấu lao động, thúc đẩy xuất khẩu lao động.

Thay mặt Ban Chỉ đạo, ông Vương Đình Huệ, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo mong muốn rằng, kết quả làm việc sẽ thu được nhiều kết quả quan trọng để báo cáo Bộ Chính trị trong thời gian tới đây.

Sau 5 năm triển khai, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra quyết định thành lập Ban Chỉ đạo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X gồm có 23 thành viên (trong đó có 1 Ủy viên Bộ Chính trị; 18 Ủy viên Trung ương Đảng) do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng làm Trưởng ban Chỉ đạo. 

dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại huyện thanh oai


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Bộ Tài chính hoàn thành tốt các nhiệm vụ tài chính ngân sách



Ngày 4/4, tại trụ sở Bộ Tài chính đã diễn ra buổi họp báo định kỳ về tình hình thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách trong quý I/2014. Tham dự buổi họp báo có đại diện lãnh đạo các đơn vị chức năng thuộc Bộ Tài chính; đại diện phóng viên các cơ quan thông tấn báo chí Trung ương và Hà Nội.


Trong những tháng đầu năm, Bộ Tài chính đã quyết liệt triển khai nhiều chính sách tài chính điều hành kinh tế vĩ mô, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển biến tích cực. Theo đó, tốc độ tăng trưởng GDP quý I/2014 ước đạt 4,96%, cao hơn so với cùng kỳ năm 2013 (4,76%); k

hu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,37%; khu vực Công nghiệp và xây dựng tăng 4,69%; Dịch vụ tăng 5,95%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2014 giảm 0,44% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do giá cả nhiều mặt hàng lương thực, thực phẩm, khí đốt hóa lỏng (LPG) có xu hướng giảm. Đồng thời tiêu dùng của người dân vẫn ở mức thấp.

Kim ngạch xuất nhập khẩu 3 tháng đầu năm 2014 ước đạt 33,35 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2013. Kim ngạch nhập khẩu 3 tháng đầu năm 2014 ước đạt 32,34 tỉ USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2013. Khu vực FDI tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng xuất khẩu.

Bên cạnh đó, trong quý I/2014, dự toán thu – chi ngân sách nhà nước (NSNN) đạt khá, tiếp tục khẳng đinh xu hướng phục hồi của nền kinh tế ngày càng trở nên rõ nét và ổn định hơn. Chỉ tiêu thu – chi NSNN tháng 3/2014 cũng đạt nhiều kết quả khả quan. Theo đó, thu NSNN ước đạt 57.950 tỷ đồng; lũy kế thu quý I/2014 đạt 195.070 tỷ đồng, bằng 24,9% dự toán, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2013.

Qua tình hình thực hiện hoạt động thu – chi NSNN, chi tiêu chi ngân sách được đảm bảo theo đúng dự toán, đáp ứng đủ theo tiến độ triển khai thực hiện của các chủ đầu tư, đơn vị sử dụng ngân sách, đảm bảo an sinh xã hội, kinh phí phục vụ sản xuất, khắc phục thiên tai. Tổng chi NSNN tháng 3/2014 ước 82.190 tỷ đồng; lũy kế chi quý I ước đạt 232.160 tỷ đồng, bằng 23,1% dự toán, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2013…

Trong thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục nỗ lực tháo gỡ kịp thời khó khăn cho doanh nghiệp (DN) để phát triển sản xuất kinh doanh, quản lý chặt nguồn thu, tăng cường chống thất thu và xử lý nợ đọng; đồng thời chủ động điều hành ngân sách chặt chẽ, tiết kiệm, phù hợp với nguồn thu.

Bên cạnh đó, trong tháng 3 và 3 tháng đầu năm 2014, Bộ Tài chính đã triển khai quyết liệt Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ và đã đạt được những kết quả. Cụ thể: Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký Quyết định số 68/QĐ-BTC ngày 08/01/2014 ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tài chính thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ. 

Theo đó, Bộ Tài chính giao nhiệm vụ và thời hạn cụ thể cho từng đơn vị nhằm hoàn thành cao nhất mục tiêu và yêu cầu đặt ra đối với lĩnh vực tài chính – ngân sách năm 2014. Bộ cũng đã hoàn thành việc thông báo nhiệm vụ thu, chi NSNN năm 2014 cho các bộ, cơ quan Trung ương, địa phương và hướng dẫn việc tổ chức thực hiện dự toán này…

Đối với công tác tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, Bộ Tài chính tổ chức các đoàn công tác liên ngành kiểm tra tình hình triển khai thực hiện công tác quản lý bình ổn giá tại một số địa phương, đã triển khai một số nhiệm vụ:

Về quản lý giá sữa, yêu cầu các DN niêm yết giá, kê khai giá, điều chỉnh giá các sản phẩm sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi, xử lý nghiêm và công khai trên phương tiện thông tin đại chúng các DN sản xuất, kinh doanh sữa vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá; đồng thời, Bộ Tài chính đã phối hợp với các Bộ, ngành thành lập 5 đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra giá sữa tại 5 DN sản xuất và kinh doanh sữa.

Trung tâm kế toán thực hành Tại hải phòng

Về quản lý giá xăng dầu, đã phối hợp với Bộ Công Thương điều hành kinh doanh xăng dầu phù hợp tình hình thị trường thế giới và trong nước góp phần thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát…

Đối với việc tái cơ cấu DNNN, Bộ trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 15/NQ-CP ngày 6/3/2014 về một số giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại DN. Riêng về cổ phần hóa các DNNN, những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Nghị định số 59/2011/NĐ -CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về chuyển DN 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần đã được tháo gõ và xử lý tại Nghị định số 189/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 sửa đổi bổ sung Nghị định 59/2013/NĐ-CP. Số lượng DN cổ phần hóa trong quý I/2014 là 6 DN.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính thực hiện tốt các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, NSNN đã thực hiện chi trả đầy đủ, kịp thời theo tiến độ các khoản kinh phí đã bố trí trong dự toán NSNN năm 2014. Trong quý I, tổng số gạo dự trữ quốc gia đã xuất cứu trợ, hỗ trợ là 34.566 tấn (bao gồm cứu trợ cho nhân dân là 18.536 tấn, hỗ trợ cho học sinh bán trú là 16.028 tấn). Riêng trong tháng 3 đã xuất cứu trợ, hỗ trợ là 9.376 tấn.

Cũng tại buổi họp báo, đại diện lãnh đạo một đơn vị chức năng thuộc Bộ Tài chính đã trả lời một số vướng mắc của các cơ quan truyền thông xung quang các vấn đề về xác định giá trị DN trong tiến trình cổ phần hóa DNNN; tiến độ ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Quản lý thuế; Bội chi NSNN; Việc thanh tra giá sữa; Kiểm soát nợ công…

dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại thanh trì


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Xử lý ô tô, xe máy đã tạm nhập của đối tượng hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam



Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến về việc xử lý trường hợp đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ đã tạm nhập khẩu xe ô tô, xe hai bánh gắn máy trước ngày 1/11/2013.

Tại văn bản số 555/TTg-KTTH ngày 26/4/2014, xét đề nghị của Bộ Tài chính tại Công văn số 4056/BTC-TCHQ ngày 1/4/2014 về việc xử lý trường hợp đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam đã tạm nhập khẩu xe ô tô, xe hai bánh gắn máy trước ngày có hiệu lực thi hành của Quyết định 53/2013/QĐ-TTg ngày 13/9/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu, tiêu hủy, chuyển nhượng đối với xe ô tô, xe hai bánh gắn máy của đối tượng được quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến như sau:
Trung tâm kế toán thực hành Tại hải phòng
Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ đã tạm nhập khẩu ô tô là xe đã qua sử dụng trước ngày 1/11/2013 được chuyển nhượng xe này cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam trong trường hợp năm sản xuất của xe quá 5 năm tính từ năm sản xuất đến thời điểm chuyển nhượng.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thái bình
Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ đã nhập khẩu xe hai bánh gắn máy (gồm cả xe khi tạm nhập khẩu là xe chưa qua sử dụng và xe đã qua sử dụng) trước ngày 1/11/2013 được chuyển nhượng xe này cho các đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam.
Việc xử lý các xe ô tô, xe hai bánh gắn máy sau khi được chuyển nhượng trên thực hiện đúng theo quy định của Quyết định 53.
dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại gia lâm


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Tiếp tục hoàn thiện quy định về in và sử dụng hóa đơn



Sau hơn 2 năm triển khai, bên cạnh việc phát huy được tính ưu việt, Nghị định 51/2010/ NĐ-CP của Chính phủ về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cũng đã tồn tại một số bất cập cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn. Nghị định 04/2014/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 17/1/2014 đã giải quyết phần nào những bất cập, tồn tại đó, qua đó, nâng cao vai trò quản lý và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp (DN)…

Ngày 17/01/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định 04/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một điều của Nghị định số 51/2010/NĐ-CP.
Tính ưu việt được phát huy
Mục tiêu ban hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ của Chính phủ ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và phù hợp với các luật của Việt Nam như Luật DN, Luật Kế toán, Luật Giao dịch điện tử và việc cải cách các thủ tục hành chính. Đạo lý cơ bản của Nghị định này là giao quyền chủ động cho các DN trong việc in, phát hành và sử dụng hóa đơn, cơ quan thuế chỉ in và cấp cho các đối tượng là hộ gia đình và cá nhân kinh doanh; Đồng thời, nâng cao trách nhiệm cho cơ quan quản lý thuế địa phương trong việc in ấn, phát hành, quản lý và sử dụng hóa đơn.
Theo Tổng cục Thuế, sau 2 năm thực hiện, Nghị định 51/2010/NĐ-CP đã tạo bước đột phá trong công tác quản lý, sử dụng hóa đơn cũng như công tác cải cách thủ tục hành chính. Nghị định này đã tác động tới toàn xã hội, từ các tập đoàn, tổng công ty lớn, doanh nghiệp nhà nước (DNNN), công ty cổ phần, đến các hộ kinh doanh cá thể và công tác quản lý của cơ quan thuế. 
Điểm đột phá quan trọng nhất là “DN tự tạo hóa đơn để sử dụng dưới hình thức hóa đơn tự in, hóa đơn đặt in và hóa đơn điện tử…”. Đây là quy định rất quan trọng, chuyển đổi phương thức quản lý hóa đơn bán hàng đối với DN, tổ chức kinh tế và cơ quan thuế, từ đó nâng cao vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc chủ động in, quản lý và sử dụng hóa đơn bán hàng của chính đơn vị mình. Đặc biệt, việc tự in đã góp phần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí thời gian, góp phần làm cho chính sách quản lý hóa đơn trở nên minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế; tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh.
Tuy nhiên, theo đánh giá của cơ quan thuế, bên cạnh những kết quả tích cực, trong quá trình triển khai, một số vấn đề mới phát sinh, bất cập cần sửa đổi, bổ sung để hạn chế các hành vi gian lận hóa đơn, nhằm chiếm đoạt tiền thuế giá trị gia tăng (GTGT), làm giảm nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Theo đó, đã xuất hiện các đối tượng lợi dụng sự thông thoáng để thành lập nhiều “DN ma” thực tế không kinh doanh, nhưng tự tạo hóa đơn, xuất hóa đơn khống, sử dụng hóa đơn lòng vòng. Mặt khác, một số DN đã sử dụng hóa đơn đặt in của “DN ma” để lợi dụng chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT.

Những nội dung quan trọng của Nghị định 04/2014/NĐ-CP
Trước yêu cầu từ thực tiễn cần sửa đổi, bổ sung những bất cập trên, ngày 17/01/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định 04/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một điều của Nghị định số 51/2010/NĐ-CP. Việc ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan trực tiếp đến hoạt động của DN ngay từ những ngày đầu năm cho thấy việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cải cách hành chính nhằm hướng đến môi trường kinh doanh công bằng, hội nhập luôn được chú trọng. Theo đó, Nghị định 04/2014/NĐ-CP đã khắc phục những bất cập hiện hành, nhằm ngăn chặn gian lận, chiếm đoạt tiền thuế GTGT và làm giảm nghĩa vụ thuế TNDN, chống gian lận thương mại, đồng thời vẫn tạo thuận lợi cho DN trọng hoạt động sản xuất kinh doanh và thực hiện tốt nghĩa vụ với NSNN. Cụ thể:
Thứ nhất, về “đối tượng tự in hóa đơn”. Người kinh doanh là cá nhân không được tự in hóa đơn. Tổ chức tự in hóa đơn phải có văn bản đề nghị sử dụng hóa đơn tự in và được chấp thuận cơ quan thuế. Đồng thời, bổ sung nội dung quy định về việc giám sát, quản lý đối với các DN có dấu hiệu vi phạm về quản lý, sử dụng hóa đơn, DN có rủi ro và các cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ sử dụng máy tính tiền”.
Thứ hai, về “đặt in hóa đơn”. Không cho phép các đối tượng được đặt in hóa đơn, bao gồm: Hộ, cá nhân kinh doanh; Các DN có dấu hiệu vi phạm về quản lý, sử dụng hóa đơn, DN có rủi ro, DN đang sử dụng hóa đơn tự in, đặt in có hành vi vi phạm. Mặt khác, trước khi đặt in hóa đơn lần đầu, tổ chức có hoạt động kinh doanh, DN phải đăng ký sử dụng hóa đơn đặt in với cơ quan thuế và có văn bản chấp thuận của cơ quan thuế.
Thứ ba, về “bán hóa đơn của cơ quan thuế”. Những đối tượng không được tự in, đặt in hóa đơn sẽ chuyển sang mua hóa đơn của cơ quan thuế như: DN mới thành lập, DN có dấu hiệu vi phạm về quản lý, sử dụng hóa đơn, DN có rủi ro, DN đang sử dụng hóa đơn tự in, đặt in có hành vi vi phạm về hóa đơn dẫn đến thiếu thuế.
Thứ tư, quy định rõ điều kiện và trách nhiệm của tổ chức nhận in hóa đơn, tổ chức cung ứng phần mềm tự in hóa đơn nhằm tăng cường kiểm soát đơn vị cung ứng phần mềm tự in hóa đơn. Qua đó, nắm rõ được số lượng khách hàng được cung cấp phần mềm tự in hóa đơn.
Đặc biệt, Nghị định 04/2014/NĐ-CP đã giải quyết được những vấn đề liên quan trực tiếp. Đó là, tổ chức kinh doanh đáp ứng đủ các điều kiện tại Điều 6 và Điều 7, Nghị định 51/2010/NĐ-CP được tự in hóa đơn hoặc khởi tạo hóa đơn điện tử để sử dụng trong việc bán hàng hóa, dịch vụ; Tổ chức kinh doanh có mã số thuế nhưng không đủ điều kiện theo quy định trên phải đặt in hóa đơn để phục vụ cho hoạt động bán hàng hóa, dịch vụ của bản thân tổ chức; Cơ quan thuế cấp tỉnh, thành phố đặt in, phát hành hóa đơn để cấp, bán cho các tổ chức, cá nhân theo quy định tại Điều 10 Nghị định 51/2010/ NĐ-CP; DN đủ điều kiện theo quy định tại Điều 22 của Nghị định 51/2010/NĐ-CP được nhận in hóa đơn cho các tổ chức khác…
Ngoài ra, Nghị định quy định điều kiện và trách nhiệm của tổ chức nhận in hóa đơn, tổ chức cung ứng phần mềm tự in hóa đơn như sau:
Một là, tổ chức nhận in hóa đơn phải là DN có Giấy phép hoạt động ngành in và có trách nhiệm in hóa đơn theo đúng hợp đồng đã ký; Không được giao lại toàn bộ hoặc bất kỳ khâu nào trong quá trình in hóa đơn cho tổ chức in khác thực hiện; Quản lý, bảo quản và xử lý khuôn in, phôi in, hóa đơn đã in và các hóa đơn in hỏng theo thỏa thuận giữa hai bên và theo quy định của pháp luật…
Hai là, tổ chức cung ứng phần mềm tự in hóa đơn phải là DN có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (giấy chứng nhận đăng ký DN) trong đó có ngành nghề lập trình máy vi tính hoặc xuất bản phần mềm, trừ trường hợp tổ chức tự cung ứng phần mềm tự in hóa đơn để sử dụng và có trách nhiệm đảm bảo phần mềm tự in hóa đơn cung cấp cho một đơn vị tuân thủ đúng những quy định về tự in hóa đơn; Không cung cấp phần mềm in giả hóa đơn trùng với các mẫu trong phần mềm đã cung cấp cho DN khác. Định kỳ 3 tháng, báo cáo về việc cung cấp phần mềm tự in hóa đơn cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp.
Trung tâm kế toán thực hành Tại nam định
Để giúp các DN thuận lợi trong việc thực hiện các quy định của Nghị định, Bộ Tài chính đang gấp rút hoàn thiện Dự thảo Thông tư hướng dẫn Nghị định. Trong đó, sẽ tập trung các nội dung về điều kiện đối DN sử dụng hoá đơn: DN thành lập từ dự án đầu tư trên cơ sở quyết định đầu tư hoặc quyết định phê duyệt đầu tư từ cấp UBND tỉnh trở lên; Là DN ưu tiên được tự in, đặt in hoá đơn…
Đối với DN rủi ro cao, cơ quan Thuế thực hiện việc bán hoá đơn cho đơn vị và thực hiện yêu cầu báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn theo tháng, chế độ kiểm tra của cơ quan Thuế. Đồng thời, hướng dẫn, quy định rõ trách nhiệm của người kiểm tra, việc kiểm tra của cơ quan Thuế cấp trên đối với cơ quan Thuế cấp dưới trong việc giám sát việc sử dụng hóa đơn của DN. Theo đó, sẽ lập cơ sở dữ liệu về các DN bỏ trốn, DN sử dụng hoá đơn nhưng không có tờ khai thuế. DN khác sử dụng hoá đơn của những đối tượng này là sử dụng hoá đơn bất hợp pháp để kiểm tra đối chiếu.
Thông báo
Đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu được các chuyên gia phân tích, bình luận về những cơ chế, chính sách mới do Bộ Tài chính ban hành, đề nghị liên hệ với Tòa soạn Tạp chí Tài chính.

Liên hệ: Biên tập viên Đỗ Hải

Điện thoại: (04).39330036 – 0904 240 345

Email: dohaitc@gmail.com
dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại huyện thường tín


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Luật Doanh nghiệp sửa đổi: Tạo thuận lợi nhưng vẫn phải siết quản lý



Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) sắp được đưa ra Quốc hội tại kỳ họp tới đây, ngày 10/4, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đã tổ chức Hội thảo tham vấn ý kiến về Luật Doanh nghiệp trong đó có nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến các vấn đề đăng ký kinh doanh, quản lý doanh nghiệp.

Quy định tỷ lệ càng lớn sẽ hạn chế được sự độc đoán, chuyên quyền của các cổ đông lớn.
Thành lập doanh nghiệp, có nên dồn trách nhiệm cho hậu kiểm?
TS. Nguyễn Đình Cung, Quyền Viện trưởng CIEM, cho rằng một trong những nội dung quan trọng nhất trong sửa đổi Luật Doanh nghiệp lần này là việc đăng ký kinh doanh sẽ có thay đổi căn bản. Trước hết, sẽ áp dụng thống nhất các thủ tục của Luật Doanh nghiệp về thành lập doanh nghiệp, mua cổ phần, phần vốn góp đối với nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. 
Đồng thời, sẽ tách biệt việc đăng ký thành lập doanh nghiệp và việc xin giấy phép đăng ký kinh doanh đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo hướng bãi bỏ các yêu cầu về điều kiện kinh doanh tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp, chẳng hạn yêu cầu về chứng chỉ hành nghề, xác nhận vốn pháp định… Doanh nghiệp sẽ thực sự được làm những gì pháp luật không cấm, thay vì chỉ được làm những gì đã đăng ký. Điều đó cũng có nghĩa là trên giấy đăng ký kinh doanh, sẽ không còn danh mục ngành nghề đăng ký kinh doanh như vẫn thấy lâu nay.
Cụ thể, theo Ths. Phan Đức Hiếu, Phó trưởng Ban Môi trường Kinh doanh và Năng lực cạnh tranh CIEM, Luật Doanh nghiệp mới sẽ tiếp tục thuận lợi hóa thủ tục đăng ký kinh doanh thông qua việc áp dụng thống nhất các thủ tục của Luật Doanh nghiệp về thành lập doanh nghiệp, mua cổ phần, phần vốn góp đối với nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. 
Theo đó, sẽ tách biệt việc đăng ký thành lập doanh nghiệp và việc xin giấy phép kinh doanh đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo hướng bãi bỏ các yêu cầu về điều kiện kinh doanh tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp như yêu cầu về chứng chỉ hành nghề, xác nhận vốn pháp định. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sẽ không ghi ngành nghề, trừ ngành nghề kinh doanh có điều kiện, nghĩa là doanh nghiệp có quyền kinh doanh mọi ngành nghề pháp luật không cấm thay vì chỉ được kinh doanh những gì đã đăng ký.
Luật sư Đinh Nhật Quang, Văn phòng Luật sư Leadco, ủng hộ nhiều điểm cải tiến trong Luật Doanh nghiệp sửa đổi. Cụ thể, hiện tại Thủ tục đăng ký doanh nghiệp được cải cách nhiều nhất nhưng theo xếp hạng của quốc tế, thủ tục gia nhập thị trường của Việt Nam vẫn còn khó, thời gian làm thủ tục vẫn mất 34 ngày. Việc áp dụng mô hình một cửa về đăng ký doanh nghiệp với thuế, lao động, bảo hiểm xã hội sẽ giảm được 5 thủ tục trong số 9 thủ tục đăng ký còn lại. Đây thực sự là thay đổi tương đối lớn so với hiện nay.
Tuy nhiên, khi phản biện về vấn đề thành lập doanh nghiệp, Luật sư Quang cho rằng không nên tách bạch giữa thành lập doanh nghiệp và giấy phép kinh doanh theo hướng bãi bỏ các yêu cầu về điều kiện kinh doanh tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp như chứng chỉ hành nghề, vốn pháp định… Luật sư Quang phân tích sẽ có nhiều doanh nghiệp sau khi đăng ký thành lập sẽ tiến hành hoạt động mà không chờ hoàn tất các điều kiện kinh doanh, gây khó khăn cho cơ quan Nhà nước trong việc kiểm tra tuân thủ, và gây ra các tác động xấu tới xã hội.
Luật sư Quang cho rằng, thực tế, các điều kiện kinh doanh sẽ là cái sàng lọc các nhà đầu tư, để loại bỏ các nhà đầu tư thiếu năng lực khi tiến hành công việc kinh doanh trong các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện. Việc gắn kết giữa thành lập doanh nghiệp và điều kiện kinh doanh không gây khó khăn và tốn kém không cần thiết cho nhà đầu tư có năng lực, ngược lại, các điều kiện kinh doanh là rào cản giúp các nhà đầu tư chưa đủ năng lực tiết kiệm chi phí, ít nhất là chi phí đăng ký doanh nghiệp, chi phí duy trì doanh nghiệp sau đăng ký, thuế môn bài, chi phí giải thể… Điều này còn giúp các cơ quan Nhà nước không phải “hậu kiểm” đối với các nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
Theo ông Quang, có thể điều chỉnh thay vì hệ thống mã ngành nghề kinh tế, các giấy phép con hiện nay, cơ quan chức năng sẽ ban hành hệ thống mã ngành nghề kinh doanh có điều kiện và sẽ được cập nhật, sửa đổi thường xuyên để phù hợp với môi trường kinh doanh trong từng giai đoạn cụ thể.
Việc ban hành hệ thống mã ngành nghề kinh doanh có điều kiện là rất quan trọng. Hệ thống này sẽ giúp các cơ quan quản lý Nhà nước và nhà đầu tư tránh được rủi ro và sai lầm đáng tiếc trong việc đăng ký kinh doanh, ví dụ như trường hợp của nhà đầu tư Nguyễn Đình Nguyên đã được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh cấp giấy đăng ký kinh doanh nuôi gián đất, nhưng sau đó Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn lại yêu cầu xử lý nghiêm việc tự ý nuôi gián đất. 
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng
Vụ việc nhỏ trên đã chỉ rõ sự thiếu sự thống nhất giữa các cơ quan quản lý Nhà nước mà nhà đầu tư đã phải chịu rủi ro thiệt hại mặc dù việc tiến hành đăng ký kinh doanh theo đúng thủ tục. Một vấn đề nữa đặt ra qua vụ việc này là đối với các điều kiện dành cho ngành nghề kinh doanh có điều kiện, cần phải được nhất thể hóa trong một văn bản do Chính phủ ban hành đề cho nhà đầu tư tiện tham chiếu.
Quyền lợi cổ đông thiểu số
Theo Luật gia Cao Bá Khoát, Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn doanh nghiệp K và Cộng sự, việc dự thảo quy định tỷ lệ biểu quyết để Nghị quyết (65%), Quyết định (51%) được thông qua đối với một số nội dung nghĩa là giảm tỷ lệ biểu quyết so với Luật Doanh nghiệp năm 2005, đã không thể hiện được mục đích bảo vệ cổ đông nhỏ trước cổ đông lớn. Như vậy, chỉ cần một phiếu biểu quyết của cổ đông lớn đã quyết định được việc thông qua hay không thông qua được Quyết định của Đại hội đồng cổ đông và rõ ràng việc giảm tỷ lệ như vậy đã không bảo vệ được cổ đông thiểu số. Do đó, quy định tỷ lệ càng lớn sẽ hạn chế được sự độc đoán, chuyên quyền của các cổ đông lớn, bảo vệ quyền và lợi ích cho các cổ đông thiểu số.
Thực tế có trường hợp một cổ đông sở hữu 15,5% cổ phần hoàn toàn ngăn cản được việc thông qua Quyết định của Đại hội đồng cổ đông vì điều lệ quy định Quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua nếu được 85% cổ phần có quyền biểu quyết chấp nhận. Việc cân nhắc để đưa ra một tỷ lệ hợp lý bảo vệ hài hòa quyền và lợi ích cho tất cả các cổ đông công ty là vô cùng cần thiết.
Trung tâm kế toán thực hành Tại thái bình
Luật gia Cao Bá Khoát cho hay: Khoản 2 Điều 136 Dự thảo vẫn giữ quan điểm như Khoản 2 Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: Thành viên Hội đồng quản trị có thể bị miễn nhiệm bất cứ lúc nào theo Quyết định của Đại hội đồng cổ đông. Quy định này của dự thảo chưa hợp lý vì, theo quy định này, thành viên HĐQT và thành viên Ban kiểm soát có thể bãi miễn bất cứ lúc nào theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông nên không cần phải có điều kiện bãi miễn nào, thành viên HĐQT vẫn bị bãi miễn.
Vấn đề là chúng ta bàn là tính hợp lý của việc bãi miễn thành viên HĐQT. Rõ ràng quy tắc bầu dồn phiếu quy định tại Khoản 3 Điều 123 Dự thảo có mục đích là đảm bảo cổ đông thiểu số cũng có thể cử người của mình tham gia HĐQT nhằm làm cho quản trị điều hành được minh bạch. Nhưng chính quy định về bãi miễn thành viên HĐQT vô tình đã làm vô hiệu hóa ý nghĩa trên của bầu dồn phiếu. Có thể xảy ra trường hợp nhóm cổ đông lớn hơn dần độc chiếm quyền quản lý điều hành.
Cần sửa đổi Khoản 2 Điều 136 theo hướng bảo vệ cổ đông thiểu số, việc bãi miễn thành viên HĐQT phải có cơ sở điều kiện và lý do rõ ràng, tránh tình trạng bãi miễn tùy tiện.
Để có hành lang pháp lý hoàn chỉnh để bảo vệ cổ đông thiểu số trong nội bộ doanh nghiệp, cần xây dựng cơ chế bảo vệ bằng cách tăng cường trách nhiệm giám sát doanh nghiệp của cơ quan Nhà nước như Tòa án, Phòng đăng ký kinh doanh, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI).
dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại ba đình


Read More Add your Comment 0 nhận xét


Tránh thất thu, phát sinh nợ đọng từ tham vấn giá



Trong cuộc họp về công tác đốc thu của Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh vào tuần qua, lãnh đạo Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh đã lưu ý các đơn vị một số điểm mới trong Thông tư 29, tránh để thất thu, phát sinh nợ đọng.

Hải quan cảng sài Gòn KV4 kiểm tra sữa nhập khẩu.
Theo Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh, Thông tư số 29/2014/TT-BTC ngày 26/02/2014 của Bộ Tài chính (sửa đổi, bổ sung Thông tư 205/2010/TT-BTC) có hiệu lực ngày 12/4/2014, có nhiều điểm mới trong công tác tham vấn giá.
Phó phòng Thuế XNK – Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Quốc Toản cho biết, nội dung mới trong Thông tư 29 quy định: trong khâu thông quan, cơ quan Hải quan chỉ tổ chức tham vấn khi có nghi vấn đối với 2 đối tượng doanh nghiệp theo quy định tại Điều 18 Thông tư số 175/2013/TT-BTC đó là: Doanh nghiệp rủi ro rất cao và doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu dưới 365 ngày.
Như vậy, theo quy định trên, công tác tham vấn giá tại khâu thông quan sẽ giảm đi nhiều so với quy định hiện hành. Các dấu hiệu nghi vấn sẽ được chuyển cho công tác kiểm tra sau thông quan. 
Ngoài 2 đối tượng doanh nghiệp nêu trên: 5 đối tượng doanh nghiệp còn lại theo quy định tại Thông tư số 175/2013/TT-BTC nếu đã nộp đủ thuế theo khai báo sẽ được chi cục hải quan cửa khẩu thông quan giải phóng hàng, kể cả mức giá khai báo có dấu hiệu nghi vấn thấp hơn cơ sở dữ liệu của cơ quan Hải quan.
Đặc biệt, trong trường hợp này, các đối tượng doanh nghiệp này không cần đặt khoản bảo đảm, hồ sơ nghi vấn sẽ được Chi cục Hải quan cửa khẩu chuyển cho Chi cục Kiểm tra sau thông quan kiểm tra, xử lý theo quy định (trong thời hạn 60 ngày từ ngày đăng ký tờ khai).
Trung tâm kế toán thực hành Tại nam định
Với quy định nêu trên sẽ tạo thuận lợi rất nhiều cho doanh nghiệp trong khâu thông quan hàng hóa, công tác chống thất thu từ các dấu hiệu nghi vấn trong khâu thông quan sẽ được chuyển cho công tác hậu kiểm. 
Theo Thông tư số 175/2013/TT-BTC ngày 29/11/2013 của Bộ Tài chính (có hiệu lực từ ngày 15/01/2014) áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan, quy định xếp hạng 7 đối tượng doanh nghiệp: Hạng 1 – Doanh nghiệp ưu tiên; Hạng 2 – Doanh nghiệp rủi ro rất thấp; Hạng 3 – Doanh nghiệp rủi ro thấp; Hạng 4 – Doanh nghiệp rủi ro trung bình; Hạng 5 – Doanh nghiệp rủi ro cao; Hạng 6 – Doanh nghiệp rủi ro rất cao và Hạng 7 – Doanh nghiệp hoạt động XNK dưới 365 ngày.
Theo quy định tại Thông tư 29, Chi cục Kiểm tra sau thông quan thực hiện kiểm tra tại trụ sở hải quan hoặc trụ sở doanh nghiệp đối với 5 đối tượng nêu trên khi chi cục hải quan cửa khẩu xác định có dấu hiệu nghi vấn (giá thấp hơn Danh mục quản lý rủi ro).
Khi Chi cục Kiểm tra sau thông quan kết luận bác bỏ mức giá khai báo, điều chỉnh giá tính thuế cũng có nghĩa thuế sẽ phát sinh, Chi cục Kiểm tra sau thông quan chuyển kết luận cho chi cục hải quan cửa khẩu ra quyết định ấn định thuế bỏ sung và tính phạt chậm nộp theo Luật Quản lý thuế sau khi doanh nghiệp khai báo thuế bổ sung.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức
Do tại khâu thông quan doanh nghiệp không đặt khoản bảo đảm nên chi cục hải quan cửa khẩu phải tổ chức thu hồi số thuế phát sinh theo kết luật kiểm tra sau thông quan. Theo ý kiến của đại diện một số chi cục hải quan cửa khẩu, quy định này tạo thuận lợi cho hoạt động XNK của doanh nghiệp, tuy nhiên, nếu khi bị truy thu thuế không có sự hợp tác của doanh nghiệp rất dẽ phát sinh nợ thuế do doanh nghiệp chây ỳ không thực hiện.
Để thực hiện hiệu quả Thông tư 29, lãnh đạo Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh đã chỉ đạo các chi cục chủ động nghiên cứu, đề xuất biện pháp xử lý những vướng mắc, phát sinh có thể xảy ra khi thực hiện chính thức Thông tư này.
dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại huyện thường tín


Read More Add your Comment 0 nhận xét